ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIKHOA LUẬT BÀI TẬP NHÓM MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ ĐỀ TÀI: NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ BẰNG BIỆN PHÁP HOÀ BÌNH VÀ NGUYÊN TẮC CÁC QUỐC GIA CÓ NGHĨA VỤ HỢP TÁ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TẬP NHÓM MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ BẰNG BIỆN PHÁP HOÀ BÌNH VÀ NGUYÊN TẮC CÁC
QUỐC GIA CÓ NGHĨA VỤ HỢP TÁC
Giảng viên học phần: TS Đào Thị Thu Hường
Sinh viên thực hiện: Nhóm 3
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
I Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 3
4 Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình 5
II, Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác 6
I Tóm tắt nội dung vụ Philippines kiện Trung Quốc (2013 - 2016) tại Tòa trọng tài 7
II Lập luận, đánh giá về các hành vi của Philippines và Trung Quốc 8
1 Những hành vi của Trung Quốc vi phạm nguyên tắc giải quyết các tranh chấp
2 Những hành vi của Trung Quốc vi phạm nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp
3 Philippines tuân thủ nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp và nguyên tắc các
Thành viên Nhóm 3:
1 Đỗ Yến Nhi 19061263
2 Trần Thu Hường 19061155
3 Vũ Ánh Ngọc 19061256
Trang 34 Trương Hồng Trang 19061385
5 Long Thị Thùy Linh 19061183
6 Trần Thị Thu Uyên 19061395
Phần I: Lý thuyết
I Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế
1 Sự hình thành nguyên tắc
- Ý tưởng về việc hình thành nguyên tắc này đã có trong: hệ thống Công ước
La Haye 1899 và 1907 có Công ước về hòa bình giải quyết xung đột quốc
tế, Hiệp ước Paris năm 1928 về khước từ chiến tranh,…
- Nguyên tắc này được chính thức thừa nhận là nguyên tắc cơ bản của luật
quốc tế lần đầu tiên trong Hiến chương Liên hợp quốc: “Tất cả các Thành viên giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình, theo cách không làm nguy hại đến hòa bình và an ninh quốc tế, và công lý”
(khoản 3 Điều 2 Hiến chương) Tại Đ33,Hiến chương cũng đã xây dựng hệ thống các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế.
Được khẳng định và quy định cụ thể trong Tuyên bố ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc và nhiều văn kiện pháp lý khác.
- Nguyên tắc có hiệu lực ràng buộc với mọi quốc gia trên thế giới bất kể có
tham gia LHQ hay không.
2 Nội dung của nguyên tắc
2.1 Nội dung được quy định:
- Tất cả các quốc gia sẽ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp
hòa bình, không phương hại đến hòa bình, an ninh, và công lý quốc tế.
- Trong trường hợp không đạt được một giải pháp để giải quyết tranh chấp
với các biện pháp nêu trên, các bên có nghĩa vụ tiếp tục tìm kiếm những biện pháp hòa bình khác để giải quyết tranh chấp mà các bên đã thỏa thuận
- Các quốc gia trong tranh chấp có nghĩa vụ từ bỏ bất kỳ hành vi nào có thể
làm trầm trọng thêm tình hình hiện tại và gây nguy hiểm cho việc giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới, có nghĩa vụ hành động phù hợp với những mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc.
- Các tranh chấp quốc tế được giải quyết trên cơ sở bình đẳng về chủ quyền
giữa các quốc gia và phù hợp và tự do lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp.
- Không có điều nào nói trên có ảnh hưởng hoặc phương hại đến những điều
khoản có thể áp dụng của Hiến chương, đặc biệt là những điều khoản liên quan đến việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế.
2.2 Các biện pháp hòa bình
- Các quốc gia có quyền tự lựa chọn những biện pháp thích hợp: Theo điều
33, Hiến chương LHQ: Đàm phán, trung gian, hòa giải, điều tra, sử dụng
Trang 4các dàn xếp khu vực, các biện pháp tòa án, trọng tài và các biện pháp hòa bình khác.Hoặc kết hợp các biện pháp.
- Luật quốc tế hiếm khi quy định cụ thể về hình thức nào bắt buộc, cho dù
quy định thì quyền tự do vẫn được đảm bảo.
