1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tập nhóm công pháp quốc tế về nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác

13 51 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 50,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA LUẬT – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIBÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ ĐỀ TÀI: NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VỀ CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC QUỐC GIA VÀ NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ

Trang 1

KHOA LUẬT – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

ĐỀ TÀI:

NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VỀ CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC QUỐC GIA

VÀ NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ

CỦA QUỐC GIA KHÁC

Mã lớp học phần: INL 2101 Giảng viên: TS Đào Thị Thu Hường Nhóm thực hiện:

Hà Nội, tháng 3 năm 2022

Trang 2

1 NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VỀ CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC QUỐC GIA

Đây là nguyên tắc được đặt ở vị trí đầu tiên trong số các nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 2 của Hiến chương Liên hợp quốc: “Liên hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả hội viên” Nguyên tắc này là xuất phát điểm của toàn bộ hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Ngoài Hiến chương Liên hợp quốc, nguyên tắc này còn được đề cập một cách đầy đủ trong Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24/10/1970 và một số văn bản pháp lý quốc tế khác

1.1 Cơ sở pháp lý

Khi soạn thảo và xây dựng Hiến chương Liên hợp quốc, với tôn chỉ và mục đích giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới, nguyên tắc này đã được ghi nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế và được đặt ở vị trí đầu tiên trong số các nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc: “Liên Hiệp Quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các thành viên”, nguyên tắc ấy đã xuất hiện từ sớm trong đời sống quốc tế.

Hình thành trong giai đoạn loài người chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa Như những nguyên tắc khác, nguyên tắc này chỉ dùng để điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia nhất định: bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

“văn minh”, nhưng trên thực tế, giai cấp tư sản không hề tôn trọng nguyên tắc này (rất nhiều cuộc chiến tranh đã liên tiếp nổ ra) Cho đến sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, quan niệm về chủ quyền và bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia đã có

sự thay đổi căn bản

Lịch sử hình thành Liên hợp quốc cũng cho thấy vai trò đặc biệt này Tại Hội nghị Mat-xcơ-va năm 1943, lần đầu tiên các quốc gia đồng minh phát thảo ra các nguyên tắc

cơ bản cho một tổ chức quốc tế mới sẽ được thành lập sau khi kết thúc chiến tranh

Tuyên bố chung sau Hội nghị của Mỹ, Anh, Liên Xô và Trung Quốc ghi nhận “sự cần thiết thành lập một tổ chức quốc tế chung nhanh nhất có thể, dựa trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia yêu chuộng hòa bình, và mở cho tất cả các quốc gia như thế gia nhập, dù là nước lớn hay nhỏ, nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.” Đại hội đồng Liên hợp quốc một lần nữa khẳng định bình đảng về chủ quyền

giữa các quốc gia là một trong bảy nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và được ghi

nhận một cách đầy đủ nội dung pháp lý trong Tuyên bố ngày 24/10/1970 Ngoài ra, các

Trang 3

điều ước thành lập tổ chức quốc tế khác cũng ghi nhận nguyên tắc tương tự: Điều

10 Hiến chương Tổ chức Liên Mỹ, Điều III.1 Hiến chương Tổ chức Liên minh châu Phi, Điều 2 và Điều 5 Hiến chương ASEAN.

1.2 Nội dung nguyên tắc

Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế trong của Đại hội đồng Liên

hợp quốc được xem như một văn bản “giải thích có giá trị” (authoritative interpretation) của Hiến chương, đã giải thích rõ ràng nội hàm của nguyên tắc này Nội

hàm chính của nguyên tắc này là:

“Tất cả các Quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền Các Quốc gia bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, và là thành viên bình đẳng của cộng đồng quốc tế, bất kể khác biệt

về kinh tế, xã hội, chính trị hay các khác biệt khác.”

Nói cách khác, nguyên tắc này cấu thành từ hai bộ phận: Chủ quyền và Bình đẳng Mọi quốc gia đều có chủ quyền và chủ quyền đó là bình đẳng với nhau

Chủ quyền là thuộc tính chính trị - pháp lý không thể tách rời của một quốc gia,

bao gồm hai nội dung cơ bản là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế

Bình đẳng là một trong hai bộ phận cấu thành không thể tách rời của nguyên tắc.

