Câu 2: Đánh giá hành vi của Trung Quốc và một số quốc gia khác chiếm đóng các thực thể ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới góc độ nguyên tắc cấm sử dụng vũ
Trang 1KHOA LUẬT - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
-0-0 -BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
Câu hỏi:
Câu 1: Phân tích các cơ sở pháp lý quốc tế xác lập chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối
với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa?
Câu 2: Đánh giá hành vi (của Trung Quốc và một số quốc gia khác) chiếm đóng các thực
thể ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới góc độ nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực/ đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế?
Mã lớp học phần: INL 2101 Giảng viên: TS Đào Thị Thu Hường Nhóm thực hiện: Nhóm 3
Năm học: 2022-2023
Hà Nội, năm 2022
Trang 2Câu 1: Phân tích các cơ sở pháp lý quốc tế xác lập chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
a Nguyên tắc “chiếm hữu thật sự”
Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thichủ quyền của mình đối với 2 quần đảo này từ khi chúng còn là đất vô chủ, ít nhất là từthế kỷ thứ XVII Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền của Việt Nam ở 2 quần đảo này
là rõ ràng, liên tục, hòa bình, phù hợp với nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ hiện hành nguyên tắc chiếm hữu thật sự - của Công pháp quốc tế Việt Nam có đầy đủ chứng cứlịch sử có giá trị pháp lý để chứng minh và bảo vệ chủ quyền của mình đối với 2 quầnđảo này qua các thời kỳ lịch sử
-* Dựa trên tiến trình thời gian để chứng minh “nguyên tắc chiếm hữu thật sự”
Từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX, trải qua 3 triều đại khác nhau, một chứng
cứ hết sức quan trọng không thể không đề cập khi chứng minh nhà nước phong kiếnViệt Nam đã quản lý thật sự hiệu quả đối với 2 quần đảo này Đó là việc tổ chức đơn vịhành chính của Hoàng Sa (quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) trong hệ thống tổ chứchành chính của nhà nước lúc bấy giờ Đội Hoàng Sa là một tổ chức do nhà nước lập ra
để quản lý, bảo vệ, khai thác 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đội Hoàng Sa, vềsau lập thêm Đội Bắc Hải do Đội trưởng Đội Hoàng Sa kiêm quản, đã hoạt động theolệnh của 7 đời chúa, từ chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần cho đến khiphong trào Tây Sơn nổi dậy, không gặp phải bất kỳ sự tranh chấp, phản kháng nào
Trong thời kỳ Việt Nam là thuộc địa của Pháp, với tư cách là đại diện cho Nhà
nước Việt Nam về mặt đối ngoại, Cộng hòa Pháp đã tiếp tục thực thi chủ quyền củaViệt Nam trên hai quần đảo này Sau đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đượctrao cho chính quyền của vua Bảo Đại
Đến thời kỳ Việt Nam tạm thời chia 2 miền Nam Bắc, các chính thể miền Nam
Việt Nam đã liên tục thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước, cũng như bằng việc triển khai thựcthi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này Từ tháng 4/1975, các lực lượng Quân giảiphóng nhân dân Nam Việt Nam đã tiếp quản hai quần đảo này
Trang 3Sau khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam đã tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa
và quần đảo Trường Sa, bằng nhiều hoạt động, vừa đảm bảo đầy đủ và đúng thủ tụctrên phương diện đấu tranh pháp lý, vừa củng cố và duy trì sự hiện diện của quân vàdân trên các thực thể địa lý đang đặt dưới sự quản lý của nhà nước Cộng hòa XHCNViệt Nam