- Đàm phán là biện pháp phổ biến nhất ( vì các bên trao đổi quan điểm, đánh
giá thông tin của nhau Đàm phán đôi khi không chỉ nằm giải quyết tranh chấp mà còn để ngăn chặn tranh chấp xảy ra)
- Ví dụ: Công ước LHQ về Luật Biển 1982 quy định thủ tục mang tính chất
ràng buộc ( tòa án và trọng tài), nhưng cũng cho phép các quốc gia thành viên lựa chọn biện pháp khác, thậm chí có quyền loại trừ áp dụng thủ tục bắt buộc.
3 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc:
- Trong giải quyết tranh chấp biển Đông giữa VN – TQ: VN đã và đang kiên
trì theo đuổi các biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính ngoại giao Cụ thể là đàm phán song phương, đa phương Ngoài ra kêu gọi sự ủng hộ của các quốc gia trên thế giới.
- Các cuộc đàm phán giữa Indonesia và Philippines tại khu vực chồng lấn
vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước ở biển Mindanao và biển Clebes Các cuộc đàm phán được tiến hành từ năm 1994, sau đỏ gián đoạn một thời gian, đến năm 2010 tiến trình đàm phán được tiếp tục và đến ngày 23/5/2014, hai quốc gia đã ký Hiệp định phân định ranh giới biển.
4 Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình
- Biện pháp này giúp cho quyền lợi hợp pháp ( là đối tượng của vụ việc tranh
chấp) được khẳng định và đảm bảo, bên ở vị thế yếu hơn cũng sẽ được bảo vệ.
- Nguyên nhân nảy sinh tranh chấp quốc tế cơ bản là do vi phạm pháp luật
quốc tế tranh chấp được giải quyết bằng biện pháp hòa bình giúp giải quyết tranh chấp hiệu quả, nhanh chóng, góp phần thúc đẩy thực thi, tuân thủ luật quốc tế.
- Góp phần duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác
quốc tế Nếu tranh chấp không được giải quyết, sự căng thẳng giữa các bên kéo dài sẽ là nhân tố gây bất ổn, cản trở việc duy trì , triển khai các hoạt động hợp tác Gây cản trở giữa 2 bên tranh chấp và cả các quốc gia khác.
⇨ Lí giải vì sao ngtac không có ngoại lệ ( ngoại lệ của nguyên tắc này nếu có thì sẽ là: Có những tranh chấp không cần phải dùng biện pháp hòa bình)
- Nguyên tắc này là hệ quả tất yếu của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc
đe dọa sử dụng vũ lực, bởi nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử
Trang 5dụng vũ lực sẽ không có giá trị pháp ý ràng buộc các chủ thể luật quốc tế nếu như không có nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế.
- Các cuộc chiến tranh dùng vũ lực trong lịch sử đã chứng minh những thiệt
hại không nhỏ về người và của Cho dù phe thắng cuộc cũng bị thiệt hại vô cùng nặng nề
CTTG T1: Người: Hơn 18,6 tr người chết, 60 tr ng bị thương
Của: làng mạc, đường sá, cầu cống ở châu Âu đều bị phá hủy, thiệt hại lên tới 338 tỷ usd, chi phí cho chiến tranh 85 tỷ USD
CTTG T2 : Người: 60tr người chết, 90tr người bị tàn tật
Của: thiệt hại gấp 10 lần so với CTTG t1, bằng tất cả các cuộc chiến tranh trong 1000 năm trước cộng lại.
- chiến tranh sử dụng vũ lực là đi ngược lại với mong ước hòa bình phát triển
của toàn thể nhân loại chắc chắn sẽ bị nhân loại lên án phản đối.
- Chiến tranh vũ lực sẽ lại tàn phá thế giới, kéo lùi lịch sử, văn minh của nhân
loại Hơn nữa hiện nay các nước đã có nhiều vũ khí hiện đại, nếu thật sự có chiến tranh xảy ra thì hậu quả là không thể ngờ tới được.
⇨ Vì vậy, mọi tranh chấp phải dùng biện pháp hòa bình, chiến tranh vũ lực
hoặc đe dọa vũ lực là điều không thể xảy ra và không được cho phép.
II, Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác
1 Sự hình thành nguyên tắc
- Ý tưởng về hợp tác giữa các quốc gia lần đầu tiên được thể hiện trong khoản 3 Điều 4 Hiến chương Liên hợp quốc bởi mục đích của tổ chức là
“thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo, và trong việc khuyến khích phát triển
sự tôn trọng các quyền của con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”
- Nguyên tắc này được xác lập một cách chính thức trong Tuyên bố ngày
24/10/1970.
