MỤC LỤCYPHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG...3 PHẦN II: TÍNH TƯƠNG THÍCH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VỚI CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT...6 1.. Song song với các hoạt
Trang 1Khoa Luật Đại Học Quốc Gia Hà Nội
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ HỌC PHẦN LÝ LUẬN PHÁP
LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
Phân tích tính tương thích giữa một công ước quốc tế
cơ bản về quyền con người với pháp luật Việt Nam.
Lấy minh chứng thông qua pháp luật và thực tiễn thực
thi một công ước quốc tế đó tại Việt Nam.
Sinh Viên Thực Hiện:
Mã SV:
Lớp: Luật Học
Hà Nội, 11/2021
Trang 22
Trang 3MỤC LỤCY
PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG 3
PHẦN II: TÍNH TƯƠNG THÍCH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VỚI CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT 6
1 Tính tương thích của Luật người khuyết tật 6
2 Tính tương thích của Bộ luật lao động 8
3 Tính tương thích của Luật Giáo dục 9
4 Chính sách khuyến khích doanh nghiệp tạo việc làm cho người khuyết tật……… 9
PHẦN III: KẾT LUẬN 12
PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 13
PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG
Trang 4Việt Nam gia nhập các điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người vào đầu những năm 80 của Thế kỷ XX, ngay thời điểm đủ điều kiện tham gia các Công ước quốc tế về quyền con người sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc năm
1977 Đó là dấu mốc rất đáng ghi nhận bởi bối cảnh đất nước lúc đó vừa ra khỏi chiến tranh, gặp nhiều khó khăn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội
và văn hóa Trước đó, Việt Nam đã tham gia bốn Công ước quốc tế Geneva (1949) về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh vào năm 1957 Chính vì vậy, việc gia nhập các Công ước quốc tế về quyền con người của Việt Nam là một minh chứng rõ nét về nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ, thúc đẩy và tôn trọng các quyền con người theo các chuẩn mực quốc tế
Đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, cụ thể: Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (ICCPR), gia nhập ngày 24-9-1982; Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa
1966, gia nhập ngày 24-9-1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979, ký kết ngày 29-7-1980, phê chuẩn ngày 17-2-1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc 1969, gia nhập ngày 9-6-1982; Công ước về Quyền Trẻ em 1989, ký kết ngày 26-1-1990, phê chuẩn ngày 28-2-1990 và hai Nghị định thư bổ sung về trẻ em trong xung đột vũ trang (ký kết ngày 8-9-2000, phê chuẩn ngày 20-12-2001) và chống sử dụng trẻ em trong các hoạt động mại dâm và tranh ảnh khiêu dâm (ký kết ngày 8-9-2000, phê chuẩn ngày 20-12-2001); Công ước về Quyền của Người khuyết tật 2006, ký ngày 22-11-2007 và phê chuẩn ngày 5-2-2015; Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người,
ký ngày 7-11-2013 và phê chuẩn ngày 5-2-2015
Nhà nước Việt Nam luôn xác định việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền
và tự do cơ bản của con người là nguyên tắc cơ bản của mọi chiến lược phát triển
Trang 5kinh tế-xã hội của đất nước Đây cũng là sự hiện thực hóa các cam kết đối với các khuôn khổ pháp lý và thể chế quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó
có các khuyến nghị UPR mà Việt Nam đã chấp thuận Thực tiễn thời gian qua cho thấy Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ
Bên cạnh các điều ước quốc tế về quyền con người cơ bản nêu trên, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế khác liên quan đến việc bảo vệ quyền con người và Luật Nhân đạo quốc tế, như: Nghị định thư bổ sung Công ước Geneva
về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế (gia nhập ngày 28-8-1981); Công ước Quốc tế về Ngăn ngừa và Trừng trị Tội ác Diệt chủng 1948 (gia nhập ngày 9-6-1981); Công ước Quốc tế về Ngăn chặn và Trừng trị Tội ác Apartheid
1973 (gia nhập ngày 9-6-1981); Công ước Quốc tế về Không áp dụng những hạn chế luật pháp đối với các Tội phạm Chiến tranh và Tội ác chống Nhân loại 1968 (gia nhập ngày 4-6-1983); Công ước về Chống Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia 2000 (ký kết ngày 13-12-2000, phê chuẩn ngày 8-6-2012)
Song song với các hoạt động nêu trên, việc hướng đến những chuẩn mực cơ bản
và phổ quát về quyền con người, đưa những qui định chung đã được quốc tế thừa nhận rộng rãi về các quyền con người vào pháp luật, chính sách của Việt Nam, phù hợp điều kiện đặc thù của Việt Nam, là một công tác trọng tâm trong việc triển khai chủ trương tăng cường hợp tác quốc tế về quyền con người
Việt Nam luôn xác định, xây dựng Nhà nước Pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và đảm bảo các quyền con người được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013 Không chỉ tham gia ngày càng nhiều các công ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam luôn nghiêm túc trong thực thi trách nhiệm, nghĩa vụ của một quốc gia thành viên các công ước, đặc biệt là nghĩa vụ nội luật hóa quy định của các công ước Nhờ đó, các quyền con người được quy định ngày càng cụ thể và toàn diện
