1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tập cuối kỳ công pháp quốc tế về xác lập chủ quyền hợp pháp của việt nam đối với hoàng sa và trường sa

20 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 116,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 2: Đánh giá hành vi của Trung Quốc và một số quốc gia khác chiếm đóng các thực thể ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới góc độ nguyên tắc cấm sử dụng vũ

Trang 1

KHOA LUẬT - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

-0-0 -BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Câu hỏi:

Câu 1: Phân tích các cơ sở pháp lý quốc tế xác lập chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối

với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa?

Câu 2: Đánh giá hành vi (của Trung Quốc và một số quốc gia khác) chiếm đóng các thực

thể ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới góc độ nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực/ đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế?

Mã lớp học phần: INL 2101 Giảng viên: TS Đào Thị Thu Hường Nhóm thực hiện: Nhóm 3

Năm học: 2022-2023

Hà Nội, năm 2022

Trang 2

Câu 1:

Chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa đã được xác lập từ xưa đến nay Các nguyên tắc, quy phạm pháp luật xác lập chủ quyền lãnh thổ chủ yếu được sử dụng để phân xử các trường hợp tranh chấp lãnh thổ, để chứng minh hay làm

cơ sở chứng minh các quyền của quốc gia đối với lãnh thổ tranh chấp

Trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ, học thuyết và thực tiễn quốc tế chia ra 5 phương thức thụ đắc lãnh thổ gồm: Tác động của thiên nhiên; Chiếm hữu theo thời hiệu; Xâm chiếm; Chuyển nhượng; Chiếm hữu thực sự (chiếm cứ hữu hiệu)

Tuy nhiên, cơ sở pháp lý để xác lập được phổ biến và hợp pháp nhất thì có 2

phương pháp, đó là: Chuyển nhượng và Chiếm hữu thực sự.

Chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được xác lập theo phương thức "Chiếm hữu thật sự"

Điều kiện áp dụng: Vùng lãnh thổ đó vô chủ (nghĩa là không nằm trong bản đồ hành chính của bất kỳ quốc gia nào) hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi (tuyên bố hoặc im lặng thể hiện vùng này không thuộc quốc gia nữa) Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải do Nhà nước tiến hành Quốc gia chiếm hữu phải thực thi chủ quyền của mình ở những mức độ cần thiết, tối thiểu thích hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó Việc thực thi chủ quyền phải liên tục, hòa bình

Cụ thể, các cơ sở pháp lý quốc tế xác lập chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa gồm:

Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thực sự là vô chủ cho đến thế kỷ XVII

Mặc dù đã phát hiện hai quần đảo này từ khá sớm, những bằng chứng mà Trung Quốc đưa ra là các bản đồ do phía Trung Quốc ấn hành, đặc biệt là vào thời nhà Thanh đều xác định cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam và không nhắc đến địa danh “Xisha qundao” (quần đảo Hoàng Sa) Đây là những bằng chứng quan trọng khẳng định các quần đảo này chưa thuộc về phía Trung Quốc cho đến khi các chính quyền Việt Nam phát hiện và thiết lập chủ quyền, tại thời điểm nó vẫn còn là vô chủ

Trong khi đó, những bằng chứng của Việt Nam cho ta thấy là quốc gia đầu tiên tuyên bố và thực thi chủ quyền tại hai quần đảo, khi đó là một lãnh thổ vô chủ Việt Nam có thể dựa vào các tài liệu như Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư năm 1686, trong Hồng Đức Bản Đồ, Toàn Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ bản đồ và Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn năm 1776 trong đó có sự mô tả cụ thể vị trí địa lý, khoảng cách của địa danh Bãi Cát vàng (Hoàng Sa) hoặc ghi rõ về những hoạt động chủ quyền tại đây như việc thành lập các Hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải thời chúa Nguyễn

Việc chiếm hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoạt động nhân danh Nhà nước Việt Nam Theo các tài liệu, phía Trung Quốc đều nhắc lại rằng các

ngư dân Trung Quốc đã đến các đảo trên biển đông vào mọi thời kỳ Tuy nhiên, luận

cứ này không đáp ứng được tiêu chí quan trọng của nguyên tắc chiếm hữu thực sự: hành vi mang tính nhà nước Trong khi đó, Việt Nam có thể dựa vào những bằng