Vậy, Việt Nam luôn duy trì chủ quyền của mình với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa trong suốt tiến trình lịch sử kể từ khi khai phá đến hiện nay
* Căn cứ vào các tư liệu thành văn và bản đồ của các nước phương Tây
Hiện tại các trung tâm lưu trữ trên thế giới còn lưu giữ nhiều bản đồ cổ, trong đóthể hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam Đây là sự thừa nhậncủa quốc tế về sự quản lý, khai thác của nhà nước phong kiến Việt Nam đối với haiquần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
Trong một công trình của nhà nghiên cứu M.G Dumoutier đã đề cập đến một tậpbản đồ Việt Nam vẽ vào cuối thế kỷ 15 gồm 24 mảnh, trong đó có mảnh thứ 19 đã thểhiện rõ ràng ở ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi có một bãi cát trải dài 500 - 600 hải lý mangtên Bãi Cát Vàng Trong rất nhiều bản đồ cổ giai đoạn thế kỷ 16, 17, 18 và 19 của cácnhà truyền giáo, hàng hải Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan… đều đã vẽ hai quầnđảo Hoàng Sa và Trường Sa thành một dải liền nhau, hình lá cờ đuôi nheo nằm trải dàingoài khơi dọc theo bờ biển miền Trung Việt Nam, trong đó có rất nhiều chấm nhỏ
biểu thị các hòn đảo, bãi cát với hàng chữ Isle de Pracel (Bản đồ: Livro da marinharia – fm Pinto năm 1560; Sinensis Oceanus (Biển Đông) năm 1595; bản đồ Indiae Orientalis (bản đồ Đông Ấn) năm 1606 tại Amsterdam - Hà Lan, ) Điều này phản
ánh sự hiểu biết sâu sắc rất chính xác của người phương Tây về mối quan hệ giữa quầnđảo Hoàng Sa và nước Đại Việt từ thế kỉ 16 đến đầu thế kỷ 19
Những tấm bản đồ của phương Tây về 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa tronghơn hai thế kỷ qua hoàn toàn phù hợp với những nội dung đã được ghi chép lại trongcác văn kiện pháp lý, sử sách và bản đồ cùng thời của Việt Nam; là nguồn tư liệu quýcủng cố một cách vững chắc các cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với 2quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trang 4b Công ước Luật Biển năm 1982
Theo quy định của pháp luật quốc tế, ngoài việc xác lập lãnh thổ đối với vùngđất vô chủ, quốc gia ven biển được mở rộng chủ quyền và quyền chủ quyền ra cácvùng biển theo nguyên tắc nhất định Những quy định về hoạch định lãnh hải, đặcquyền kinh tế, đảo và thềm lục địa của quốc gia và giữa các quốc gia có bờ biển đốidiện, liền kề được quy định trong Công ước Luật Biển 1982 Theo những quy định củacông ước này, "Vùng yêu sách bản đồ 9 vạch" (đường lưỡi bò) của Trung Quốc là tráivới thực tiễn và Pháp luật quốc tế
c Chủ quyền quốc gia Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định và ghi nhận tại các hội nghị quốc tế.
Hội nghị San Francisco (từ ngày 04 đến 08/9/1951, với sự tham dự của 51 quốc
gia) là hội nghị quốc tế lớn nhất sau Chiến tranh thế giới thứ hai nhằm giải quyết vấn
đề quy thuộc các vùng lãnh thổ sau chiến tranh Tại Hội nghị, có hai sự kiện liên quantrực tiếp đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Ngày 5/9/1951, Hội nghị đã bác bỏ đề nghị của Ngoại trưởng Liên Xô A.Gromyko:
“Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng
Sa và những đảo xa hơn nữa ở phía Nam” Ngày 7/9/1951, phát biểu tại hội nghị, Thủtướng kiêm Ngoại trưởng, Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, ông Trần Văn Hữutuyên bố: “Và cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt nhữngmầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đờicủa chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” Lời tuyên bố này khônggặp bất cứ sự phản đối hoặc bảo lưu nào của đại diện các quốc gia tham dự Hội nghị.Như vậy, Hội nghị hòa bình San Francisco năm 1951 đã mặc nhiên công nhận chủquyền của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Hội nghị Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương là văn bản pháp lý quốc tế ghi