2 Nội dung của nguyên tắc
- Hợp tác quốc tế là nhu cầu tất yếu của các chủ thể luật quốc tế
- Theo Tuyên bố ngày 24/10/1970, nguyên tắc này bao gồm các nội dung:
o Quốc gia phải hợp tác với các quốc gia khác trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.
o Các quốc gia phải hợp tác để khuyến khích sự tôn trọng chung và tuân thủ quyền con người và các quyền tự do cơ bản khác của cá nhân, thủ tiêu các hình thức phân biệt tôn giáo, sắc tộc, chủng tộc.
Trang 6o Các quốc gia phải tiến hành quan hệ quốc tế trong lĩnh vực kinh tế,
xã hội, văn hóa, thương mại và kỹ thuật, công nghệ theo các nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ.
o Các quốc gia thành viên Liên hợp quốc phải thực hiện các hành động chung hay riêng trong việc hợp tác với Liên hợp quốc theo quy định của Hiến chương.
o Các quốc gia phải hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa, khoa học, công nghệ nhằm khuyến khích sự tiến bộ về văn hóa, giáo dục, phát triển kinh tế trên toàn thế giới, đặc biệt là tại các nước đang phát triển.
3 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc này
- Từ năm 1924, trong thư gửi đồng chí Petorop, tổng thư ký ban Phương
Đông, Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông là sự BIỆT LẬP => không có sự hợp tác giữa các quốc gia khiến cho các nước thiếu sự tin cậy, sự phối hợp hành động và sự
cổ vũ lẫn nhau.
- Cách mạng T8/1945 thành công, chủ tịch HCM đại diện toàn thể nhân dân
Việt Nam chính thức khẳng định: “ nước Việt Nam DCCH sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào nội bộ chính trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi, chung sống hòa bình Chúng tôi tin rằng sự hợp tác sẽ có lợi cho cả đổi bên và có lợi chung cho công cuộc hòa bình toàn thế giới.”
⇨ HCM quan niệm: sự hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc là một trong
những điều kiện và là động lực thúc đẩy sự văn minh tiến bộ, văn minh của nhân loại nói chung và mỗi quốc gia, dân tộc nói riêng Đó chính là
sự hợp tác cùng có lợi.
- Ngày nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác với nhiều nước trên thế
giới về nhiều lĩnh vực: VD: TQ, Ấn Độ, Nga – VN thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện.
- Liên minh châu Âu ( EU ) là biểu hiện rõ ràng nhất của sự hợp tác giữa các
nước trên thế giới.
- Sự hợp tác giữa Đức, Anh, Pháp sáng lập tổ hợp hàng không Airbus, tạo ra
máy bay lớn nhất thế giới, cạnh tranh với các hãng hàng không hàng đầu tại Hoa Kỳ Máy bay Airbus được chế tạo tại nhiều quốc gia và bởi nhiều hãng khác nhau.
4 Những điều cần chú ý khi hợp tác:
- Sự hợp tác phải đảm bảo nguyên tắc cùng có lợi giữa các chủ thể cùng tham
gia
Trang 7- Sự hợp tác cùng có lợi giữa các quốc gia không chỉ được thực hiện giữa các
quốc gia, dân tộc có cùng chế độ chính trị, mà còn thực hiện giữa các quốc gia, dân tộc có chế độ chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa khác biệt.
- Hợp tác phải nhằm mục đích mang lợi ích chính đáng cho toàn thể các bên
và cả nhân loại.
- Sự hợp tác phải luôn đi cùng với đấu tranh, loại trừ tiêu cực: những âm
mưu, hành động áp đặt, thâm chí can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
⇨ Lí giải tại sao nguyên tắc này không có ngoại lệ ( ngoại lệ nếu có: không cần hợp tác )
- Thực tế hợp tác là nhu cầu phát triển tất yếu của các chủ thể trong luật quốc
tế với thời đại ngày nay, hợp tác là biện pháp duy nhất để có thể tồn tại và phát triển Không một quốc gia nào, chủ thể nào có thể đơn phương mà phát triển bền vững, có thể giải quyết được tất cả vấn đề nếu tách ra khỏi phần còn lại của thế giới.
- Hợp tác mang lại nhiều tiến bộ vượt bậc trên mọi lĩnh vực, tạo ra được
những thành tựu chưa bao giờ có, đưa thế giới ngày càng phát triển văn minh, phù hợp với mong muốn, nhu cầu của nhân loại.
