1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài kiểm tra giữa kỳ công pháp quốc tế 1

33 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 46,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cam-Về vấn đề lãnh thổ biên giới trên biển Về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông hiện đang tồn tại bốn vấn đề lớn liên quan đếnchủ quyền biển, đảo Việt Nam chưa được giải quyết: Chủ quy

Trang 1

BÀI KIỂM TRA GIỮA KÌ MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Vấn đề lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia giữa Việt Nam và các nước láng giềng hiện nay? Đề xuất phương pháp giải quyết.

Câu 2: Ngày 27/2/2006, tàu Sima Pride mang quốc tịch Singapore đã đâm vào tàu

cá BKS: BV 7094 của ngư dân Việt Nam tại vị trí cách mũi Vũng Tàu 6 hải lý về phía nam Hậu quả: tàu 7094 bị hư hỏng nặng, 8 ngư dân thiệt mạng và 8 ngư dân

bị thương Thuyền trưởng tàu Sima Pride là Constantin Bengeanu (quốc tịch Romania) và thuyền phó 3 Amaranath Bandara mang quốc tịch Sri Lanka Anh/ chị hãy xác định quốc gia có thẩm quyền xử lý vụ việc trên?

Câu 3: Các quyền tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm của các quốc gia khác trong vùng ĐQKT/ TLĐ của quốc gia ven biển được quy định tại Điều 58, Điều 79 UNCLOS.

Luật biển Việt Nam 2012 quy định:

- Điều 16.2: Nhà nước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam.

Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.

- Điều 18.4: Nhà nước tôn trọng quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp khác của các quốc gia khác ở thềm lục địa Việt Nam theo quy định của Luật này và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của VN.

Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.

Căn cứ vào quy chế pháp lý vùng ĐQKT và TLĐ theo UNCLOS, anh/ chị hãy xác định: quy định của LBVN như trên (về việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm của các quốc gia) có phù hợp với UNCLOS hay không? Tại sao?

Trang 2

Câu 1: Vấn đề lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia giữa Việt Nam và các nước láng giềng hiện nay? Đề xuất phương pháp giải quyết.

Là một quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á và tiếp giáp Biển Đông, Việt Nam vừa cóbiên giới trên đất liền, vừa có vùng biển chồng lấn với các quốc gia láng giềng Đồngthời, việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sađang đứng trước những thách thức mới và đặt ra những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp

Do đó, việc giải quyết dứt điểm vấn đề chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia với cácnước có liên quan là một trong những ưu tiên trong đường lối đối ngoại và bảo vệ Tổquốc của Đảng và Nhà nước ta

Về vấn đề lãnh thổ biên giới trên đất liền

Thứ nhất là về đường biên giới phía Bắc giữa Việt Nam và Trung Quốc,Việt Nam tiếpgiáp với Trung Quốc ở phía Bắc, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và TrungQuốc đã được hình thành và tồn tại từ lâu trong lịch sử Tuy nhiên, đường biên giới vàothời điểm đó chủ yếu mang tính chất tập quán, dựa theo ranh giới hành chính của cácđiểm dân cư, sử dụng các yếu tố tự nhiên, như dãy núi, sông suối và là đường biên giớitheo vùng hơn là một đường biên giới được hoạch định, phân giới và cắm mốc Do đócông tác phân định biên giới phía Bắc của nước ta với Trung Quốc vẫn còn khá nhiềukhó khăn Hai nước đã ký kết một số Hiệp ước biên giới để hoạnh định rõ ràng lãnh thổ

của hai nước Ngày 30/12/1999 ghi nhận một dấu mốc trọng đại trong quan hệ Việt

Nam - Trung Quốc, đó là việc Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam NguyễnMạnh Cầm và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Đường Gia Triền ký kết Hiệp ước biêngiới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, kết thúc tiến trình đàm phán giữa hainước trong nhiều thập niên về vấn đề này

Thứ hai là đường biên giới Việt Nam và Lào, đường biên giới đất liền giữa Việt Nam Lào dài 2.337,459km, chạy qua 10 tỉnh của Việt Nam và 10 tỉnh của Lào với địa hìnhhết sức phức tạp, hiểm trở, được hình thành từ trong lịch sử và thể hiện trên bản đồ dongười Pháp xuất bản dưới chế độ thuộc địa Tuy nhiên, đường biên giới này vẫn cònnhiều điểm chưa thực sự rõ ràng và không phải là kết quả do hai quốc gia độc lập, cóchủ quyền xác định Do đó, năm 1975, sau khi nước Việt Nam thống nhất và Lào chínhthức thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, hai bên đã nhất trí tiến hành giảiquyết vấn đề biên giới giữa hai nước

-Ba là, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Cam-pu-chia Đường biên giới

trên đất liền giữa Việt Nam và Cam-pu-chia dài khoảng trên 1.200km, điểm khởi đầu ở

vị trí là giao điểm đường biên giới giữa ba nước Việt Nam - Cam-pu-chia - Lào, điểm