nhận các nước tham dự Hội nghị trong đó có phái đoàn của Trung Quốc đã cam kết tôntrọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Nhà nước Việt trong đó
có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Như vậy, từ những tư liệu lịch sử rõ ràng, và căn cứ vào những nguyên tắc của
luật pháp và tập quán quốc tế, có thể thấy chủ quyền của Việt nam đối với hai quần
Trang 5đảo Hoàng Sa và Trường Sa là phù hợp với các quy định của luật quốc tế Thứ nhất,Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sakhi mà các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào Thứ hai, Nhànước Việt Nam đã thực hiện một cách thật sự, liên tục và hòa bình chủ quyền của ViệtNam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Ngoài ra Nhà nước Việt Nam luônluôn bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa của mình trước mọi mưu đồ và hànhđộng xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối vớihai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Câu 2: Đánh giá hành vi (của Trung Quốc và một số các quốc gia khác) chiếm đóng các thực thể ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới góc độ nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực/ đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế
Theo nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực/đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc
tế được công nhận chính thức vào năm 1945 (sau hai cuộc chiến tranh thế giới) tạiKhoản 4 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc (sau đây viết tắt là LHQ) Sau đó nguyêntắc ngày càng được đề cao và làm rõ trong các tuyên bố và các hiệp ước của LHQ Nộidung chính của nguyên tắc là các quốc gia bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lựctrong các quan hệ quốc tế xâm phạm đến sự độc lập của các quốc gia khác hoặc làmtrái với các quy định của LHQ Trong nội dung của nguyên tắc bao gồm các quy định
về việc cấm xâm lược hoặc là trung gian cho sự xâm lược vào lãnh thổ một quốc giakhác; xúi giục, kích động sử dụng vũ lực; hành động xâm phạm biên giới; dùng vũ lực
để giải quyết mâu thuẫn…
Xét vấn đề chủ quyền của Trường Sa và Hoàng Sa, đây là hai quần đảo thuộcchủ quyền của Việt Nam đang xảy ra rất nhiều tranh chấp Những cuộc tranh chấp diễn
ra dưới rất nhiều hình thức, trong đó các quốc gia khác đã có những hành động vi phạmvào nguyên tắc trên của LHQ
* Hành vi chiếm các quốc gia khác chiếm đóng các thực thể trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Hành vi chiếm đóng trái phép
Trang 6Bãi đá Vành Khăn 1995 - Lấy lý do neo đậu trong điều kiện thời tiết
xấu để huy động 220 tàu cá giả trang được bọcthép và trang bị vũ khí hạng nhẹ tiến vào đánhchiếm bãi đá này
Quần đảo Hoàng Sa 10/1956 Trung Quốc Bãi đá Châu Viên, Bãi đá Chữ Thập, Bãi đá
Gạc Ma, Bãi đá Gaven, Bãi đá Tư Nghĩa, Bãi
1971 đến 1973: đưa quân đội đến chiếmđóng 6 đảo
- 1977 đến 1978, tiếp tục chiếm đóng trái phép
2 đảo nữa
- 1980, dùng quân đội tiếp tục chiếm đóng 1đảo phía Nam Trường Sa là đảo Công Đo
Trang 7Bãi An Nhơn
Malaysi
- a
Đá Én Ca, Đá HoaLau, Đá Kỳ Vân,
Đá Sác Lốt, ĐáSuối Cát, Đá KiêuNgựa, Bãi ThámHiểm
1983 1984
1983 – 1984, Malaysia cho quân chiếm đóng
3 bãi ngầm ở phía Nam Trường Sa là HoaLau, Kiệu Ngựa, Kỳ Vân