Để được bình đẳng, quốc gia phải có chủ quyền; và để tồn tại chủ quyền, các quốc gia phải được bình đẳng Luật quốc tế là luật của những quốc gia bình quyền (Jus interpares) Không ai có thể phủ nhận thực tế bất bình đẳng giữa các quốc gia, nhưng

sự bình đẳng thể hiện ở chỗ các quốc gia có địa vị pháp lý ngang nhau trong quan hệ quốc tế, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ khi tham gia vào các lĩnh vực của đời sống quốc tế

Bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia là nền tảng của quan hệ quốc tế Chủ quyền của mọi quốc gia đều bình đẳng trước luật pháp quốc tế, bất kể sự khác biệt về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, hay điều kiện tự nhiên

Tuyên bố năm 1970 còn giải thích cụ thể hơn nội hàm chi tiết của bình đẳng, như sau:

a Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý;

b Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ;

c Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác;

d Sự toàn vẹn lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch;

Trang 4

e Mối quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh

tế và văn hóa của mình;

f Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế của mình và tồn tại hòa bình cùng các quốc gia khác

Theo nguyên tắc này, mỗi quốc gia đều có các quyền chủ quyền bình đẳng sau:

a Được tôn trọng về quốc thể, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ về chính trị, kinh

tế, xã hội và văn hóa;

b Được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình;

c Được tham gia các tổ chức quốc tế, hội nghị quốc tế với các lá phiếu có giá trị ngang nhau;

d Được ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan;

e Được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốc gia khác;

f Được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi, miễn trừ và gánh vác các nghĩa vụ như các quốc gia khác.

1.3 Ngoại lệ của nguyên tắc

Về nguyên tắc, các quốc gia có chủ quyền bình đẳng nhưng trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các chủ thể Luật quốc tế đã thừa nhận một số trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc này:

Trường hợp các quốc gia tự hạn chế chủ quyền của mình

Hành động này xuất phát từ ý chí của quốc gia, chủ quyền của quốc gia là do quốc gia tự định đoạt, do đó hành vi này không vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia

Về mặt pháp lý, các quốc gia có thể thông qua việc ký kết điều ước quốc tế, hình thành tập quán khu vực hay đưa ra cam kết đơn phương thông qua hành vi pháp lý đơn phương của mình Nhưng một số quốc gia đồng ý tự nguyện từ bỏ vị thế bình đẳng pháp lý, khi đó sẽ tạo ra bất bình đẳng Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng sự bất bình đẳng đó là tự nguyện và dựa vào chính sự đồng ý (consent) của các quốc gia

Ví dụ, khi phê chuẩn Hiến chương Liên hợp quốc, các quốc gia thành viên, bao gồm

Việt Nam, đã tự nguyện chấp nhận sự bất bình đẳng giữa 05 ủy viên thường trực Hội đồng bảo an và các quốc gia thành viên còn lại Anh, Mỹ, Pháp, Nga và Trung Quốc luôn có mặt trong Hội đồng bảo an; trong khi 09 ủy viên không thường trực sẽ được

Trang 5

bầu theo nhiệm kỳ 02 năm và thậm chí không được đảm nhận vị trí ủy viên hai nhiệm

kỳ liên tục Năm ủy viên thường trực còn có quyền phủ quyết (veto) tất cả các dự thảo quyết định của Hội đồng bảo an Sự bất bình đẳng thể hiện rất rõ nét, nhưng là sự bất bình đẳng dựa trên sự đồng ý tự nguyện của 188 quốc gia còn lại Các quốc gia hoàn toàn có thể không phê chuẩn Hiến chương Liên hợp quốc, hoặc tự tạo ra một tổ chức bình đẳng hơn Tại Hội đồng bảo an, các quốc gia đã tự mình từ bỏ vị thế bình đẳng pháp lý của mình

Một điểm đặc biệt lưu ý là nguyên tắc bình đẳng chủ quyền chỉ bảo đảm cho các quốc gia sự bình đẳng về mặt pháp lý Cần phân biệt rõ để tránh có so sánh khập khiễn giữa bình đẳng pháp lý và sự bất bình đẳng trên thực tế về mặt chính trị, kinh tế hay xã hội

