1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích sự tương thích giữa một công ước quốc tế về các quyền dân và chính trị với pháp luật việt nam

15 45 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 68,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tìm hiểu pháp luật Việt Nam so với Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị là cần thiết nhằm phát hiện những bất cập, những điểm còn hạn chế trong pháp luật nước ta và từ đó có

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

- -

🕮🙢 -TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: Lý luận pháp luật về quyền con người (CN tiết 6-10)

Đề tài: Phân tích sự tương thích giữa một công ước quốc tế về các quyền

dân và chính trị với pháp luật Việt Nam Sinh viên thực hiện:

Lớp: Luật học MSV:

Hà Nội, 11/2021

Trang 2

MỤC LỤC

1.2 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 5

2.1 Quy định của Pháp luật Việt Nam phù hợp với Công ước ICCPR 6 2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam chưa phù hợp với Công ước ICCPR 9 2.3 Thực tiễn thực thi pháp luật theo công ước tại Việt Nam 11

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Các quyền dân sự, chính trị (QDSCT) là một bộ phận cơ bản, thiết yếu, có vị trí đặc biệt quan trọng trong tổng thể quyền con người Hiện nay, việc bảo đảm các quyền chính trị dân sự là những giá trị cơ bản mà mỗi nhà nước mong muốn hướng tới nhằm thu hút đông đảo công dân tham gia sâu vào đời sống chính trị, góp phần thúc đẩy dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội Việc tìm hiểu pháp luật Việt Nam so với Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị là cần thiết nhằm phát hiện những bất cập, những điểm còn hạn chế trong pháp luật nước ta và từ đó có những biện pháp thúc đẩy sự hoàn thiện hơn nữa các hành động nâng cao, bảo vệ quyền con người trong đó có

quyền dân sự, chính trị Vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài “ Phân tích sự tương thích giữa một công ước quốc tế về các quyền dân và chính trị với pháp luật Việt Nam” làm đề

tài nghiên cứu cho học phần Lý luận về pháp luật quyền con người

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị và sự tương thích của Công ước đó với pháp luật Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Quyền dân sự, chính trị là gì?

- Pháp luật Việt Nam tương thích với Công ước quốc tế trên như thế nào?

- Pháp luật Việt Nam chưa phù hợp với công ước ICCPR ở điểm nào?

4 Giả thuyết nghiên cứu

- Quyền dân sự là những quyền cá nhân gắn với nhân thân mỗi người và không thể chuyển giao Quyền chính trị là những quyền được tham gia vào đời sống chính trị, quản lý nhà nước của con người

- Pháp luật Việt Nam ngày càng hoàn thiện để tương thích và phù hợp với Công ước quốc tế ICCPR, các văn bản pháp luật đa dạng, phong phú quy định các quyền trong ICCPR

- Pháp luật Việt Nam đặt ra yêu cầu giới hạn quyền con người đối với cả những quyền tuyệt đối không thể bị giới hạn như là quyền sống, quyền không bị tra tấn,

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trang 4

1.1 Quyền dân sự, chính trị

Tư tưởng về quyền con người đã được xuất hiện từ lâu trong lịch sử, và đến ngày này tư tưởng ấy ngày càng được phát triển, mở rộng và hoàn thiện hơn nữa Quyền con người có thể hiểu là những quyền bẩm sinh vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì không thể sống như một con người, đó là những quyền thiêng liêng, tự nhiên, vốn có của con người, không phải do bất kỳ chủ thể nào ban phát Quyền con người dễ bị xâm phạm bởi nhiều lý do như quyền lực, sức mạnh, chiến tranh, đặc biệt là những người yếu thế trong xã hội Vì lẽ đó, Nhà nước là một trong những chủ thể có trách nhiệm bảo đảm và bảo vệ các quyền của con người

Quyền con người có thể được phân loại theo lĩnh vực bao gồm quyền chính trị

và dân sự và quyền kinh tế, xã hội, văn hoá; theo chủ thể bao gồm quyền cá nhân và quyền của nhóm; theo các tiêu chí khác thì có quyền tuyệt đối với quyền có điều kiện, quyền tự nhiên và quyền pháp lý, quyền thụ động và quyền chủ động;… Trong đó nhóm quyền chính trị và dân sự là nhóm quyền cơ bản cần thiết đối với mỗi con người