Trang 3

chứng khá rõ ràng về sự tiếp nối của một loạt các “hành động nhân danh nhà nước” từ chiếm hữu cho đến quản lý và khai thác Các hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải được thành lập ở thế kỷ XVII bằng những sắc chỉ nhà nước của các Chúa Nguyễn về hai đội này, trong đó quy định rõ về quân số, địa phương tuyển người, nhiệm vụ cụ thể, thời gian thực hiện các hoạt động khai thác, đánh bắt hải sản, kiểm tra, giám sát và lịch trình đi

về, chế độ khen thưởng, đãi ngộ Ngoài ra, các tư liệu đương đại của cả Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây đều ghi chép rất cụ thể, rõ ràng và thống nhất về sự hiện diện của đội Hoàng Sa vào thời kỳ đầu của các Chúa Nguyễn trong thế kỷ XVII

Việc chiếm hữu là liên tục Các bằng chứng của Việt Nam đều khẳng định tính

tiếp nối, liên tục của việc chiếm hữu kể từ khi phát hiện, sau đó đặt dưới cai quản hành chính và thực thi chủ quyền từ thời các Chúa Nguyễn, tiếp là nhà Tây Sơn, các triều đại nhà Nguyễn cho đến khi thực dân Pháp hoàn tất việc chiếm đóng thuộc địa và đến khi Việt Nam tuyên bố độc lập Việt Nam có thể sử dụng những sự kiện chứng tỏ sự tiếp nối và chuyển giao quyền quản lý cho chính quyền đô hộ thực dân Pháp sau Hiệp ước ngày 06/6/1884, trong đó có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Sự kiện đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc không ảnh hưởng đến tính tiếp nối liên tục về chủ quyền của Việt Nam, bởi

lẽ từ năm 1954 đến 1975 trên thực tế hai quần đảo này nằm dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Chính quyền này sau đó đã củng cố chủ quyền của mình bằng việc đóng quân tại đây cho đến năm 1975 và sau đó nước CHXHCN Việt Nam đã giải phóng, tiếp quản chứng ngay sau khi đất nước thống nhất cho đến nay

Sự chiếm hữu của Việt Nam là hòa bình, được dư luận đương thời chấp thuận

Việt Nam cũng có thể sử dụng ngay những tài liệu từ phía Trung Quốc để làm rõ khái niệm “sự thừa nhận” trong vấn đề chiếm cứ lãnh thổ thực sự Các tài liệu này đều không cho thấy Trung Quốc đã từng phản ứng đối với chủ quyền của các triều đại phong kiến Việt Nam trong suốt thế kỷ 18 - 19; không có một đòi hỏi nào đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Ngược lại, Trung Quốc đã chính thức thừa nhận chủ quyền của Việt Có thể kể đến là Sách trắng về chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do chính quyền VNCH công bố ngày 14/2/1975 Từ sau năm

1975 đến nay Nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo cũng như có những hành động kiên quyết phản đối mọi vi phạm của phía Trung Quốc

Tính thực sự trong việc chiếm hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Các phán quyết quốc tế về tranh chấp lãnh thổ đã khẳng định tiêu chí “thực sự” có ý nghĩa quan trọng để khẳng định chủ quyền Những bằng chứng mà phía Trung Quốc đưa ra đã không cho thấy sự “chiếm hữu thực sự” một “lãnh thổ vô chủ” Trái lại, những bằng chứng của phía Việt Nam đã khẳng định việc thực thi trên thực tế, lâu dài

và thực sự các hành vi chủ quyền Cụ thể, Việt Nam có thể đưa ra những chứng cứ về các sự kiện từ thế kỷ thứ XVII, sau khi đặt chân lên hai quần đảo, nhà Nguyễn đã liên tục trong các năm 1834, 1835 và 1836 tổ chức đo đạc, khảo sát, dựng bia, cắm mốc, trồng cây trên quần đảo, khai thác hải sản và hàng hoá; đặt bia đá trên quần đảo Hoàng