Trường hợp các quốc gia bị hạn chế chủ quyền

Trường hợp này chỉ đặt ra đối với các chủ thể có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế, và việc bị hạn chế chủ quyền là một biện pháp trừng phạt từ phía cộng đồng quốc tế đối với quốc gia vi phạm

Ví dụ, Irắc tấn công Cô-oét năm 1990 là một hành vi vi phạm các nguyên tắc cơ bản

của luật quốc tế Do đó, Hội đồng bảo an đã tiến hành áp dụng một loạt các biện pháp cấm vận về kinh tế đối với Irắc

2 NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA QUỐC GIA KHÁC

Cần xác định công việc nội bộ của quốc gia là tất cả những vấn đề thuộc thẩm quyền của quốc gia trên cơ sở chủ quyền, ngoại trừ những nghĩa vụ quốc tế mà quốc gia đã cam kết.

2.1 Cơ sở pháp lý

Nguyên tắc này hình thành trong thời kỳ cách mạng tư sản cuối thế kỷ XVIII, với mầm mống là quy định trong bản Hiến pháp của Nhà nước tư sản Pháp năm 1793:

“Nhân dân Pháp không can thiệp vào công việc nội bộ của các dân tộc khác, đồng thời cũng không cam chịu để các dân tộc khác can thiệp vào công việc nội bộ của mình”

Trang 6

Là một điều ước quốc tế đa phương toàn cầu, Hiến chương Liên hợp quốc lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã ghi nhận “không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác” là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại, tuy nhiên Hiến chương chưa quy định đầy đủ về nội dung của nó Năm 1970, bằng Nghị quyết số 2625 (XXV), Liên hợp quốc thông qua Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợp tác của các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, trong đó nêu rõ việc cấm các hoạt động được coi là can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của mỗi quốc gia

2.2 Nội dung nguyên tắc

2.2.1 Khái niệm công việc nội bộ của mỗi quốc gia

Công việc nội bộ của quốc gia là công việc nằm trong thẩm quyền giải quyết của mỗi quốc gia độc lập xuất phát từ chủ quyền của mình Đó là quyền tối cao của quốc gia trong lãnh thổ và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế

Công việc nội bộ của quốc gia bao gồm cả công việc đối nội và đối ngoại Về đối nội, mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn, xây dựng và phát triển chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp ý chí và nguyện vọng của nhân dân Trong lãnh thổ của mình, quốc gia có quyền tối thượng trong việc thiết lập và thực thi quyền lực bằng các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có sự can thiệp bất kỳ từ quốc gia khác nhưng phải phù hợp với các nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tế

Trong quan hệ quốc tế, quốc gia có quyền độc lập thiết lập mối quan hệ với bất kỳ quốc gia nào, có quyền tham gia vào các tổ chức quốc tế khu vực và toàn cầu, có quyền tham gia ký kết hoặc không tham gia vào các điều ước quốc tế

2.2.2 Khái niệm “can thiệp”

Có hai dạng hành vi can thiệp là can thiệp trực tiếp và can thiệp gián tiếp

Can thiệp trực tiếp là việc một (hoặc một nhóm) quốc gia dùng áp lực quân sự, kinh

tế, chính trị… và các biện pháp khác khống chế quốc gia khác trong việc thực hiện các quyền thuộc về chủ quyền nhằm ép buộc quốc gia đó phụ thuộc vào mình Sự can thiệp

có thể thông qua hình thức vũ trang, đe dọa sử dụng vũ trang hoặc bất kỳ hình thức can thiệp nào khác nhằm mục đích xâm phạm vào công việc nội bộ của quốc gia