Trang 3

kết thúc ở vị trí cuối cùng của đường biên giới đất liền trên bờ Vịnh Thái Lan tiếp giápgiữa tỉnh Kiên Giang (Việt Nam) và tỉnh Kam-pót (Cam-pu-chia) Tính chất pháp lý củađường biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia phức tạp hơn so với đường biên giới Việt Nam

- Lào, Việt Nam - Trung Quốc, do vừa là đường biên giới quốc tế (phần Nam Kỳ - pu-chia), vừa là đường biên giới hành chính do chính quyền thực dân Pháp thiết lập(phần Trung Kỳ - Cam-pu-chia)

Cam-Về vấn đề lãnh thổ biên giới trên biển

Về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông hiện đang tồn tại bốn vấn đề lớn liên quan đếnchủ quyền biển, đảo Việt Nam chưa được giải quyết: Chủ quyền trên quần đảo HoàngSa; bảo vệ chủ quyền và giải quyết tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa giữanăm nước sáu bên; phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của Liên hợp quốc

về Luật biển năm 1982; xác định ranh giới ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụcđịa

Trước những vấn đề đó đảng và nhà nước ta đã có những biện pháp đấu tranh, giải quyếtvấn đề lãnh thổ biển đảo như kiên trì theo đuổi các biện pháp giải quyết tranh chấp mangtính ngoại giao, cụ thể là đàm phán song phương, đàm phán đa phương; áp dụng xâydựng lực lượng quản lý bảo vệ biển đảo vững mạnh về mọi mặt; thực hiện tốt công tácxây dựng quốc phòng

Câu 2:

Tàu Sima Pride mang quốc tịch Singapore đã đâm vào tàu cá BKS: BV 7049 của ngưdân Việt Nam tại vị trí cách mũi Vũng Tàu 6 Hải Lý về phía Nam khiến tàu hư hỏngnặng và 8 ngư dân thiệt mạng và 8 ngư dân bị thương

Thuyền trưởng tàu Sima Pride là Constantin Bengeanu (quốc tịch Romania) và thuyềnphó 3 Amaranath Bandara mang quốc tịch Sri Lanka

Tài Sima Pride đã đâm vào tàu cá BKS: BV 7049 của ngư dân Việt Nam tại vị trí cáchmũi Vũng Tàu 6 hải lý về phía Nam và vị trí này nằm trong vùng nội thủy của Việt Namnên nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hoàn toàn có quyền tài phán khi con tàu

đó vi phạm pháp luật dân sự hoặc hình sự Cơ quan cảnh sát điều tra Việt Nam hoàntoàn có quyền khởi tố thuyề trưởng tàu Sima Pride với tội danh “vi phạm các quy định

về hàng hải” theo Luật biển Việt Nam

Câu 3

Trang 4

Căn cứ vào quy chế pháp lý vùng ĐQKT và TLĐ theo UNLOCS, quy định của LuậtBiển Việt Nam về việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm của các quốc gia là hoàn toànphù hợp với UNLOCS

Điều 58 UNCLOS quy định

1. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không cóbiển, trong những điều kiện trong những quy định thích hợp của Công ước trùđịnh, được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền tự do đặt dâycáp ngầm nêu ở Điều 87, cũng như quyền tự do sử dụng biển vào những mục đíchkhác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này

và phù hợp với các quy định khác của Công ước, nhất là những khuôn khổ việckhai thác các tàu thuyền, phương tiện bay và dây cáp, ống dẫn ngầm

2. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, khi thực hiện các quyền và làm các nghĩa vụ củamình theo Công ước, các quốc gia phải tính đến các quyền và các nghĩa vụ củaquốc gia ven biển và tôn trọng các luật và quy định mà quốc gia ven biển đã banhành theo đúng các quy định của Công ước và trong chừng mực mà các luật vàquy định đó không mâu thuẫn với phần này và với các quy tắc khác của pháp luậtquốc tế

Điều 79 UNCLOS quy định về việc lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm

3. Tuyến ống dẫn đặt ở thềm lục địa cần được sự thỏa thuận của quốc gia ven biểnĐiều 16.2 Luật biển Việt Nam 2012 hoàn toàn phù hợp với những điều khoản cótrong UNCLOS mà Việt Nam là quốc gia thành viên Việt Nam hoàn toàn tông trọngquyền tự do hàng hải, hàng không, quyền lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạtđộng sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng ĐQKT miễn saokhông làm hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trênbiển Việt Nam

Câu 1: Vấn đề lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia giữa Việt Nam và các nước láng giềng hiện nay ? Đề xuất phương hướng/ biện pháp giải quyết ?