Trang 4

Sa và xây chùa, trồng cây và cột trên đảo vào năm 1833; vẽ bản đồ; xây dựng miếu trong đó khắc ghi rõ thời gian (năm Minh Mệnh thứ 17, Bính Thân (1836) và mục đích của việc đó là lưu dấu để ghi nhớ Những bằng chứng về tiếp tục các hành vi thực hiện chủ quyền trong khoảng thời gian Pháp cai trị tại Việt Nam có thể được sử dụng bao gồm việc sáp nhập quần đảo Trường Sa vào đế quốc Pháp; xây dựng một đèn biển ở quần đảo Hoàng Sa, tiến hành các cuộc tuần tiễu trong vùng biển hai quần đảo Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong luật quốc tế và sự vận dụng vào lập luận khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần hảo Hoàng Sa và Trường Sa Sau đó, việc cho quân ra tiếp quản và một loạt các hành vi chủ quyền khác của chính quyền VNCH tại đây bao gồm việc sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam, thông báo về dự định tiến hành các cuộc khảo sát dầu lửa khu vực ngoài khơi bờ biển miền Trung, đối diện với quần đảo Hoàng Sa ngày 24/9/1973 Sau ngày 2/7/1976, nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan trực tiếp đến hai quần Việc thông qua Luật biển ngày 02/7/2012 vừa qua là hành vi pháp lý quan trọng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo, quần đảo, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Như vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được có thể được hiểu là, xác lập theo phương thức "Chiếm hữu thật sự"

Câu 2:

Luật quốc tế cổ điển không ngăn ngừa việc sử dụng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ Tuy nhiên, hình thức thụ đắc này yêu cầu ký kết một hiệp ước hòa bình Trong đầu thế kỷ XX, những toan tính đầu tiên nhằm hạn chế việc sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế đã được ghi nhận với học thuyết Drago (1902 - 1907) Cuối cùng, bước quyết định theo hướng cấm sử dụng vũ lực đã được thực hiện bằng việc thông qua Hiệp ước Paris ngày 26.8.1928 (Pacte Briand-Kellogg)

Từ đó trở đi, quy tắc truyền thống sử dụng vũ lực đã bị lên án Ý tưởng này đã được khẳng định lại trong Điều 2, Khoản 4 Hiến chương LHQ

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này quy định,tất cả các quốc gia có nghĩa vụ từ

bỏ sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào bằng bất kỳ cách thức nào không phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc cũng như việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp Các quốc gia gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi của mình Tất cả các hành vi trên đểu là hành vi vi phạm luật quốc tế nghiêm trọng

Cụ thể, các hành vi bao gồm: Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia khác trái với các quy phạm của luật quốc tế; Cấm các hành vi trấn áp bằng vũ lực; Không được cho quốc gia khác sử dụng lãnh thổ nước mình để xâm lược quốc gia thứ ba; Không tổ chức, xúi giục giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các hành vi khủng bố tại quốc

Trang 5

gia khác; Không tổ chức hoặc khuyến khích việc tổ chức các băng nhóm vũ trang, lực lượng vũ trang phi chính quy, lính đánh thuê để đột nhập vào lãnh thổ quốc gia khác

Trước hết, theo nguyên tắc này thì vũ lực là các hành động sử dụng sức mạnh vũ trang chống lại quốc gia độc lập có chủ quyền hay việc sử dụng lực lượng vũ trang để gây sức ép, đe dọa quốc gia khác nhằm mục đích chính trị hoặc có thể hiểu rộng hơn là các biện pháp kinh tế, chính trị, quân sự nhằm chống lại các quốc gia khác Vậy hành

vi sử dụng vũ lực có thể là việc một quốc gia sử dụng lực lượng vũ trang của mình tấn công vào lãnh thổ của một quốc gia độc lập khác nhằm chiếm đóng buộc quốc gia đó phải phục tùng hoặc làm theo những gì mình yêu cầu để đạt được lợi ích

Thêm vào đó, việc sử dụng vũ lực trên biển được hiểu là việc sử dụng lực lượng

vũ trang trên biển để tiến hành các hoạt động trên không gian biển nhằm chống lại một quốc gia độc lập có chủ quyền hoặc để gây sức ép, đe dọa quốc gia khác nhằm đạt được mục đích nhất định Theo đó, hành vi sử dụng vũ lực trên biển ngày nay không chỉ được biểu hiện là các hành vi hung hăng trên thực địa mà còn là sự áp đặt ý chí một cách phi lý, cản trở các quốc gia khác thực thi các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên biển

Trong nguyên tắc này không chỉ cấm hành vi sử dụng vũ lực mà còn cấm cả hành vi đe dọa sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực có thể được hiểu là hành vi của các chủ thể luật quốc tế không nhằm mục đích chiến tranh xâm lược mà là để gây sức