Trang 7

Can thiệp gián tiếp là các biện pháp quân sự, kinh tế, tài chính… do quốc gia tổ chức, khuyến khích, giúp đỡ các phần tử phá hoại hoặc khủng bố nhằm lật đổ chính quyền hợp pháp của quốc gia khác hoặc gây mất ổn định cho tình hình chính trị, kinh

tế, xã hội của nước này

2.2.3 Nội dung cơ bản của nguyên tắc

Nội dung của nguyên tắc này bao gồm:

a Cấm can thiệp vũ trang và các hình thức can thiệp hoặc đe dọa can thiệp khác nhau nhằm chống lại quyền năng chủ thể hoặc nền tảng chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia;

b Cấm sử dụng các biện pháp kinh tế, chính trị,…để buộc quốc gia khác phụ thuộc vào mình;

c Cấm tổ chức, khuyến khích, giúp đỡ các băng đảng, nhóm vũ trang vào hoạt động phá hoại, khủng bố trên lãnh thổ nước khác nhằm lật đổ chính quyền của nước đó;

d Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ của quốc gia khác;

e Tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự do lựa chọn cho mình hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà không có sự can thiệp từ phía các quốc gia khác

2.3 Ngoại lệ của nguyên tắc

Về nguyên tắc, can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia là vi phạm luật quốc tế trừ các trường hợp sau:

Thứ nhất, khi có xung đột vũ trang nội bộ ở quốc gia đã đến mức độ nghiêm trọng

và có thể gây ra mất ổn định trong khu vực, đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế thì cộng đồng quốc tế - thông qua Hội đồng bảo an Liên hợp quốc – được quyền can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào cuộc xung đột này nguyên tắc cấm can thiệp công việc nội

bộ quốc gia khác

Thứ hai, Liên hợp quốc được quyền can thiệp vào quốc gia nào đó có sự vi phạm

nghiêm trọng các quyền cơ bản của con người như phân biệt chủng tộc, diệt chủng hoặc vi phạm các nghĩa vụ pháp lý quốc tế quan trọng khác đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế

Như vậy, chỉ duy nhất một thực thể được quyền can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia là Liên hợp quốc, cụ thể là Hội đồng bảo an Bất kỳ sự can thiệp của

Trang 8

một liên minh quân sự, tổ chức quốc tế hay một quốc gia nào cũng đều là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế

Vấn đề “can thiệp nhân đạo”

Mục đích: Can thiệp nhân đạo là hoạt động sử dụng vũ lực vào một quốc gia khác không có sự đồng ý của quốc gia đó, có hoặc không có sự cho phép của Hội đồng bảo

an, vì mục đích nhân đạo hoặc nhằm đẩy lùi những vi phạm thô bạo luật nhân đạo hoặc luật nhân quyền quốc tế Mục đích nhân đạo là cơ sở tồn tại và cơ sở pháp lý cho

hoạt động can thiệp nhân đạo Sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người là căn cứ để thực hiện can thiệp nhân đạo

Theo các luật gia, khái niệm “can thiệp nhân đạo” có thể bao hàm hai nội dung khác nhau

Thứ nhất, khái niệm này chỉ hành động vũ trang đơn phương do các nước thực hiện

nhằm bảo vệ kiều dân của mình và nhân đó, bảo vệ kiều dân của các nước thứ ba Các hành động can thiệp loại này, có thể diễn ra theo yêu cầu hoặc với sự đồng ý của quốc gia nơi diễn ra hoạt động can thiệp Can thiệp cũng có thể tiến hành mà không có sự đồng ý của quốc gia có liên quan

Thứ hai, khái niệm “can thiệp nhân đạo” có thể được dùng để chỉ hoạt động do

một nước tiến hành ở một nước khác nhằm chấm dứt những vi phạm luật nhân đạo ở nước đó, dù nạn nhân có là công dân của nước mình hay không Sự can thiệp này không nhất thiết phải được chính phủ hợp pháp của nước sở tại cho phép Các can thiệp dạng này thường được thực hiện trong những cuộc nội chiến, khi mà chính phủ hợp pháp không thể thực thi quyền lực của mình trên toàn bộ lãnh thổ

Về nguyên tắc, giải pháp sử dụng vũ lực có thể được chấp nhận khi tiến hành can thiệp nhân đạo nhưng phải tuân thủ các điều kiện sau:

(i) Các biện pháp phi vũ lực phải được thực hiện triệt để trước tiên;

(ii) Việc sử dụng vũ lực phải dựa trên sự tương xứng cần thiết đối với mục đích cần thực hiện.