- Năm 1988, họ đóng thêm 2 bãi ngầm nữa là
Én Đất và Thám Hiểm
Hành vi của Trung Quốc đã vi phạm nội dung: cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc sử dụng lực lượng vũ trang vượt qua biên giới tiến vào lãnh thổ quốc gia khác; cấm các hành vi đe dọa trấn áp bằng vũ lực và không được sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực như một biện pháp để giải quyết tranh chấp của nguyên tắc cấm sử
dụng vũ lực/ đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế
Việc sử dụng hải quân hay thậm chí là cả tàu khu trục và tên lửa nhằm đánhchiếm các thực thể thuộc chủ quyền Việt Nam là hành vi "sai trái và vô nhân đạo" củalực lượng hải quân Trung Quốc như lời của Người Phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam
và "đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế." Không nhữngvậy, những hành vi bạo lực này còn diễn ra nhiều lần và có xu hướng manh động hơn.Điển hình là việc quốc gia này lấy lý do neo đậu trong điều kiện thời tiết xấu để huyđộng các tàu cá giả trang được bọc thép và trang bị vũ khí hạng nhẹ tiến vào đánhchiếm bãi đá Vành Khăn, đồng thời cũng nhiều lần giao tranh bằng chiến hạm, gâythiệt hại về người và tài sản cho hải quân Việt Nam Hành vi của lực lượng hải quân
Trang 8Trung Quốc rõ ràng là "sự phớt lờ" các tiêu chuẩn quốc tế trong hoạt động hành pháptrên biển và là "sự bất chấp" các yêu cầu về nhân đạo trong việc sử dụng vũ lực theoquy định của luật pháp quốc tế Bị vong lục ngày 12/5/1988 của Trung Quốc, một vănbản chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, cũng khẳng định rõ một nguyên tắc cơbản của luật pháp quốc tế là “xâm lược không thể sinh ra chủ quyền” đối với một vùnglãnh thổ, nhưng những hành vi trên đây của Trung Quốc hoàn toàn đi ngược lại vớinhững tuyên bố trước đó của nước này.
Tương tự như hành vi của Trung Quốc, hành vi chiếm đóng trái phép của
Philippines và Malaysia trên những thực thể của Việt Nam cũng vi phạm nội dung cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc sử dụng lực lượng vũ trang vượt qua biên giới tiến vào lãnh thổ quốc gia khác của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực/ đe dọa sử dụng vũ lực
trong quan hệ quốc tế
Từ góc độ luật pháp quốc tế, “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượngcủa việc thụ đắc bởi một quốc gia khác bằng việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực Việc thụđặc lãnh thổ bằng việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp”(Nghị quyết số 26/25 (1970) của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc cơ bảncủa luật pháp quốc tế) Vì vậy, Việt Nam có lý do chính đáng để không công nhận chủquyền của những quốc gia này ở trên những thực thể mà họ chiếm đóng Những thựcthể này hoàn toàn thuộc chủ thể của VN, việc xâm chiếm này là bất hợp pháp, vi phạmnguyên tắc nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực/ đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc
tế Trước hành động xâm lược của mình, chính các quốc gia này hoàn toàn không đượccông nhận chủ quyền với các thực thể thuộc chủ quyền của Việt Nam Họ sẽ phải đối
mặt với các chỉ trích của cộng đồng quốc tế, phải rút quân, vũ khí trở về Không chỉ vậy, trên cơ sở các hành động sử dụng vũ lực gây thiệt hại cho Việt Nam của các quốc
gia chiếm đóng trái phép, Việt Nam cần được hưởng những bồi thường xứng đáng chothiệt hại này
Câu 1: Phân tích các cơ sở pháp lý quốc tế xác lập chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa?