ép như là tập trận ở biên giới quốc gia khác, tập trung thành lập căn cứ quân sự ở biên giới trái thỏa thuận hay gửi tối hậu thư để đe dọa quốc gia khác

Hình thức sử dụng vũ lực nghiêm trọng nhất chính là hành vi xâm lược nên pháp luật quốc tế cũng có xác định hành vi xâm lược là việc sử dụng lực lượng vũ trang tiến quân, tấn công vào lãnh thổ của quốc gia khác, bao vây quân sự, chiếm đóng lãnh thổ hay sử dụng không kích hoặc bất kỳ vũ khí nào tấn công quốc gia khác, đóng quân trên lãnh thổ quốc gia khác theo thỏa thuận nhưng đã vi phạm thỏa thuận hoặc kéo dài thời hạn đóng quân ở nước đó Hành vi xâm lược còn có thể là các hành vi tạo điều kiện cho quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại quốc gia khác hay hành vi đưa nhóm vũ trang, lính đánh thuê vào lãnh thổ nước khác với mục đích chống lại chính quốc gia đó Tất cả các hành vi đã nêu trên khi được thực hiện thì đều vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng, đe dọa sử dụng vũ lực trong luật quốc tế

Tuy nhiên pháp luật quốc tế cũng quy định các trường hợp ngoại lệ, đó là trường hợp sử dụng vũ lực do Liên Hợp Quốc hay chính là Hội đồng Bảo an khởi xướng Khi

có hành vi xâm phạm, đe dọa đến hòa bình an ninh quốc tế đã sử dụng các biện pháp phi vũ trang nhưng không hiệu quả thì chính Hội đồng Bảo an của Liên Hợp Quốc sử dụng vũ lực để can thiệp nhằm giữ hòa bình, đảm bảo an ninh quốc tế Trường hợp thứ hai là các quốc gia thực hiện quyền tự vệ cá nhân hay tập thể trong khi bị tấn công vũ trang cho đến lúc Hội đồng Bảo an có biện pháp khác để can thiệp Để thực hiện quyền này thì quốc gia đó cũng phải thỏa mãn các điều kiện là phải thông báo cho Hội đồng

Trang 6

Bảo an, tuyên bố với thế giới về sự kiện bị tấn công của quốc gia mình và việc sử dụng

vũ lực phải được thực hiện khi có hành vi sử dụng vũ trang của quốc gia tấn công mình chứ không phải thực hiện sau khi hành vi sử dụng vũ lực đã kết thúc

Từ việc phân tích nguyên tắc cấm sử dụng, đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, đánh giá hành vi chiếm đóng của Trung Quốc và một số quốc gia khác với các thực thể ở Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

- Đối với trường hợp của Trung Quốc:

Kể từ năm 1974 Trung Quốc đã liên tục nhiều lần thực hiện những hành vi thực hiện ý đồ xác lập chủ quyền ở biển Đông nói chung và quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa nói riêng bằng nhiều phương thức từ việc đưa ra những căn cứ dẫn chứng khoa học, lịch sử không đáng tin cậy, không rõ ràng cho tới những hành vi cưỡng chiếm trắng trợn bằng vũ lực, tàn sát binh lính Việt và còn tỏ thái độ không hợp tác với Việt Nam, cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp tại biển Đông

Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 4/7 cho biết, Việt Nam đã gửi hai văn bản đề nghị Liên Hợp Quốc lưu hành về lập trường của Việt Nam đối với việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, đồng thời bác bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc

Nội dung chính của hai văn bản này là: Trung Quốc đã vi phạm nguyên tắc cấm

đe dọa và sử dụng vũ lực, nên không thiết lập được chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa; Việt Nam cũng chưa bao giờ công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa; Trung Quốc làm gia tăng căng thẳng ở biển Đông bằng các hành động vi phạm luật pháp quốc tế; Các nỗ lực và thiện chí của Việt Nam để giải quyết tình hình căng thẳng thông qua đối thoại và các biện pháp hòa bình khác liên tục bị Trung Quốc khước từ…