1 Vấn đề lãnh thổ quốc gia giữa Việt Nam và các nước láng giềng

Hiện nay, Việt Nam vẫn còn tồn tại một số tranh chấp lãnh thổ trên biển với một sốquốc gia cụ thể như sau:

Trang 5

Thứ nhất, tranh chấp lãnh thổ trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc Hiện nayTrung Quốc đang chiếm đóng phía Đông và phía Tây Hoàng Sa Đối với quần đảoTrường Sa, Trung Quốc Quốc đã dùng sức mạnh để đánh chiếm và tính đến nay tổng sốđảo đá, bãi cạn mà phía Trung Quốc chiếm là 7 vị trí Đài Loan chiếm đóng đảo Ba Bình

là đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa và mở rộng thêm 1 bãi cạn rạn san hô là bãi BànThan Hiện nay tranh chấp vẫn chưa được giải quyết

Thứ hai, tranh chấp lãnh thổ trên biển giữa Việt Nam và Phi-líp-pin do Tổng thốngQuirino tuyên bố rằng quần đảo Trường Sa phải thuộc về Phi-líp-pin vì nó ở gần Phi-líp-pin Từ năm 1971 đến năm 1980, Phi-líppin chiếm đóng 9 đảo, đá trong quần đảoTrường Sa

Thứ ba, tranh chấp lãnh thổ trên biển giữa Việt Nam và Mai-lai-xia: hiện nay, lai-xia đang chiếm giữ 5 đảo, đá, bãi cạn trong quần đảo Trường Sa

Ma-* Phương hướng/ biện pháp giải quyết

Kiên trì giải quyết tranh chấp biển, đảo bằng biện pháp hòa bình, đấu tranh ngoạigiao và pháp lý để góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo trên cơ sở luật pháp quốc tếTập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh

Kết hợp chặt chẽ quá trình dân sự hóa trên biển với xây dựng thế trận quốc phòng

-an ninh trên biển vững mạnh, đủ khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển

2 Vấn đề biên giới quốc gia giữa Việt Nam và các nước láng giềng

* Biên giới trên bộ:

Việt Nam có quan hệ biên giới với các quốc gia sau: tiếp giáp với Trung Quốc ởphía Bắc, Lào ở phía Tây, Cam-pu-chia ở phía Tây Nam

Việt Nam đã giải quyết xong vấn đề về đường biên giới trên bộ với Lào và TrungQuốc, tuy nhiên tranh chấp về đường biên giới với Campuchia vẫn chưa giải quyếtxong Hiện nay, trên đất liền, Việt Nam và Campuchia đang nỗ lực để giải quyết 16%

Trang 6

đường biên giới còn lại Quá trình đàm phán đã diễn ra rất dài, phức tạp Hai nước đã ký

07 điều ước song phương và một điều ước ba bên liên quan đến biên giới đất liền Vì16% còn lại là những khu vực mà quan điểm của Việt Nam và Campuchia có sự khácbiệt căn bản, không phải dễ để thoả hiệp

* Biên giới trên biển

Biên giới biển Việt Nam giáp với vịnh Thái Lan ở phía Nam, vịnh Bắc Bộ

và biển Đông ở phía Đông, Trung Quốc ở phía Bắc, Lào và Campuchia phía Tây Vẫncòn tồn tại một số tranh chấp cụ thể là:

Về ranh giới trên biển ở Vịnh Thái Lan, Việt Nam và Campuchia mới ký kết Hiệpđịnh về vùng nước lịch sử năm 1982, trong đó chỉ khẳng định hai nước xem vùng biểntrên Vịnh Thái Lan là vùng nước lịch sử chung và sẽ đàm phán phân định sau

Với Indonesia, hai nước đã ký Hiệp định phân định thềm lục địa vào năm 2003 Tuynhiên, hiện hai nước đang đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và gặpnhiều vướng mắc giữa hai nước có thể khó hoà giải

* Phương hướng/ biện pháp giải quyết

Kiên trì sử dụng các biện pháp pháp lý có thể là giải pháp tháo gỡ cho cả hai nước.Biện pháp pháp lý là biện pháp tối ưu để giải quyết triệt để, nhanh chóng, lâu dài chocác tranh chấp biên giới đất liền và trên biển giữa Việt Nam và Campuchia, và giữa ViệtNam và Indonesia Đồng thời có lợi cho trật tự dựa trên luật lệ tại Biển Đông, đóng gópcho án lệ quốc tế và sự phát triển của luật quốc tế nói chung

Câu 1: Vấn đề lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia giữa Việt Nam và các nước láng

giềng hiện nay? Đề xuất phương hướng/biện pháp giải quyết?