- Công ước Luật biển năm 1982: Năm 1977, VN đã cử phái đoàn đến tham gia
vào quá trình kí kết Công ước Luật biển năm 1982 Ngày 23/06/1994 VN đã phê chuẩn công ước Luật biển năm 1982 tỏ rõ ý chí thực hiện các quyền trong giới hạn cho phép của Công ước, có tính đến các quyền tự do của các quốc gia khác Công ước Luật biển năm 1982 cho phép các quốc gia ven biển được hưởng quy chế thềm lục địa để tham dò và khai thác tài nguyên Mọi sự tùy tiện chiếm cứ của nước ngoài có bằng vũ lực không đều bất hợp pháp và vô hiệu lực
Trang 9Khoản 1 Điều 76 - Công ước Luật Biển năm 1982: Định nghĩa thềm lục địa có quy
định: “1 Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó khoảng cách gần hơn Về mặt địa lí, đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa chỉ cách tỉnh Quảng Ngãi 135 hải lí và đảo Hoàng Sa chỉ cách lục địa Việt Nam 160 hải lý Vì vậy, quần đảo Hoàng Sa nằm trong thềm lục địa của Việt Nam Bãi Tư Chính và đảo Trường Sa chỉ cách đất liền Việt Nam từ 150 đến 200 hải lí, nằm trong thềm lục địa của Việt Nam Không chỉ căn
cứ vào mặt địa lí mà dưới góc độ nghiên cứu về mặt địa chất, các nghiên cứu khoa học đều cho thấy quần đảo Hoàng Sa là một thành phần của Việt Nam Về địa hình, đáy biển vùng quần đảo Hoàng Sa là một cao nguyên chìm dưới đáy biển nối tiếp liên tục lục địa Việt Nam Đối với quần đảo Trường Sa về mặt địa chất và địa hình thì đáy biển các đảo thuộc quần đảo này là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển Công ước 1982 là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế, Công ước 1982 có tính đến lợi ích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước phát triển hay là nước đang phát triển,… Công ước 1982 đã trù định toàn bộ các quy định liên quan đến các vùng biển mà một quốc gia ven biển có quyền được hưởng, cũng như những quy định liên quan đến việc sử dụng, khai thác biển và đại dương, cụ thể là: Quy chế pháp lý của tất cả các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; Chế độ pháp lý đối với biển cả và Vùng - di sản chung của loài người; các quy định hàng hải và hàng không; việc sử dụng và quản lý tài nguyên biển bao gồm tài nguyên sinh vật và không sinh vật; Vấn đề bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninh trật tự trên biển; việc giải quyết tranh chấp và hợp tác quốc tế về biển; Quy chế hoạt động của cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương, Uỷ ban ranh giới ngoài thềm lục địa, toà án Luật biển quốc tế, hội nghị các quốc gia thành viên Công ước, …
Philippines đã gửi hai công hàm đến Liên hiệp quốc Trong công hàm đầu tiên , Philippines đã bác bỏ các yêu sách của Bắc Kinh, và lần đầu tiên quốc gia này sử dụng Phán quyết của Toà trọng tại trong vụ kiện Biển Đông giữa quốc gia này và Trung Quốc làm cơ sở pháp lý để phản đối lại Trung Quốc Việt Nam đã tiếp nối theo chuỗi tranh biện này và đệ trình lên Liên hiệp quốc phản đối hai Công hàm của Trung Quốc Trong Công hàm , Việt Nam ngoài việc lặp lại chủ quyền của mình tại Biển Đông, còn khẳng định cơ sở pháp lý duy nhất cho việc xác định các vùng biển pháp lý trên biển là Công ước Luật biển 1982, trực tiếp loại bỏ
Trang 10quyền lịch sử của Bắc Kinh tại khu vực này Căn cứ vào Công ước Luật biển, Hà Nội cũng khẳng định hành động vẽ hệ thống đường cơ sở thẳng quanh các cấu trúc xa nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không có cơ sở pháp lý Các lập luận trên của Việt Nam đều theo đúng với nội dung của Phán quyết của Toà trọng tài trong vụ kiện Biển Đông năm 2016 Như vậy, sau khi Trung Quốc phản đối Philippines bằng việc bác bỏ Phán quyết này, Việt Nam đã lập tức dùng các lập luận trong Phán quyết để phản đối Trung Quốc Phán quyết của Tòa trọng tài ngày 12/7/2016 đối với việc kiện của Philippines là cơ sở pháp lý, biện pháp hòa bình để bác bỏ quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng biển nằm trong đường cắt khúc 9 đoạn của Trung Quốc có ý nghĩa tích cực đối với đất nước chúng ta trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc trên Biển Đông, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; khẳng định lập trường nhất quán của Đảng, Nhà nước ta giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trong đó có đấu tranh trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Căn cứ phương thức xác lập chủ quyền quốc gia: phương thức chiếm hữu
Theo quan điểm của khoa học pháp lí hiện đại, chiếm cứ hữu hiệu là việc một quốc gia thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên một lãnh thổ vô chủ hoặc bị bỏ rơi Như vậy, theo luật quốc tế, bản thân quyền phát hiện đầu tiên một lãnh thổ vô chủ không đủ để tạo ra danh nghĩa pháp lý cho quốc gia phát hiện Chiếm cứ hữu hiệu theo quy định của luật quốc tế phải đảm bảo các nội dung:
- Hành vi chiếm cứ phải hợp pháp, đúng đối tượng và bằng các biện pháp hòa bình Mọi hành động sử dụng vũ lực để chiếm cứ một vùng lãnh thổ quốc gia khác đều bị coi là vi phạm luật pháp quốc tế.