Minh chứng được thể hiện xuyên suốt theo chiều dài lịch sử, có thể kể đến như việc chiếm đóng trái phép 7 thực thể ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam và ngang nhiên thực hiện các hoạt động cải tạo Trung Quốc đã chiếm Bãi đá Châu Viên nằm ở phía tây quần đảo Trường Sa từ năm 1988, đưa hàng chục tàu vận tải biển cỡ lớn và các máy móc vào mở rộng bãi đá, xây dựng kênh tiếp cận, đê chắn sóng, bãi đáp trực thăng, các tòa nhà hỗ trợ, cơ quan quân sự, hệ thống cơ sở hạ tầng, các công trình đảm bảo hoạt động cho hệ thống rada, thông tin liên lạc bắt đầu từ năm 2014

Năm 2011, Trung Quốc tăng cường hoạt động quân sự, cho các hạm đội diễn tập tại đây sau đó cho xây dựng các trạm giám sát biển, có các hoạt động tập trận và bay tuần tra Trung Quốc đã có những hành động nhằm xác lập chủ quyền của mình trên phần lãnh thổ chiếm đóng bất hợp pháp từ Việt Nam Trung Quốc đã vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng, đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế bởi họ đã sử dụng lực lượng vũ trang quân đội Trung Quốc tiến quân vào Hoàng Sa- lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam và thực hiện hành vi chiếm đóng bất hợp pháp một thời gian

Trang 7

dài và trong thời gian chiếm đóng có các cuộc diễn tập vũ trang có thể với mục đích đe dọa sử dụng vũ lực

Về những hành vi gần đây của Trung Quốc tại hai quần đảo thuộc chủ quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể kể tới hành vi đặt tên cho 24 đảo, các đá và 55 thực thể khác nhau, lập ra quận tên Tây Sa và Nam Sa, bịa đặt lịch sử

Những sự kiện thể hiện rõ nhất hành vi xâm lược, chiếm đóng của Trung Quốc trong những năm gần đây là xây dựng dàn khoan, sử dụng vòi rồng phun nước với áp suất cao để tấn công các đơn vị an ninh biển cả của Việt Nam, điều động tàu chiến, tàu chở hàng và tàu dân dụng để thực hiện chiến lược “bắp cải” nhằm bao vây và cô lập các thực thể tại hai quần đảo và ngăn chặn sự can thiệp của các chủ thể bên ngoài

Trung Quốc đã cho thấy nhiều động thái sử dụng vũ lực để chiếm đóng các đảo

mà thực tế cho thấy là đã có nổ súng, bạo lực và đổ máu trong quá trình Trung Quốc thực hiện những hành vi ấy Trung Quốc cho thấy thái độ đe dọa sử dụng vũ lực qua các hành vi xây dựng các căn cứ quân sự và điều động khí tài, quân lính và phương tiện

vũ trang ra các thực thể đã bị chiếm đóng, tập trận trên biển Đông và tuyên bố sẽ thực hiện mọi biện pháp để bảo vệ những gì họ đã chiếm đoạt được

- Đối với trường hợp của một số quốc gia khác:

Thứ nhất, Philippines – đất nước đã đưa quân chiếm đóng tại 10 vị trí trong quần đảo Trường Sa Trong suốt tiến trình lịch sử, từ năm 1971 đến năm 1973, Philippines đưa quân chiếm đóng 5 đảo; năm 1977 - 1978, chiếm thêm 2 đảo; năm

1979, công bố Sắc lệnh của Tổng thống Marcos ký ngày 11 tháng 6 năm 1979 gộp toàn

bộ quần đảo Trường Sa, trừ đảo Trường Sa, vào trong một đơn vị hành chính, gọi là Kalayaan, thuộc lãnh thổ Philippines Năm 1980, Philippines chiếm đóng thêm 1 đảo nữa nằm về phía Nam Trường Sa, đó là đảo Condo Đến nay, Philippines chiếm đóng

10 vị trí trong quần đảo này, gồm 7 đảo, đá san hô và 3 bãi cạn, rạn san hô

Thứ hai là Malaysia, tháng 12 năm 1979, Chính phủ Malaysia xuất bản bản đồ gộp vào lãnh thổ Malaysia khu vực phía Nam Trường Sa, bao gồm đảo An Bang và Thuyền Chài đã từng do quân đội Việt Nam Cộng Hòa đóng giữ Năm 1983 – 1984, Malaysia cho quân chiếm đóng 3 bãi ngầm ở phía Nam Trường Sa là Hoa Lau, Kiệu Ngựa, Kỳ Vân Năm 1988, họ đóng thêm 2 bãi ngầm nữa là Én Đất và Thám Hiểm Đến nay, số điểm đóng quân của Malaysia lên đến 7 điểm nằm ở phía Nam quần đảo Trường Sa, tất cả đều là các rạn san hô