Trang 6hơn trong luật pháp Việt Nam Tiêu biểu nhất chính là Hiến pháp 2013 với một chương riêng quy định về quyền con người và quyền công dân và hàng loạt các
bộ luật, luật đã và đang được điều chỉnh, sửa đổi hoặc ban hành mới theo tinh thần Hiến pháp 2013 và các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền công dân được triển khai đồng bộ và xuyên suốt thông qua các chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh của Quốc hội và các chính sách, cơ chế nhằm triển khai các Luật và văn bản luật này trên thực tế Tính từ năm 2009 đến nay, Quốc hội đã ban hành
và sửa đổi nhiều đạo luật quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc cho việc tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền con người Các đạo luật được ban hành mới liên quan đến quyền con người như: Luật Trách nhiệm Bồi thường của Nhà nước (2009), Luật Khám chữa bệnh (2009), Luật Lý lịch tư pháp (2009), Luật Người cao tuổi (2010), Luật Người khuyết tật (2010), Luật nuôi con nuôi (2010), Luật Thi hành án hình sự (2010), Luật Tố tụng hành chính (2010), Luật Khiếu nại (2011), Luật Tố cáo (2011), Luật Phòng, chống mua bán người (2011), Luật Công đoàn (2012), Luật Xử lý các vi phạm hành chính (2012), Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (2012)… Một số đạo luật quan trọng khác cũng được Quốc hội sửa đổi, bổ sung như: Luật Bầu cử Quốc hội sửa đổi và Luật bầu cử Đại biểu Hội đồng Nhân dân sửa đổi (2010), Bộ luật Lao động sửa đổi (2012), Luật Luật sư sửa đổi, bổ sung (2012), Luật Xuất bản sửa đổi (2012) Chính phủ cũng ban hành nhiều văn bản cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành luật, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
PHẦN II: TÍNH TƯƠNG THÍCH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VỚI CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA
NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Trang 71.Tính tương thích của Luật người khuyết tật:
Trong những năm qua, mặc dù đất nước còn nhiều khó khăn nhưng Đảng và Nhà nước Việt Nam đã luôn dành sự quan tâm đến đời sống mọi mặt của người khuyết tật Đã có các chủ trương, chính sách, pháp lệnh ra đời để đảm bảo quyền lợi và ưu đãi trong đời sống tinh thần, vật chất, việc làm cho người khuyết tật Trong số đó có Pháp lệnh Người tàn tật đã được Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ban hành năm 1998 Tại điều 31 Pháp lệnh có quy định lấy ngày 18/04 hàng năm
là ngày bảo vệ chăm sóc người tàn tật
Ngày 22/11/2007 Việt Nam ký kết Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật Sự kiện pháp lý này đã thể hiện được tinh thần, ý thức trách nhiệm của Nhà nước đối với việc bảo đảm, thực thi quyền con người, quyền của người khuyết tật Có thể nói, toàn bộ tinh thần, nội dung quy định của Công ước đã ảnh hưởng tích cực đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về người khuyết tật
ở Việt Nam
Năm 2010, sau 03 năm chuẩn bị kể từ năm 2007 là năm Việt Nam ký kết công ước Quốc Hội đã thông qua Luật Người khuyết tật để thay thế cho Pháp lệnh Người tàn tật năm 1998 Luật số 51/2010/QH12, tại điều 11 chính thức ghi nhận ngày 18 tháng 4 hàng năm là Ngày Người khuyết tật Việt Nam
Luật Người khuyết tật và Pháp lệnh người tàn tật đều cùng điều chỉnh những quan hệ trong lĩnh vực thực thi quyền của người khuyết tật Tuy nhiên trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, Luật là văn bản có tính ổn định cao, cho nên mỗi văn bản luật được soạn thảo và ban hành đều mang tầm nhìn chiến lược và phát triển của xã hội Trong khi đó Pháp lệnh lại điều chỉnh những quan hệ có tính ổn định thấp dễ thay đổi trong một thời gian ngắn
Trang 8Chính vì vậy, việc thay thế pháp lệnh bằng Luật là bằng chứng thể hiện bước chuyển lớn lao, căn bản về nhận thức và hành động thực tế của Nhà nước và xã hội Việt Nam đối với vấn đề người khuyết tật Đó là sự chuyển biến từ cách thức
tư duy nhìn nhận vấn đề người khuyết tật như việc nhân đạo, từ thiện sang tư duy
về người khuyết tật trên cơ sở quyền con người
Trước khi ban hành Luật Người khuyết tật 2010, Việt Nam đã có một quá trình tổng kết, rà soát và đánh giá các quy định và thực tiễn sau hơn 10 năm thi hành Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 Từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu xác định nội dung chính sách pháp luật trong lĩnh vực người khuyết tật nói chung và việc xây dựng Luật Người khuyết tật nói riêng
Luật Người khuyết tật ra đời hướng đến sự bình đẳng của cộng đồng đối với người khuyết tật, từ đó giúp người khuyết tật có thể hòa nhập xã hội, xóa đi sự mặc cảm về bản thân về những khiếm khuyết của mình
Để hưởng ứng ngày người khuyết tật 18/4, cứ đến dịp này khắp nơi trong cả nước đều có các hoạt động thiết thực như: giao lưu văn nghệ - thể thao, toạ đàm, hội nghị, hội thảo, tư vấn và tuyển dụng việc làm, tư vấn kỹ năng sống, hướng dẫn chăm sóc bảo vệ sức khỏe, khám chữa bệnh miễn phí dành cho người khuyết tật
Có thể khẳng định, Việt Nam luôn chủ động, tích cực thực thi công ước về quyền của người khuyết tật Vì vậy, mặc dù năm 2015 Việt Nam mới phê chuẩn Công ước về quyền của người khuyết tật nhưng với tinh thần là nước đã ký kết tham gia Công ước, nên về cơ bản Luật Người khuyết tật năm 2010 của Việt Nam đã được đánh giá là khá tương thích với Công ước về quyền của người khuyết tật