Quyền chính trị là quyền liên quan đến những giá trị mà mỗi người được hưởng, liên quan đến việc tham gia vào đời sống chính trị của mỗi quốc gia điển hình như: quyền tự do lập hội, quyền hội họp, quyền bầu cử, ứng cử, quyền tiếp cận thông tin, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, quyền tự do ngôn luận,…

Quyền dân sự là những quyền cá nhân, gắn chặt với nhân thân của mỗi người, chỉ cá nhân mới có thể sử dụng độc lập và không thể chuyển giao cho người khác, bao gồm các quyền cơ bản sau: quyền sống; quyền tự do đi lại và tự do cư trú; quyền không bị bắt giữ làm nô lệ; quyền riêng tư và an ninh cá nhân; quyền được xét xử công bằng; quyền không bị tra tấn, sử dụng các hình thức phạt hay đối xử một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc hạ nhục; quyền kết hôn, ly hôn; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Việc phân chia các quyền thành quyền dân sự hay chính trị chỉ mang tính tương đối vì một số quyền vừa có thể xem là quyền chính trị lại vừa có thể xếp vào nhóm quyền chính trị Khác với nhóm quyền trong lĩnh vực kinh tế xã hội, văn hoá yêu cầu Nhà nước phải sử dụng các biện pháp tối đa nguồn lực để đảm bảo quyền thì các quyền chính trị xã hội được bảo đảm phụ thuộc vào ý chí chính trị, nghĩa là bất cứ

Trang 5

quốc gia nào đều có thể tiến hành được mà quy định của các quốc gia đó có thực thi bảo đảm hay không 1

1.2 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights) (viết tắt là ICCPR) là một trong những công ước quốc tế cơ bản về quyền con người của Liên hiệp quốc xây dựng và phát triển, ICCPR và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights – ICESCR) và Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền được coi như là Bộ luật Quốc tế về Nhân quyền Hiện nay, Công ước đã có 173 quốc gia thành viên cho thấy mức độ phổ biến, ghi nhận và ảnh hưởng của Công ước quốc tế này được phủ rộng hầu khắp các quốc gia trên thế giới

Công ước ICCPR là một điều ước quốc tế điều chỉnh liên quan đến quyền con người trong lĩnh vực dân sự, chính trị, bao gồm các quyền tuyệt đối và quyền tương đối Quyền tuyệt đối là những quyền con người không thể bị giới hạn, gồm quyền được sống (Điều 6), quyền không bị tra tấn, bị bắt làm nô lệ, bị bỏ tù, bị coi là phạm tội (Điều 7, 8, 11, 15), công nhận là thể nhân (Điều 16) Quyền tương đối hay còn gọi

là quyền có thể bị giới hạn do các quốc gia thành viên áp đặt một số điều kiện vì mục đích bảo vệ trật tự, an ninh và đời sống của cộng đồng Theo Công ước ICCPR gồm quyền tự do đi lại, cư trú (Điều 12, 13), quyền bình đẳng trước tòa án (Điều 14), quyền

tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 18), quyền tự do ngôn luận, hội họp, lập hội (Điều 20, 21, 22) Có hai nghị định thư bổ sung không bắt buộc theo Công ước ICCPR Đó là Nghị định thư bổ sung năm 1966 quy định về thủ tục nhận và xem xét khiếu nại cá nhân và Nghị định thư bổ sung năm 1989 về khuyến nghị bãi bỏ hình phạt

tử hình

Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc (UBNQ) là cơ quan chịu trách nhiệm giám sát, đánh giá việc thực thi Công ước ICCPR của các quốc gia thành viên Việc giám sát và đánh giá được thực hiện thông qua cơ chế đánh giá định kỳ của các quốc gia thành viên lên UBNQ Các quốc gia thành viên sẽ gửi bản báo cáo định kỳ về việc