Nhìn chung, biểu hiện của hai quốc gia này mang nét tương đồng với Trung Quốc ở chỗ là đưa quân vào chiếm đóng tại các vùng thuộc phần lãnh thổ của Việt Nam – Hoàng Sa, Trường Sa Theo đó, hành vi tự ý quân sự hóa một số khu vực ở Hoàng Sa, Trường Sa như vậy đã trực tiếp gây cản trở thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên biển

Trang 8

Tóm lại, hành vi của Trung Quốc, Philippines và Malaysia đã vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng, đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế

Câu 1: Phân tích các cơ sở pháp lý quốc tế xác lập chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa?

Nguyên tắc chiếm hữu thực sự là một trong những phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ, trong đó chủ thể xác lập danh nghĩa chủ quyền phải có tư cách quốc gia và phải được tiến hành trên một đối tượng lãnh thổ phù hợp (lãnh thổ vô chủ hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi), chiếm hữu thực sự, hòa bình, công khai, liên tục Sau Hiệp ước Saint Germain năm 1919, "Nguyên tắc chiếm hữu thật sự" không còn giá trị pháp lý (nguyên tắc này đã bị hủy bỏ) vì trên thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa Xét về quá trình thụ đắc lãnh thổ, Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã xác lập và thực thi chủ quyền của mình đối với 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng sa từ khi còn là “đất vô chủ”bằng phương pháp chiếm hữu thực sự Cụ thể:

Thứ nhất, Trước khi chịu sự quản lý của Việt Nam, hai quần đảo này chưa có bất kỳ một quốc gia nào xác lập chủ quyền hay tiến hành kiểm soát, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là các hòn đảo vô chủ cho đến thế kỷ XVII Lúc bấy giờ, hai quần đảo được thể hiện liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa và ban đầu được người Việt gọi là Bãi Cát Vàng Đến thế kỷ XVII, với tư cách là nhà nước Đại Việt, chính quyền Đàng Trong đã bắt đầu chiếm hữu và thực thi chủ quyền đối với Trường sa và Hoàng sa Có rất nhiều tư liệu chính thống ghi nhận và vấn đề này đó là các ấn bản sách cổ, chỉ dụ, sắc phong như: “phủ biên tạp lục” (1776) của Lê Quý Đôn, “lịch triều hiến chương loại chí” (1809-1819) của Phan Huy Chú, “An Nam đại quốc họa đồ” (1838) của giám mục người Pháp Louis Taberd, Đặc biệt trong bộ Atlas thế giới của nhà địa lý Philippe Vandermaelen (1827) tại Bỉ đã vẽ và miêu tả rõ quần đảo Trường sa và Hoàng sa thuộc lãnh thổ của Vương quốc An Nam

Thứ hai, việc chiếm hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoạt động nhân danh nhà nước Việt Nam Minh chứng xác đáng nhất là sự hiện diện của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải thành lập dưới sắc chỉ của các chúa Nguyễn Suốt trong 3 thế kỷ, từ thế kỷ XVII đến cuối thế

kỷ XIX, dù trải qua ba triều đại khác nhau, Nhà nước Đại Việt đã thực hiện sứ mệnh thiêng liêng của mình, tiến hành chiếm hữu và thực thi chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng

Sa và quần đảo Trường Sa

Thứ ba, chiếm hữu thực sự: Nước ta thể hiện chủ quyền một cách rõ ràng, phản ánh

mong muốn xác lập chủ quyền với các nước khác Thời nhà Nguyễn tiếp tục sử dụng đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải làm nhiệm vụ khai thác, tuần tiễu, thu thuế và bảo vệ 2 quần đảo Những hoạt động này đã được các văn bản nhà nước ghi nhận, như: châu bản của triều Nguyễn (sau này được UNESCO công nhận), các văn bản của chính quyền địa phương như tờ lệnh, tờ tư, bằng cấp hiện đang được lưu trữ tại các cơ quan lưu trữ nhà nước Với tư cách là người làm chủ, trong nhiều thế kỷ nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhiều lần tiến hành điều tra khảo sát địa hành, tài nguyên, vẽ bản đồ về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Cùng với việc xác lập chủ quyền, chính quyền phong kiến Việt Nam đã có nhiều hoạt động thực tế nhằm duy trì chủ quyền đối với hai quần đảo: dựng bia, cắm mốc chủ quyền trên các hòn đảo và tổ chức đơn vị hành chính tại hai quần đảo Đỉnh cao, vào năm 1816 vua Gia Long sai quân lính