3 VẬN DỤNG VÀO VỤ KIỆN MỸ - NICARAGUA

3.1. Các biện pháp kinh tế Mỹ áp dụng với Nicaragua

- Năm 1914, Hoa Kỳ và Nicaragua đã ký Hiệp ước Bryan Chamorro, trao cho Hoa Kỳ quyền xây dựng một kênh đào xuyên đại dương qua lãnh thổ Nicaragua bằng sông San

Trang 9

Juan do Mỹ vận hành bắt đầu đưa vào sử dụng, từ đó ngăn không cho bất kỳ ai xây dựng một kênh đào cạnh tranh tại Nicaragua mà không có sự cho phép của Mỹ

- Mỹ đã cắt viện trợ kinh tế từ năm 1981 và thực hiện phong toả kinh tế từ ngày 01/05/1985 Có thể nói đây là hành động cấm vận thương mại đột ngột, hành động này

đã bãi miễn mục tiêu và mục đích của Hiệp định hữu nghị, thương mại và hàng hải giữa Mỹ và Nicaragua, vi phạm điều XIX của Hiệp định hữu nghị, thương mại và hàng hải giữa hai nước

 Các biện pháp kinh tế chống lại Nicaragua của Mỹ nhằm khống chế, ép buộc Nicaragua phải phụ thuộc về mình Đây là can thiệp gián tiếp

 Sự vi phạm này đã được khẳng định bằng phán quyết của ICJ

3.2 Các hỗ trợ của Mỹ với các lực lượng quân sự đối lập (contras)

Ngày 09/04/1984, Nicaragua gửi đơn đến Tòa khởi kiện Mỹ về vụ tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của Mỹ trong việc tiến hành các hoạt động quân sự và bán quân

sự tại Nicaragua và chống lại Nicaragua, đồng thời Nicaragua cũng yêu cầu chỉ ra các biện pháp bảo đảm cần thiết.

- Thuật ngữ contras là một danh từ chung dành cho hàng loạt nhóm vũ trang cánh hữu chống cộng được Hoa Kỳ hỗ trợ tài chính và vũ khí, hoạt động từ năm 1979 đến đầu thập niên 1990

- Nicaragua đã đưa ra các bằng chứng để buộc tội Mỹ đã thành lập, tổ chức lực lượng đánh thuê contras để chống lại Nicaragua

- Can thiệp quân sự đầu tiên của Hoa Kỳ tại Nicaragua diễn ra dưới thời Tổng thống Taft Năm 1909, ông ra lệnh lật đổ Tổng thống Nicaragua José Santos Zelaya

- Năm 1912, một đội quân gồm 2.300 lính hải quân Mỹ đổ bộ vào cảng Corinto và chiếm giữ thành phố nằm phía tây Nicaragua - León và đường ray đi đến thành phố Granada

- Khi Ronald Reagan lên chức tổng thống, ông gia tăng hỗ trợ cho các nhóm chống Sandino, gọi là Contras, bao gồm những phe phái trung thành với chế độ độc tài trước đó

- Quốc hội và đa số công chúng Hoa Kỳ đã không ủng hộ nỗ lực của chính quyền Reagan để lật đổ chính phủ Sandinista ở Nicaragua Reagan đã bắt đầu một “cuộc chiến bí mật” để hạ bệ chính phủ Nicaragua ngay sau khi nhậm chức vào năm 1981 Hàng triệu đô la, các khóa đào tạo và vũ khí đã được chuyển đến Contras

Trang 10

- Từ giai đoạn ban đầu, các nhóm nổi loạn nhận được hỗ trợ tài chính và quân

sự từ Chính phủ Hoa Kỳ, và quyền lực quân sự của các nhóm này phụ thuộc vào sự hỗ trợ này

- Sau khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua việc cấm hỗ trợ: Quốc hội đã cắt giảm viện trợ của Hoa Kỳ cho Contras.