Phần II: Thực hành
I Tóm tắt nội dung vụ Philippines kiện Trung Quốc (2013 - 2016) tại Tòa trọng tài
Tóm tắt:
22/01/2013 Philippines nộp bản thông báo và tuyên bố khởi kiện Trung Quốc trước Tòa trọng tài theo phụ lục VII, công ước Liên hợp quốc về Luật biển về việc tranh chấp giữa 2 nước tại Biển Đông Phía Trung Quốc đưa ra một loạt các động thái thể hiện thái độ bác bỏ, không tham gia vụ kiện và duy trì quan điểm đó tới cùng như: gửi trả lại thông báo khởi kiện cho Philip, tự áp đặt ý chí của mình lựa chọn giải quyết tranh chấp là đàm phán song phương, còn có những hành động vi phạm chủ quyền và đe dọa sử dụng bạo lực làm leo thang xung đột thể hiện rõ sự căng thẳng tại bãi Scarborough
Nội dung bản kiện của Philip:15 nội dung vụ kiện của Philip được tóm tắt
thành 5 vấn đề chính như sau:
- Thứ nhất, Trung Quốc không có quyền thực hiện cái mà nước này gọi là
“quyền lịch sử” đối với các vùng biển, đáy biển và vùng đất dưới đáy biển ngoài giới hạn mà nước này được hưởng theo UNCLOS
Trang 8- Thứ hai, cái gọi là “đường chín đoạn” không hề có bất kỳ căn cứ nào theo luật quốc tế
- Thứ ba, những cấu trúc trên biển mà Trung Quốc dựa vào để làm căn cứ nhằm khẳng định yêu sách của mình ở Biển Đông không phải là các đảo nên không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa Thay vào đó, một số cấu trúc đó là “ đá” chiếu theo Điều 121 của UNCLOS 1982 và chỉ có lãnh hải; một số khác là các bãi cạn lúc chìm lúc nổi; còn số khác là bãi chìm; do đó không có có lãnh hải Những hoạt động cải tạo với quy mô lớn gần đây của Trung Quốc không thể thay đổi một cách hợp pháp bản chất và đặc điểm nguyên thuỷ của những cấu trúc này
- Thứ tư, Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS 1982 bằng việc can thiệp vào việc thực thi quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines;
- Thứ năm, Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS 1982 bằng việc gây ra thiệt hại không thể phục hồi đối với môi trường biển trong khu vực, thông qua việc phá hủy các bãi san hô ở Biển Đông, trong đó có các khu vực nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, hoạt động đánh bắt cá mang tính phá hủy và nguy hại cũng như đánh bắt những loài có nguy cơ tuyệt chủng
II Lập luận, đánh giá về các hành vi của Philippines và Trung Quốc
1 Những hành vi của Trung Quốc vi phạm nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình
- Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình được ghi nhận lần đầu tiên trong hiến chương LHQ và được khẳng định rõ ràng trong tuyên bố năm 1970 , trong đó đã chỉ rõ “ mỗi quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế của mình với các quốc gia khác bằng phương pháp hòa bình để không dẫn đến đe dọa hòa bình , an ninh quốc tế và công bằng ” Do đó , việc áp dụng nguyên tắc hòa bình khi có tranh chấp là hết sức quan trọng và cần thiết để duy trì sự an toàn của thế giới
- Trong vụ kiện Philippines với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông thì với các hành vi mà Trung Quốc đã thực hiện đã vi phạm nghiêm trọng đến nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình cụ thể là các hành vi sau đây :
⮚ Trong những năm gần đây về vùng lãnh thổ tranh chấp tại Biển Đông , trong
đó có quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa , bãi ngầm Scarborough giữa 2 nước diễn ra ngày càng căng thẳng Vào đầu tháng 4 và tháng 5/2012 , các tàu chấp pháp của TQ được hình thành đã liên tiếp tiếp cận tàu Philippines với
Trang 9tốc độ cao và cố gắng cắt đầu các tàu này ở khoảng cách gần , tạo ra nguy cơ
đâm va cao và nguy hiểm cho tàu và người của Philippines nhằm cản trở tàu Philippines tiếp cận hoặc tiến vào bãi Scarborough với hành vi khơi nguồn
cố tình khiêu khích này của TQ đã biểu hiện rõ được động thái của TQ là muốn sử dụng bạo lực để giải quyết tranh chấp đang hiện hữu giữa hai
nước