ra quần đảo Hoàng Sa cắm cờ Việt Nam và tuyên bố chủ quyền

Dưới thời Pháp thuộc, suốt trong thời gian đại diện Việt Nam về mặt đối ngoại, Pháp luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: tiến

Trang 9

hành khảo sát hải dương học; cho quân đóng trên một số đảo ở Trường Sa (1933); dựng bia chủ quyền, xây dựng đèn biển, trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở Hoàng Sa, Trường Sa (1938); phản kháng Nhật đặt một số đảo trong quần đảo Trường Sa (1939), và liên tục kiểm soát

Sau năm 1954, các chính quyền miền Nam Việt Nam đã liên tục thực thi chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước và hoạt động thực thi chủ quyền Năm 1956, lực lượng hải quân của chính quyền Sài Gòn tiếp quản các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi Pháp rút quân về nước; xây dựng bia chủ quyền ở các đảo chính (1961-1969) của quần đảo Trường Sa như: Trường Sa, An Bang, Song

Tử Tây; bắt giữ trong một thời gian 82 “ngư dân” Trung Quốc đổ bộ lên một số đảo ở quần đảo Hoàng Sa (1959); Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên

bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ (1974); ghi tên trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam trong danh mục trạm khí tượng của Tổ chức Khí tượng Thế giới; điều chỉnh địa giới hành chính, huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng và huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa Sau khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng và tổng tuyển

cử thống nhất, Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Nhà nước ta đã nhiều lần công bố “Sách Trắng” (năm 1979,

1981, 1988) về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này, cũng như ban hành một số đạo luật liên quan (Luật Biển Việt Nam 2012) Đặc biệt, ngày 14/3/1988, 64 chiến sĩ hải quân

đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc ở Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Việt Nam khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, kiên quyết đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái phía Trung Quốc Việt nam ra sức đấu tranh lên án khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD 981 vào năm 2014; đưa ra minh chứng lịch sử chứng minh chủ quyền hai quần đảo; kêu gọi sự ủng hộ từ phía cộng đồng quốc tế Gần đây nhất, ngày 19/4/2020, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định: Việt Nam phản đối mạnh mẽ việc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” của Trung Quốc và các hành vi vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của nước ta Hành vi sai trái của Trung Quốc không

có lợi cho quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia và gây thêm phức tạp tình hình Biển Đông, khu vực và thế giới

Thứ tư, chiếm hữu hợp pháp: Việt Nam đã duy trì quyền lực thực tế tại 2 quần đảo một

cách hòa bình, công khai, liên tục Các bằng chứng của Việt Nam đều khẳng định tính tiếp nối, liên tục của việc chiếm hữu Từ thời các chúa Nguyễn đến thời Pháp thuộc và sau này khi đã thống nhất đất nước, Việt Nam luôn thể hiện quyền làm chủ đối với Hoàng Sa và Trường Sa Điểm đáng chú ý, chúng ta có thể chứng minh dư luận thế giới đặc biệt là các nước lân cận đã không hề có phản ứng hay bác bỏ quyền chiếm hữu của mình kể từ khi xác lập chủ quyền đến khi có tranh chấp với Trung Quốc Việc khẳng định chủ quyền hai quần đảo trên là của Việt Nam còn được công nhận trong các hiệp ước, hội nghị quốc tế: Hiệp ước Patenôtre (1884); Hội nghị San Francisco (Mỹ) năm 1951; Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) Trải qua thời gian dài chiếm hữu hợp pháp, Việt Nam khẳng định sự hiệu quả trong việc thực thi quyền làm chủ với hai quần đảo Hoàng Sa; Trường Sa

Đặc biệt, chúng ta luôn kiên định bảo vệ chủ quyền biển đảo và chưa bao giờ có ý định

từ bỏ kể cả trong giai đoạn chiến tranh, đất nước chia cắt Minh chứng, Hải quân nhân dân Việt Nam đã chiến đấu anh dũng trong trận hải chiến với Trung Quốc (1988); Việt Nam luôn