Trang 9Hiện tại văn bản mới nhất trong lĩnh vực này là văn bản hợp nhất Số: 763/VBHN-BLĐTBXH ngày 28 tháng 02 năm 2019 (nghị định) quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật
2.Tính tương thích của Bộ luật lao động:
Bộ luật lao Động dành Mục 4 từ Điều 158 đến Điều 160 quy định về “Lao động
là người khuyết tật” như sau:
Chính sách của Nhà nước đối với lao động là người khuyết tật: Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của người lao động là người khuyết tật; có chính sách khuyến khích, ưu đãi phù hợp đối với người sử dụng lao động trong tạo việc làm và nhận người lao động là người khuyết tật vào làm việc theo quy định của pháp luật về người khuyết tật
Đối với Sử dụng lao động là người khuyết tật thì “Người sử dụng lao động phải bảo đảm về điều kiện lao động, công cụ lao động, an toàn, vệ sinh lao động và tổ chức khám sức khỏe định kỳ phù hợp với người lao động là người khuyết tật” Đặc biệt khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của người lao động là người khuyết tật, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của người lao động là người khuyết tật
Các hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng lao động là người khuyết tật đó là làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, trừ trường hợp người lao động là người khuyết tật đồng ý
Sử dụng người lao động là người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng
Trang 10Sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành mà không có sự đồng ý của người khuyết tật sau khi đã được người sử dụng lao động cung cấp đầy đủ thông tin về công việc đó
3.Tính tương thích của Luật Giáo dục:
Chính sách Dạy nghề và tạo điều kiện về việc làm đối với người khuyết tật cũng được quy định xuyên suốt với chủ trương “Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác.”
Cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhận nghề đào tạo khi người khuyết tật học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề
Cơ sở dạy nghề tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật phải bảo đảm điều kiện dạy nghề cho người khuyết tật và được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật
Người khuyết tật học nghề, giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật
4.Chính sách khuyến khích doanh nghiệp tạo việc làm cho người khuyết tật
Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, được
tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của người khuyết tật
Trang 11Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người khuyết tật
Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật
Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động là người khuyết tật
Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật cũng được hưởng chính sách ưu đãi Cụ thể nếu sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật thì cơ sở sản xuất, kinh doanh được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp
Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận người khuyết tật vào làm việc Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật được hưởng chính sách ưu đãi
– Doanh nghiệp sử dụng từ 10 người khuyết tật làm việc ổn định:
Trang 12+ Hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Mức hỗ trợ theo tỷ lệ người khuyết tật làm việc ổn định tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, mức
độ khuyết tật của người lao động và quy mô của cơ sở sản xuất, kinh doanh theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
+ Vay vốn ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh từ Ngân hàng Chính sách xã hội Điều kiện vay, thời hạn vay, mức vốn vay và mức lãi suất vay thực hiện theo quy định hiện hành áp dụng đối với dự án vay vốn giải quyết việc làm;
Nói chung, vai trò của chính sách, pháp luật là cơ sở chính trị - pháp lý để soạn thảo, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật Chính sách, pháp luật người khuyết tật phải đặt trong tổng thể hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước và là bộ phận không thể tách rời của toàn bộ chính sách pháp luật nói chung
Mặt khác, tư tưởng, nguyên tắc chính sách, pháp luật người khuyết tật cũng phải được lồng ghép sâu sắc trong nội dung chính sách pháp luật của tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội
Tuy nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, đời sống người dân Việt Nam, đặc biệt là người khuyết tật còn nhiều khó khăn, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; bản thân nhiều người khuyết tật cũng còn nặng tâm lý tự ti, nhận thức về xã hội và chính mình còn nhiều hạn chế Công tác tuyên truyền, giáo dục
về quyền con người, quyền công dân, về vấn đề khuyết tật ở Việt Nam chưa có hiệu quả cao, ảnh hưởng không nhỏ đến tính chủ động tích cực của cộng đồng, các nhóm xã hội, cũng như các cá nhân
Do vậy, để phát huy các yếu tố thuận lợi trong nước cũng như quốc tế, khắc phục những khó khăn nhằm hiện thực hoá quyền của người khuyết tật, khi Việt Nam