- Hành vi chiếm cứ được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, các nhân viên nhà nước hoặc một tổ chức công được nhà nước ủy quyền.
- Hành vi chiếm cứ phải là thực sự, tức là hành vi chiếm cứ của quốc gia không chỉ được xác lập bằng tuyên bố công khai, rõ ràng mà quốc gia còn phải thiết lập và điều hành trên thực tế hoạt động của cơ quan nhà nước, đưa công dân của nước mình tới định cư trên lãnh thổ mới, thiết lập trên đó bộ máy quản lý hành chính, khai thác tiềm năng kinh tế, thể hiện vùng lãnh thổ đó trên bản đồ hành chính của quốc gia… Một tuyên bố chiếm cứ không kèm theo hành động
cụ thể chỉ là một sự phát hiện đơn giản không đủ tạo thành danh nghĩa chủ quyền.
- Hành vi chiếm cứ phải được thực hiện với mục đích tạo ra một danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ Những hành vi như đo đạc thiên văn, đi thám hiểm… mà không
Trang 11thể hiện ý định chiếm hữu lãnh thổ cho nhà nước không được coi là chiếm hữu
- Hành vi chiếm cứ phải được thực hiện một cách liên tục, hòa bình trong một thời gian dài không có tranh chấp Áp dụng nguyên tắc nói trên của pháp luật quốc tế vào trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý đều cho thấy rằng các Nhà nước Việt Nam thời phong kiến đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này, thực thi chủ quyền ở đây ít nhất là
từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa hề thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào, việc chiếm hữu được thực hiện trong một thời gian dài và hoàn toàn không gặp bất cứ sự phản đối hay tranh chấp nào từ phía các nước khác, đảm bảo được
cả nguyên tắc thật sự và nguyên tắc công khai Trong thời kì Pháp thuộc, Pháp
đã đại diện cho Việt Nam trong việc thực thi và bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Đến chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chính quyền đã thiết lập ngay lập tức sự kiểm soát của quốc gia tại Hoàng Sa, Trường Sa và đối phó với Trung Quốc trong tranh chấp này Khi nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời ngày 2-7-1976 là bên kế thừa hợp pháp của hai nhà nước trước đó, tiếp tục sở hữu danh nghĩa pháp lý đối với 2 quần đảo cho đến nay Về vấn đề này sẽ được làm rõ tại phần cơ sở thực tiễn.
� Theo phương thức chiếm hữu này: Việc chiếm hữu và thực thi chủ
quyền phải hòa bình, liên tục, rõ ràng; dùng vũ lực để xâm chiếm là phi pháp, không được thừa nhận Mà Việt Nam đã thực thi được tất cả các điều kiện trong phương thức này thì đương nhiên 2 quần đảo này thuộc chủ quyền của Việt Nam Phương thức thụ đắc lãnh thổ của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là theo nguyên tắc chiếm hữu thật sự Việt Nam đã chính thức tuyên bố rằng: Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, khi chúng còn là đất vô chủ, ít nhất là từ thế kỷ XVII Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thật sự, liên tục, hòa bình và rõ ràng Việt Nam hoàn toàn có
cơ sở pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định và bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình.
Câu 2: Đánh giá hành vi ( của Trung Quốc và một số quốc gia khác ) chiếm đóng các thực thể ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới góc độ nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực/ đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế?
Trước hết, việc đánh giá các hành động của Trung Quốc ở Trường Sa như là sử
dụng vũ lực, theo luật pháp quốc tế sẽ mở ra khả năng đáp ứng bằng hành động