Trang 10

đấu tranh chống lại hành vi xâm phạm chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa và kêu gọi sự ủng hộ đông đảo của cộng đồng Quốc tế Việt Nam thực hiện phân chia địa giới hành chính, đưa lực lượng hải quân và xây dựng căn cứ quân sự trên quần Đảo Trường Sa, khuyến khích người dân ra đảo sinh sống, ra khơi bám biển, cùng với đó dần hoàn thiện cơ sở vật chất trên các đảo cũng như khảo sát dự báo khí tượng, thủy văn, thời tiết

Như vậy, suốt hàng trăm năm qua, ngay sau khi có những hoạt động tuyên bố chủ quyền, các chính quyền Việt Nam đã liên tục duy trì quyền lực thực tế của mình tại 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Chủ quyền của Việt Nam hiện nay đối với Hoàng Sa và Trường Sa

có tính kế thừa quốc gia Việt Nam không chỉ thừa hưởng quyền mà còn sẵn sàng chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế của các chính quyền trước Đó là điều kiện đủ, là căn cứ vững chắc, không thể chối cãi để pháp luật quốc tế công nhận chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Câu 2: Đánh giá hành vi (của Trung Quốc và một số quốc gia khác) chiếm đóng các thực thể ở quần đảo hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới góc độ nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế?

Một trong những nguyên tắc quan trọng trong quan hệ quốc tế là Cấm sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực và được ghi nhận trong Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc

Theo đó Cấm sử dụng vũ lực được hiểu: nghiêm cấm việc một chủ thể dùng các loại sức mạnh nhằm khống chế, đe dọa tấn công, tấn công, hoặc cưỡng bức trái pháp luật quốc tế đối với một chủ thể khác trong quan hệ quốc tế Cụ thể như : Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc sử dụng lực lượng vũ trang vượt qua biên giới tiến vào lãnh thổ quốc gia khác; Cấm các hành vi đe dọa trấn áp bằng vũ lực; hoặc cho phép quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành xâm lược chống nước thứ ba; tổ chức, giúp đỡ các băng đảng vũ trang, nhóm vũ trang, lính đánh thuê đột nhập phá hoại lãnh thổ quốc gia khác;

Còn đe dọa sử dụng vũ lực: là hành vi mà các chủ thể luật quốc tế sử dụng không nhằm tấn công xâm lược nhưng để gây sức ép, đe dọa quốc gia khác hoặc các hành vi được sử dụng hàm chứa nguy cơ, mầm mống dẫn đến việc sử dụng vũ lực Trong luật quốc tế, đe dọa sử dụng vũ lực bao gồm các hành vi sau đây: Tập trận ở biên giới giáp với quốc gia khác; Tập trung, thành lập căn cứ quân sự ở biên giới giáp quốc gia trái với thỏa thuận giữa các bên hữu quan; Gửi tối hậu thư đe dọa quốc gia khác

a Xét hành vi của Trung Quốc ta thấy: Hành vi của nước này đối với hai quần

đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đã xâm phạm nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực,

đe dọa sử dụng vũ lực

Đối với quần đảo Hoàng Sa: Năm 1946, lấy cớ giải giáp quân Nhật ra chiếm các đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Chiếm giữ 2 đảo Phú Lâm và Lin Côn từ năm 1956 (sau khi Pháp rời khỏi Đông Dương và chuyển giao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam); Sau trận Hải chiến Hoàng Sa 1974, Trung Quốc chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa: Trung Quốc cho ngư dân có vũ trang lên đảo, sau đó ra lệnh cho hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt đóng tại đảo Hải Nam tháp tùng lực lượng dân quân biển tới hiện trường, về mặt công khai là để bảo vệ ngư dân Trung Quốc, nhưng chủ yếu là để tập trung binh lực Trung Quốc cũng hạ lệnh triển khai hai tàu quét ngư lôi Tháng 8/2021, Trung Quốc tuyên bố tập trận trong vùng biển 100.000km2 trên Biển Đông, bao quanh hơn một nửa quần đảo Hoàng Sa Gần đây nhất, tàu cá QNg 90617 TS và 8 ngư dân Việt Nam đang hoạt động bình thường tại

Ngày đăng: 19/03/2022, 15:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w