Tình hình tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam với các quốc gia cònnhiều vấn đề chưa thể giải quyết triệt để và đã kéo dài nhiều năm nay Điển hình là tranhchấp biển đảo giữa Việt Nam với các quốc gia như: Trung Quốc, Indonesia và Thái Lan

Trang 7

* Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc: Tranh chấp chủ quyền biển đảo của

Việt Nam với Trung Quốc tồn đọng rất nhiều vấn đề chưa thể giải quyết ngay Mộttrong số đó là việc quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa bị Trung Quốcdùng vũ lực đánh chiếm trái phép từ năm 1974 cho đến hiện nay và nước này đã cho xâydựng nhiều đảo nhân tạo trái phép, các hạ tầng quân sự cũng như thường xuyên tập trậntại các khu vực này gây tranh cãi lớn Cùng với việc đánh chiếm trái phép, Trung Quốcthực hiện rất nhiều các hành động cản trở việc đánh bắt, khai thác của ngư dân Việt Namtại vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam cũng như những yêu sách bất hợp pháp củanước này Mới đây nhất là vụ việc lợi dụng tình hình dịch bệnh, quốc gia này đưa nhiềutàu quân sự đến vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam và đơn phương đưa ra quy địnhcấm đánh bắt cá (từ ngày 1-5 đến ngày 16-9)

* Tranh chấp giữa Việt Nam và Indonesia: Trong nhiều thập kỷ qua, các tuyên bố về

EEZ chồng lấn ở các vùng biển xung quanh Quần đảo Natuna ở Biển Đông đã gây rahiềm khích Hai nước đã tham gia 12 vòng đàm phán kể từ năm 2010 để có thể đưa ragiải pháp cuối cùng cho việc phân định ranh giới thềm lục địa và vùng EEZ nhưng chưađạt được một thỏa thuận thống nhất chung khi Việt Nam thì ưu tiên một ranh giới duynhất cho cả thềm lục địa và EEZ Còn Indonesia nhất quyết coi EEZ và thềm lục địa làhai chế độ pháp lý riêng biệt và do đó ủng hộ dùng nguyên tắc đường cách đều(equidistance) làm phương pháp phân định ranh giới

* Tranh chấp giữa Việt Nam với Thái Lan: Năm 1992, Việt Nam và Thái Lan bắt đầu

tiến hành đàm phán phân định vùng biển giữa hai nước và hai bên kết thúc đàm phánvào năm 1997, sau 9 vòng đàm phán với việc hai bên ký Hiệp định về phân định ranhgiới biển giữa hai nước vào ngày 9-8-1997 và hiệp định này chính thức có hiệu lực kể từngày 26-2-1998 Theo Hiệp định, hai bên đã giải quyết dứt điểm cả vùng đặc quyền kinh

tế và thềm lục địa chồng lấn, Việt Nam hưởng 32,5% diện tích khu vực chồng lấn giữahai nước

* Giải pháp đề ra để giải quyết các vấn đề trên:

Trang 8

- Nắm vững và quán triệt sâu sắc, vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ trương và đường lốibảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và đường lối đối ngoại độc lập,bình đẳng, hòa bình và hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ

- Kiên trì thu hẹp những điểm khác biệt, kiên quyết đấu tranh, bảo vệ các quyền lợi hợppháp, chính đáng, phù hợp luật pháp quốc tế trong quá trình giải quyết các vấn đề biêngiới lãnh thổ

- Vận dụng nhuần nhuyễn các quy định của luật pháp quốc tế vào những trường hợp cụthể và luôn bảo đảm giải pháp cuối cùng phù hợp với các quy định của luật pháp quốc

tế

- Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, sự phối hợp giữa các bộ,ngành và địa phương và tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân

Câu 2: Bài tập 4 trong phần Luật biển

- Theo Điều 23 Luật Biển Việt Nam và điều 17 UNCLOS 1982, tàu Singapore đã viphạm quyền đi qua không gây hại trong vùng lãnh hải việt nam khi làm tổn hại đến antoàn xã hội trên biển của Việt Nam

- Theo Điều 25 và Điều 27 UNCLOS cũng như Điều 30 Luật Biển Việt Nam, Quốc giaven biển có thể thi hành các biện pháp cần thiết trong lãnh hải của mình để ngăn cản mọiviệc đi qua có gây hại, cũng như có quyền tài phán hình sự đối với tàu nước ngoài trongtrường hợp hành vi vi phạm của tàu đó gây tổn hại đến trật tự an toàn bên trong lãnh hải

Cụ thể, trong trường hợp này, tàu Singapore đã đâm chết 8 ngư dân Việt Nam, gây tổnhại đến trật tự an toàn giao thông biển tại vùng lãnh hải đồng thời tổn hại trực tiếp đếncuộc sống những ngư dân bị nạn Vì thế, theo em trong trường hợp này, quốc gia venbiển mà cụ thể là Việt Nam có quyền đình chỉ việc thực hiện quyền đi qua không gâyhại của tàu Singapore, tạm dừng tàu này cùng các thuyền viên để điều tra làm rõ vụ việc,đồng thời yêu cầu quốc gia mà tàu mang quốc tịch phải bồi thường thiệt hại mà tàu gây

ra trên vùng lãnh hải Việt Nam

Câu 3: Bài 11 trong phần Luật biển

- Quy định của Luật biển Việt Nam theo điều 16 và điều 18 hoàn toàn phù hợp vớiUNCLOS Vì:

Trang 9

+ Tại điều 58.3 UNCLOS đã quy định rằng khi các quốc gia thực hiện quyền và nghĩa

vụ của mình trong vùng đặc quyền kinh tế thì phải tính đến quyền và nghĩa vụ của cácquốc gia ven biển, đồng thời phải tôn trọng các luật và quy định của các quốc gia venbiển đã ban hành theo đúng các quy định của Công ước và trong chừng mực luật đókhông mâu thuẫn với các quy tắc khác của luật pháp quốc tế

+ Tương tự như vậy, Điều 79.3 UNCLOS cũng đã quy định rõ ràng tuyến ống dẫn đặt ởthềm lục địa cần được sự thỏa thuận của quốc gia ven biển

+ Vì thế, mặc dù Điều 58 và Điều 87 UNCLOS ghi nhận quyền tự do đặt các dây cáp vàống dẫn ngầm, song, các quốc gia vẫn phải tôn trọng và tuân theo quy định pháp luật màquốc gia ven biển đã đặt ra Chính vì vậy, quy định tại Điều 16.2 và 18.4 của Luật Biển

Việt Nam là không hề trái với quy định của Công ước quốc tế về Luật Biển

Câu 1:

Vấn đề lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia giữa Việt Nam và các nước láng giềng:

1 Với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Tháng 2-1976, lãnh đạo hai nước đã cho ý kiến về nguyên tắc giải quyết vấn đề biêngiới giữa hai nước Đường biên giới giữa Việt Nam và Lào là đường biên giới trên bản đồcủa Sở Địa dư Đông Dương năm 1945 tỷ lệ 1/100 000 (năm 1945 là thời điểm hai nướctuyên bố độc lập)

Ngày 24-1-1986 hai nước ký Hiệp ước bổ sung ghi nhận những điểm điều chỉnhđường biên giới đã hoạch định năm 1977, ký nghị định thư ghi nhận kết quả phân giới cắmmốc Ngày 1/3/1990 hai nước ký Hiệp định quy chế biên giới Thi hành hiệp định này,hàng năm có cuộc họp giữa đoàn đại biểu biên giới hai nước với sự có mặt của đại diện các

bộ, ngành liên quan và các tỉnh biên giới của hai nước để kiểm điểm việc thi hành Hiệpđịnh quy chế biên giới

2 Với Campuchia

Trước năm 1964, quan điểm cơ bản của phía Campuchia về biên giới lãnh thổ giữahai nước là đòi Việt Nam trả lại cho Campuchia 6 tỉnh Nam Kỳ và đảo Phú Quốc

Trang 10

Từ năm 1964 - 1967, Chính phủ Vương quốc Campuchia do Quốc trưởng NorodomSihanouk đứng đầu chính thức đề nghị Việt Nam công nhận Campuchia trong đường biêngiới hiện tại, cụ thể là đường biên giới trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư ĐôngDương thông dụng trước năm 1954 với 9 điểm sửa đổi, tổng diện tích khoảng 100km2.Trên biển, phía Campuchia đề nghị các đảo phía Bắc đường do Toàn quyền Brévié vạchnăm 1939 là thuộc Campuchia, cộng thêm quần đảo Thổ Chu và nhóm phía Nam quần đảoHải Tặc.

Trong năm 1967, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền NamViệt Nam đã chính thức công nhận và cam kết tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của Campuchiatrong đường biên giới hiện tại (công hàm của Việt Nam không nói tới vấn đề chủ quyềnđối với các đảo trên biển và 9 điểm mà Campuchia đề nghị sửa đổi về đường biên giới trênbộ)

3 Với Indonesia

Năm 1972, Indonesia và chính quyền Sài Gòn đàm phán 1 vòng, quan điểm củaIndonesia là phân định theo trung tuyến giữa các đảo xa nhất của hai bên, quan điểm củaSài Gòn là trung tuyến giữa bờ biển Việt Nam và Bornéo, hai quan điểm tạo nên vùngchồng lấn rộng khoảng 37.000km2 (Đảo Natuna Bắc là đảo xa nhất của Indonesia đối diệnvới miền Nam Việt Nam cách Bornéo 320km; Côn Đảo, đảo đối diện với Natuna Bắc chỉcách đất liền 90km)

Từ năm 1978, CHXHCN Việt Nam và Indonesia bắt đầu đàm phán Indonesia giữ quanđiểm cũ, quan điểm của ta dựa vào định nghĩa thềm lục địa là sự kéo dài tự nhiên của lụcđịa, do đó ranh giới nên theo đường rãnh ngầm ngăn cách sự kéo dài tự nhiên của hai thềmlục địa, hai quan điểm tạo ra vùng tranh chấp lúc đầu rộng khoảng 92.000km2

Qua 10 vòng đàm phán hai bên đã dần dần thu hẹp được vùng tranh chấp xuống cònkhoảng 4.500km2 nhưng đầu năm 1993 Indonesia đề nghị hủy bỏ toàn bộ kết quả đàmphán từ 1978 đến 1992 và đàm phán lại từ đầu