1 Nguyễn Thị Thanh Nga (2021), Về bảo đảm các quyền dân sự, chính trị ở Việt Nam hiện nay, được đăng tải

trên trang thông tin điện tử quanlynhanuoc.vn, ngày 04/02/2021

Trang 6

thực thi quyền con người và sau đó UBNQ trên cơ sở báo cáo và phiên đối thoại giữa UBNQ và chính phủ sẽ đưa ra Bản Khuyến nghị

Việt Nam đã gia nhập ICCPR vào năm 24/9/1982, với những nỗ lực của mình, nhà nước Việt Nam ngày càng xây dựng quy định, thực thi, tôn trọng và bảo đảm các quyền cơ bản của con người trong đó tuân thủ các điều ước quốc tế trong ICCPR

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1 Quy định của Pháp luật Việt Nam phù hợp với Công ước ICCPR

Việt Nam gia nhập công ước ICCPR gần 39 năm và ngày càng nỗ lực hoàn thiện hơn nữa trong việc bảo đảm quyền dân sự, chính trị được đi vào đời sống xã hội của mỗi người dân Điều này được thể hiện thông qua những quy định của pháp luật Việt Nam và việc thực hiện các quyền chính trị dân sự tương thích và phù hợp với Công ước ICCPR thông qua nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước (tất cả các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp, các cơ quan thuộc chính phủ và cơ quan thực thi quyền lực công khác, ở bất cứ cấp nào) phải tôn trọng, ghi nhận, đảm bảo và thực thi quyền dân sự, chính trị

* Ghi nhận

Ghi nhận quyền chính trị dân sự theo Công ước ICCPR được thể hiện thông qua việc Việt Nam sớm gia nhập công ước và nội luật hoá các điều khoản, quy định của Công ước cho phù hợp với thể chế, đường lối, quy định của nước ta Việc nội luật hoá các quy định trong ICCPR ngày càng được chú trọng và hoàn thiện hơn nữa thông qua Hiến pháp, Bộ luật, Luật và các văn bản dưới luật về QDSCT Đây chính là tiền đề cho việc đảm bảo và thực thi quyền con người

Hiến pháp là văn bản pháp luật tối cao, việc ghi nhận quyền con người trong hiến pháp là điều hết sức quan trọng và cần thiết để điều chỉnh cho các quy định pháp luật dưới Hiến pháp Một bước chuyển quan trọng trong quá trình xây dựng hiến pháp

và pháp luật Việt Nam về quyền con người, đó là Quốc hội đã sửa đổi và thông qua bản hiến pháp mới – Hiến pháp 2013, đề cao quyền con người Cụ thể, Hiến pháp

2013 đặt biệt đặt vị trí của chương “Quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” lên chương II, điều đó kế thừa tinh thần của bản Hiến pháp 1946 và mục tiêu, nhiệm vụ ưu tiên quyền con người, quyền công dân lên trước, thể hiện sự tôn

Trang 7

trọng của Nhà nước, bộ máy chính quyền đến quyền con người, quyền công dân Tại Điều 14 Hiến pháp 2014 cũng thể hiện rõ quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước nhằm bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thông qua trách nhiệm của Nhà nước phải ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó có những quyền về chính trị, dân sự của con người

Thể chế hoá các quy định của Hiến pháp, các điều luật điều chỉnh các lĩnh vực chuyên ngành cụ thể có liên quan đến quyền dân sự và chính trị, xây dựng dựa trên nguyên tắc đảm bảo thực thi quyền chính trị dân sự Chỉ tính từ thời điểm Hiến pháp

2013 đến này, đã có khoảng hơn 100 luật, pháp lệnh được Quốc hội, Ủy ban Thường

vụ Quốc hội thông qua, trong đó có nhiều luật quan trọng về quyền con người, chẳng hạn như: Bộ luật Hình sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng Hình

sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015 và các luật chuyên ngành khác: Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật; Luật Báo chí năm 2016; Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Luật; Luật Tố cáo năm 2018; Luật Đặc xá năm 2018 2