- CIA viện trợ cho Contras chống Sandinista ở Nicaragua, Chính quyền của Tổng thống Reagan vẫn tiếp tục âm thầm hỗ trợ Contras thông qua các biện pháp bất hợp pháp (một hậu quả là vụ bê bối Iran-Contras)

- Reagan đã tiến hành một chiến dịch truyền thông gây áp lực để thuyết phục người dân

và Quốc hội Hoa Kỳ rằng Contras xứng đáng nhận được sự trợ giúp và đã thuyết phục thành công Quốc hội đưa ra khoản viện trợ 100 triệu đô la

- Quốc hội bắt đầu một cuộc điều tra về sự hỗ trợ bí mật và bất hợp pháp của chính quyền Reagan Cuộc điều tra đã phát hiện ra một kế hoạch mà theo đó một số ngân sách thu được từ việc bán vũ khí bất hợp pháp của Hoa Kỳ cho Iran đã được chuyển cho Contras

- Trong cuộc chiến chống lại Chính phủ Nicaragua, lực lượng contras đã có hàng loạt hành động vi phạm nhân quyền và sử dụng các chiến thuật khủng bố, thực hiện hơn 1300 cuộc tấn công khủng bố Các hoạt động trên được thực hiện một cách có hệ thống theo chiến lược của lực lượng này

- Mỹ ủng hộ các hành động quân sự và bán quân sự của lực lượng contras tại Nicaragua dưới dạng trợ giúp tài chính, huấn luyện, cung cấp vũ khí, tin tức và hậu cần

là can thiệp vào công việc nội bộ của Nicaragua là vi phạm nguyên tắc không can thiệp Đây là sự can thiệp gián tiếp và sự vi phạm này đã được thể hiện trong phán

quyết của ICJ: Mỹ đã đào tạo, vũ trang, cung cấp tài chính và nhu yếu phẩm cho lực lượng contras và hỗ trợ các hoạt động quân sự và bán quân sự chống lại Nicaragua,

và vi phạm nghĩa vụ theo công pháp quốc tế trong việc không được can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.

- Trợ giúp lực lượng contras: Nicaragua đã đưa ra các bằng chứng để buộc tội Mỹ đã thành lập, tổ chức lực lượng đánh thuê contras để chống lại Nicaragua Tòa đã không đưa ra kết luật Mỹ thành lập lực lượng đánh thuê contras, nhưng thừa nhận việc Mỹ

có giúp đỡ về tài chính và tổ chức cho một trong những lực lượng này là tổ chức FDN (mặt trận dân tộc Nicaragua) Tòa không cho rằng có một sự phụ thuộc hoàn toàn của lực lượng contras vào chính quyền Mỹ Việc một cơ quan của Mỹ tham dự vào việc

Ngày đăng: 17/03/2022, 09:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Website: https://iuscogens-vie.org/2018/09/02/95/?fbclid=IwAR2u2iYjO-rSwK_lCE40gPW-_BYgFP8URxGs0QaCo9TIApGGy8VKzGGPRhE Link
3. Website: https://iuscogens-vie.org/2018/09/16/97/?fbclid=IwAR37W9YdCR6rAfyoxNots_-UWcDXbPaF1IGMx296-XIV8kKi_ivRdxutl8k- Tài liệu liên quan đến vụ kiện Nicaragua vs Mỹ Link
1. Website: https://iuscogens-vie.org/2019/03/17/124-cac-hoat-dong-quan-su-va-ban-quan-su-tai-nicaragua-nicaragua-vs-hoa-ky-1984-1986-phan-1/ Link
2. Website: https://iuscogens-vie.org/2019/06/02/137-vu-cac-hoat-dong-quan-su-va-ban-quan-su-tai-nicaragua-nicaragua-vs-hoa-ky-1984-1986-phan-2-phan-quyet-ve-mat-noi-dung/ Link
3. Website: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nicaragua_ki%E1%BB%87n_Hoa_K%E1%BB%B3 Link
4. Website: https://vi.wikipedia.org/wiki/Contras Link
5. Website: http://nghiencuuquocte.org/2018/10/17/hoa-ky-vien-tro-cho-luc-luong-contra/ Link
6. Website: http://nghiencuuquocte.org/2016/11/03/be-boi-my-ban-vu-khi-cho-iran-bi-tiet-lo/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w