Cho đến nay, qua 5 vòng trao đổi không chính thức, hai bên chưa đi đến thỏa thuận nối lạiđàm phán

4 Với Trung Quốc

Ngày 30121999 ghi nhận một dấu mốc trọng đại trong quan hệ Việt Nam Trung Quốc, đó là việc Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn MạnhCầm và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Đường Gia Triền ký kết Hiệp ước biên giớitrên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, kết thúc tiến trình đàm phán giữa hai nướctrong nhiều thập niên về vấn đề này Hiệp ước là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng để haibên tiến hành công tác phân giới, cắm mốc trên thực địa(7) Tháng 11-2000, sau khiHiệp ước có hiệu lực, Việt Nam và Trung Quốc đã chính thức thành lập “Ủy ban liênhợp phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc” và 12 Nhóm liên hợpphân giới cắm mốc, để triển khai công tác này trên thực địa Sau hơn một năm chuẩn bị

Trang 11

-các nội dung cần thiết cả về mặt pháp lý, kỹ thuật, nhân lực và vật lực, ngày 27-12-2001,tại cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Việt Nam) - Đông Hưng (Trung Quốc), Việt Nam vàTrung Quốc đã cắm cột mốc đầu tiên giữa hai nước, mang số hiệu 1369, đánh dấu việctriển khai công tác này trên toàn tuyến biên giới đất liền giữa hai nước Tiếp đó, ngày31-12-2008, Việt Nam và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung về việc hoàn thành côngtác phân giới, cắm mốc trên biên giới đất liền giữa hai nước Với kết quả trên, đườngbiên giới Việt Nam và Trung Quốc dài 1.449,56km, trong đó có 383,914km đi theosông, suối, đã được cắm 1.971 cột mốc, bao gồm 1.548 mốc chính và 422 mốc phụ.

Phương hướng giải quyết: Việt Nam có thể dùng những phương hướng giải quyết như

thương lượng hòa bình với nước láng giềng trên thỏa thuận hòa bình, hoặc đấu tranh hòabình trên toàn án Quốc tế để giành được quyền lợi

Câu 2:

- Quốc gia có thẩm quyền tài phán/ xử lý vụ việc trên: Là Việt Nam Vì theo Điều 27 Quyền tài phán hình sự ở trên một tàu nước ngoài Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982

“1 Quốc gia ven biển không được thực hiện quyền tài phán hình sự của mình ở trên mộttàu nước ngoài đi qua lãnh hải để tiến hành việc bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm saumột vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu trong khi nó đi qua lãnh hải, trừ các trườnghợp sau đây:

a) Nếu hậu quả của vụ vi phạm đó mở rộng đến quốc gia ven biển”

Trong trường hợp trên tàu tàu SimaPride mang quốc tịch Singapore đã đâm vàotàu cá BKS: BV7094 của ngư dân Việt Nam tại vị trí cách mũi Vũng Tàu 6 hải lý vềphía nam Hậu quả: tàu 7094 bị hư hỏng nặng, 8 ngư dân thiệt mạng và 8 ngư dân bịthương

Vì hậu quả của cuộc va chạm tàu trên đã vi phạm mở rộng tới quốc gia ven biển

cụ thể là Việt Nam, cách mũi Vũng Tàu 6 hải lý về phía nam Nên trong trường hợptrên, Việt Nam là quốc gia có thẩm quyển tài phán/ xử lý vụ việc

Câu 3:

Quy định của Luật biển Việt Nam (về việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm củacác quốc gia khác) phù hợp với UNCLOS Vì những đặc điểm sau:

- Trong Điều 18.4, Điều 16.2 Luật biển Việt Nam 2012 đã nêu rõ và quy định về

việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm của các quốc gia khác đã đi sát và bám theođúng, phù hợp với UNCLOS đã quy định

- Việt Nam tôn trọng, đảm bảo các quốc gia khác được lặp đặt dây cáp và ống dẫn

ngầm trong thềm lục địa, theo thỏa thuận phù hợp với UNCLOS

Trang 12

- Dựa theo Điều 58, Điều 79 UNCLOS thì Luật biển Việt Nam 2012 đã làm

đúng, tuân thủ với những quy định mà Luật biển quốc tế đã đưa ra

- Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rất tôn trọng cũng như tạo điều

kiện cho các quốc gia khác lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm trên thềm lục địa

Việt Nam với điều kiện tuân thủ những quy định trong Luật biển Việt Nam 2012

và UNCLOS.

Câu 1: Vấn đề lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia giữa Việt Nam và các nước

láng giềng hiện nay? Đề xuất phương hướng/biện pháp giải quyết?