⮚ Ngoài ra, trong các cuộc đàm phán giữa 2 nước do Mỹ làm trung gian nhằm làm xoa dịu tình hình căng thẳng bấy giờ thì 2 nước đã thống nhất đi đến một thỏa thuận miệng rằng : 2 bên sẽ rút các tàu chiến khỏi khu vực tranh chấp Bên cạnh việc Philippines nghiêm túc tuân thủ theo thỏa thuận này thì
TQ lại không tuân thủ theo thuận này và các tàu chiến của TQ tiếp tục ở lại khu vực này , duy trì sự hiện diện xung quanh bãi cạn Scarborough và không cho ngư dân Philippines hoạt động trong khu vực Hành vi này càng làm tăng thêm sức ép đối với phía Philippines
⮚ Bên cạnh những hành vi nói trên , thì kể từ khi phía Philippines khởi xướng
vụ kiện vào tháng 1/ 2013 cho đến nay thì phía TQ không chấp nhận tham gia vào quá trình giải quyết , đồng thời vẫn tiếp tục thực hiện nhiều hành vi làm trầm trọng thêm và mở rộng các tranh chấp bao gồm những hành vi sau:
1 Can thiệp vào các quyền hàng hải của Philippines trong vùng nước tại
và tiếp giáp bãi Cỏ Mây ; Ngăn cản việc luân chuyển và tiếp tế cho lực lượng của Philippines đồn trú bãi Cỏ Mây và đe dọa đến đời sống và sức khỏe của lực lượng này
2 Mở rộng các hoạt động cải tạo đất quy mô lớn và xây dựng các đảo nhân tạo tại bảy cấu trúc ở Trường Sa , trong đó có việc xây dựng 1 đảo nhân tạo lớn tại Vành Khăn – 1 cấu trúc lúc chìm lúc nổi nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, gây ra hủy hoại lâu dài , không thể phục hồi đối với hệ sinh thái rạn san hô và phá hủy lâu dài các chứng cứ về điều kiện tự nhiên của các cấu trúc này
3 Tăng cường hoạt động tuần tra trên biển …
=>Với những hành vi mà TQ đã thực hiện ở trên, từ góc độ pháp luật quốc tế , có thể khẳng định rõ ràng rằng TQ đã vi phạm nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình , các nghĩa vụ của quốc gia thành viên công ước trong quá trình giải quyết tranh chấp về kiềm chế , làm trầm trọng và kéo dài thêm tranh chấp giữa 2 bên với các biểu hiện của đe dọa sử dụng vũ lực làm leo thang xung đột , gây nguy cơ làm mất ổn định an ninh khu vực
Trang 102 Những hành vi của Trung Quốc vi phạm nguyên tắc các quốc gia
có nghĩa vụ hợp tác.
- Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác thực sự là một nguyên tắc có mối quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế, các quốc gia
có nghĩa vụ cùng hợp tác với nhau để tìm ra các giải pháp hiệu quả trong việc giải quyết các tranh chấp
- Trong vụ kiện Philippines với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông thì với các hành vi của Trung Quốc thực chất đã vi phạm vào nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác cụ thể với những hành vi sau đây
� Khi Philippines đệ đơn kiện Trung Quốc vào ngày 22-1-2013 theo phụ
lục VII, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển về một số tranh chấp giữa hai nước liên quan việc giải thích và áp dụng UNCLOS ở biển Đông thì
Trung Quốc lại có động thái là bác bỏ và gửi trả lại thông báo khởi kiện của Philippines, khẳng định không chấp nhận và không tham gia vụ kiện Động thái này thể hiện rõ thái độ không chịu hợp tác của
Trung Quốc ngay từ ban đầu
� Tòa trọng tài thường trực (PCA) được lựa chọn làm cơ quan thư kí của vụ
kiện vào ngày 29-10-2015 tòa trọng tài đã được thành lập hợp pháp theo phụ lục VII để ra phán quyết sơ bộ, tuyên bố có thẩm quyền thụ lý, xét xử
vụ việc này nhưng một lần nữa Trung Quốc có động thái là phớt lờ
thông báo của tò a trọng tài về việc tham gia vụ kiện, không nộp phản biện về bản ghi nhớ của Philippines theo yêu cầu của tòa mà chỉ gửi
công hàm tới tòa để tái khẳng định quan điểm không chấp nhận và không tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa
� Để tiếp tục khẳng định quan điểm bảo thủ của mình Trung Quốc còn
công bố văn kiện lập trường của chính quyền nhân dân trung hoa về vấn
đề thẩm quyền trong vụ kiện biển Đông do Philippin khởi xướng nhằm
mục đích cho rằng tòa trọng tài không có thẩm quyền đối với vụ kiện