Về đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và ba nước đã nêu, các đường này

đã được hình thành, tồn tại từ lâu, có nhiều lần xê dịch lãnh thổ trong tiến trình pháttriển quan hệ Tuy nhiên, những đường này chủ yếu mang tính chất tập quán, dựa theoranh giới hành chính của các điểm dân cư; sử dụng các yếu tố tự nhiên (dãy núi, khesuối,…) khá hiểm trở;… tạo thành biên giới theo vùng hơn là đường biên giới đượchoạch định, phân giới, cắm mốc

Về đường biên giới trên biển, sự ra đời của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển

năm 1982 (UNCLOS 1982) đã dẫn đến sự thay đổi đáng kể phạm vi không gian biển

Trang 13

của các quốc gia ven biển, điều này cũng kéo theo sự gia tăng nhanh chóng các vùngbiển chồng lấn giữa các quốc gia láng giềng Đối với Việt Nam, do điều kiện đất nướctạm thời bị chia cắt đến năm 1975, chúng ta hầu như chưa tiến hành giải quyết vấn đềphân định vùng biển với các quốc gia có liên quan Nắm bắt xu thế phát triển của LuậtBiển quốc tế, nhất là quá trình thảo luận, xây dựng Công ước Luật Biển tại Hội nghị củaLiên hợp quốc về Luật Biển lần thứ ba, ngày 12-5-1977, Chính phủ nước CHXHCNViệt Nam đã ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềmlục địa Việt Nam Tiếp đó, ngày 12-11-1982, Chính phủ ra tuyên bố về đường cơ sởdùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam Đây là những cơ sở và tiền đề hết sức quantrọng để Việt Nam tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề phân định vùng biển chồng lấnvới các quốc gia có liên quan trong giai đoạn sau này.

1.2 Đề xuất phương hướng/biện pháp giải quyết

Việc giải quyết vấn đề chủ quyền quốc gia, biên giới, lãnh thổ có mối quan hệkhăng khít với quan hệ chính trị giữa Việt Nam và các nước có liên quan cũng như bốicảnh khu vực và quốc tế Chúng ta nắm vững, quán triệt sâu sắc, vận dụng có nguyêntắc, linh hoạt, sáng tạo chủ trương và đường lối bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biêngiới quốc gia và đường lối đối ngoại độc lập, bình đẳng, hòa bình và hợp tác phát triểntrong việc giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ

Cần kiên trì thúc đẩy các điểm tương đồng, thu hẹp những điểm khác biệt, songkiên quyết đấu tranh, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp, chính đáng, phù hợp luật phápquốc tế trong quá trình giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ Việc giải quyết các vấn

đề biên giới, lãnh thổ phải căn cứ và vận dụng nhuần nhuyễn các quy định có liên quancủa luật pháp quốc tế vào những trường hợp cụ thể và luôn bảo đảm giải pháp cuối cùngphải phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế

Câu 2: Bài 4 (file bài tập tham khảo chương Luật biển) Xác định quốc gia có thẩm

quyền tài phán/xử lí vụ việc trên? Tại sao?

Trang 14

Ngày 27/2/2006, tàu Sima Pride mang quốc tịch Singapore đã đâm vào tàu cá BKS: BV 7094 của ngư dân Việt Nam tại vị trí cách mũi Vũng Tàu 6 hải lý về phía nam Hậu quả: tàu 7094 bị hư hỏng nặng, 8 ngư dân thiệt mạng và 8 ngư dân bị thương Thuyền trưởng tàu Sima Pride là Constantin Bengeanu (quốc tịch Romania) và thuyền phó 3 Amaranath Bandara mang quốc tịch Sri Lanka.

Anh/ chị hãy xác định quốc gia có thẩm quyền xử lý vụ việc trên?

Trả lời:

Tàu Sima Pride đã đâm vào tàu cá BKS: BV 7049 của ngư dân Việt Nam tại vị trícách mũi Vũng Tàu 6 hải lý về phía Nam, vị trí này nằm trong vùng nội thủy của ViệtNam nên nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hoàn toàn có quyền tài phánkhi con tàu đó vi phạm pháp luật dân sự hoặc hình sự Cơ quan cảnh sát điều tra ViệtNam hoàn toàn có quyền khởi tố thuyền trưởng tàu Sima Pride với tội danh “vi phạmcác quy định về

hàng hải” theo Luật biển Việt Nam

Câu 3: Bài 11 (file bài tậi tham khảo chương Luật biển) […] Căn cứ vào quy chế pháp

lí vùng ĐQKT và TLD theo UNCLOS 1982, anh/chị hãy xác định quy định của Luậtbiển Việt Nam như trên (về việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm của các quốc gia

khác) có phù hợp với UNCLOS hay không? Tại sao?

Trả lời:

Các quyền tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm của các quốc gia khác trongvùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) và thềm lục địa (TLĐ) của quốc gia ven biển được quy

Trang 15

định tại Điều 58, Điều 79 UNCLOS Các điều luật cùng lĩnh vực được quy định tạiĐiều 16.2, 18.4 của Luật biển Việt Nam 2012.

Sau khi tìm hiểu, nghiên cứu các điều luật nêu trên, em nhận thấy các quy định,yêu cầu của Việt Nam đối với việc các quốc gia khác lắp dặt dây cáp, ống dẫn ngầm

trong vùng ĐQKT, TLĐ của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp, không đi ngược lại với ý

chí của Công ước luật biển 1982 của thế giới Cả hai văn bản đều ghi nhận, tôn trọngquyền tự do hàng hải, hàng không cũng như quyền đặt ống dẫn ngầm, dây cáp và cácquyền hợp pháp khác của quốc gia đặt đường ống, miễn không làm phương hại đến chủquyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia của quốc gia ven biển

Công ước nêu rõ “Tuyến ống dẫn đặt ở thềm lục địa cần được sự thỏa thuận của quốc gia ven biển”, “Không một quy định nào ở phần này đụng chạm đến quyền của quốc gia ven biển đặt ra các điều kiện đối với các đường dây cáp hay các đường ống dẫn đi vào lãnh thổ hay lãnh hải của mình […]”, như vậy điều luật “Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam” hoàn toàn hợp pháp, chung ý chí với Luật biển quốc tế Các

nước muốn đặt đường ống dẫn ngầm, dây cáp qua khu vực ĐQKT và TLĐ của ViệtNam cần tuân theo quy định của quốc gia ven biển

Câu 1:

Biên giới quốc gia được xác định là hàng rào pháp lý xác định giới hạn vùng đất, vùngnước, vùng biển, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền quốc gia; là nơi phân chia chủquyền lãnh thổ của một quốc gia với một quốc gia khác, hoặc khu vực có quy chế pháp

lý quốc tế Điều 1 trong Luật Biên giới quốc gia của Việt Nam năm 2003 xác định:

“Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặtthẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo,trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trờicủa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Một là, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ngày 31/12/2008, Việt Nam và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung về việc hoàn thànhcông tác phân giới, cắm mốc trên biên giới đất liền giữa hai nước Với kết quả trên,

Trang 16

đường biên giới Việt Nam và Trung Quốc dài 1.449,56km, trong đó có 383,914km đitheo sông, suối, đã được cắm 1.971 cộc mốc, bao gồm 1.548 mốc chính và 422 mốc phụ.Đồng thời, hai bên đã ký kết Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về quy chếquản lý biên giới, Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đấtliền (tháng 11/2009) Các văn kiện này chính thức có hiệu lực từ năm 2010 Ngoài ýnghĩa xác định rõ ràng một đường biên giới giữa hai nước, các hiệp định còn tạo điềukiện thuận lợi cho các ngành chức năng của cả hai bên tiến hành quản lý biên giới mộtcách hiệu quả, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của nhau, mở ra cơ hội mới cho công cuộcphát triển của mỗi nước, tạo điều kiện cho các địa phương hai bên biên giới mở rộnghợp tác, phát triển kinh tế, tăng cường giao lưu hữu nghị(8) và đưa đường biên giới ViệtNam - Trung Quốc trở thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác vàphát triển.

Hai là, đường biên giới trên đất liền Việt Nam và Lào.

Xuất phát từ quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, thiện chí giữa hai nước, trên cơ

sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, sau hơn hai năm đàm phán, ngày18/7/1977, Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã được ký kết tại thủ đôVientiane Theo Nghị định thư, hai bên đã phân giới được 1.877km trong tổng số hơn2.000km chiều dài của đường biên giới và cắm được 202 mốc quốc giới Đồng thời, xuấtphát từ thực tế quản lý biên giới, năm 1986 và 1987, hai nước đã ký Hiệp ước bổ sungHiệp ước hoạch định biên giới quốc gia và Nghị định thư bổ sung ghi nhận toàn bộ kếtquả công tác phân giới, cắm mốc theo hiệp ước bổ sung

Ba là, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Cam-pu-chia.

Tính chất pháp lý của đường biên giới Việt Nam - Campuchia phức tạp hơn so vớiđường biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Trung Quốc, do vừa là đường biên giớiquốc tế (phần Nam Kỳ - Campuchia), vừa là đường biên giới hành chính do chính quyềnthực dân Pháp thiết lập (phần Trung Kỳ - Campuchia) Năm 1979, sau khi Campuchiathoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, lập ra nước Cộng hòa nhân dân Campuchia, việcgiải quyết dứt điểm vấn đề biên giới cũng là một trong những ưu tiên của hai nước Trên

cơ sở đó, Việt Nam và Campuchia đã tiến hành ký kết Hiệp định về vùng nước lịch sử(năm 1982), Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới và Hiệp định về quy chếbiên giới quốc gia (ngày 20/7/1983), Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia (ngày27/12/1985) Tuy nhiên, sau đó, do tình hình chính trị nội bộ của Campuchia, vấn đềphân giới, cắm mốc giữa hai nước bị gián đoạn trong một thời gian

Phân vùng biên giới quốc gia trên biển

- Với Thái Lan: Tháng 9-1992, Việt Nam và Thái Lan bắt đầu tiến hành đàm phánphân định vùng biển giữa hai nước và hai bên kết thúc đàm phán vào năm 1997,

Ngày đăng: 19/03/2022, 14:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w