Các văn bản pháp luật chuyên ngành quy định về các lĩnh vực cụ thể, là cơ sở, tiền đề cho việc thực thi các QDSCT của con người, và cũng thể hiện gần như đầy đủ các QDSCT cơ bản trong công ước ICCPR Ví dụ, quyền bầu cử Điều 25 ICCPR được

cụ thể hoá ở Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 và các văn bản dưới luật là cơ sở cho mọi công dân Việt Nam thực hiện quyền bầu cử, tham gia vào quản lý nhà nước Quyền được bảo vệ đời tư, tự do và an ninh cá nhân theo Điều 17 ICCPR được thể hiện thông qua Luật An ninh mạng năm 2018 và các văn bản dưới luật khác là cơ sở đảm bảo môi trường an ninh trên internet, mạng xã hội lành mạnh, phát triển, an toàn để cá nhân, doanh nghiệp và nhà nước giao lưu, nắm bắt thông tin, trao đổi,… hiệu quả, cũng là cơ sở để quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin chính xác và hiệu quả, giảm các hành vi xâm phạm thông tin cá nhân, đánh cắp dữ liệu cá nhân Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo, biểu đạt theo quy định tại Điều 18, 19, 20 ICCPR được thể hiện thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 là cơ sở để người dân đều được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo,

2 Vinh Quang (2019), Thực thi Công ước ICCPR ở Việt Nam (Bài 2) Những thành tựu trong xây dựng pháp luật

về quyền dân sự và chính trị, đăng tải trên trang thông tin điện tử baophapluat.vn ngày 05/03/2019

Trang 8

quyền được theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo loại bỏ những hành vi phá huỷ thuần phong mỹ tục, lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi

* Đảm bảo, thực thi

Việc bảo đảm QDSCT có thể hiểu là việc các chủ thể (nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền) tạo ra các tiền đề, điều kiện cần thiết để mọi người được thực hiện các QDSCT đã được pháp luật ghi nhận trên thực tế, bao gồm các điều kiện, tiền đề về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, pháp luật…3 Theo nghĩa này, bảo đảm QDSCT được hiểu theo nghĩa rộng bao hàm cả việc xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật và việc thực hiện chính sách và pháp luật đó trên thực tế Tuy nhiên, bài tiểu luận nghiên cứu việc bảo đảm QDSCT là việc thực hiện hoá các chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào đời sống của người dân Một số các thành tựu của Nhà nước đã bảo đảm các QDSCT theo Công ước ICCPR đã đi vào đời sống của người dân cụ thể như sau:

Bảo đảm quyền tự do ngôn luận, báo chí (Điều 19 ICCPR) đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm Hiện nay, Việt Nam có 858 cơ quan báo chí in;

105 cơ quan báo điện tử; 207 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí Ngoài ra, việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận cũng đã góp phần bảo đảm hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của Nhà nước Hiện nay việc tiếp cận thông tin được mở rộng cho các chủ thể nước ngoài cũng có thể tiếp cận thông qua các hãng thông tấn, báo chí lớn như: CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg…Theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế, mạng Facebook ở Việt Nam phát triển nhanh nhất khu vực và là quốc gia có lượng người dùng internet lớn thứ ba tại khu vực Đông Nam

Á4 Quyền tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam cũng được chú trọng trong việc kết nối người dân với Chính phủ thông qua việc xây dựng đề án “Chính phủ điện tử”, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, các thủ tục hành chính điện tử đang ngày càng phát triển tạo thuận lợi cho người dân trong việc thực hiện các thủ tục hành chính, đơn giản hoá thủ tục hành chính, để người dân có thể kịp thời phản ánh, kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước

3 Minh Duyên (2019), Việt Nam đạt nhiều thành tự về quyền con người, được đăng tải trên trang thông tin điện

tử Hội đồng lý luận Trung ương http://hdll.vn ngày 14/12/2019

4 Hồng Quang (2020), Các thành tựu nhân quyền của Việt Nam là không thể phủ nhận, đăng tải trên trang thông

tin điện tử https://nhandan.vn/ ngày 15/12/2020

Trang 9

Và sắp tới đây, lần đầu tiên Nhà nước thực hiện đặc xá áp dụng Luật Đặc xá

2018 qua Công bố Quyết định về đặc xá năm 2021 của Chủ tịch nước, theo đó, nhân dịch Quốc khánh 2/9/2021, Chủ tịch nước sẽ đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân Thời gian đã chấp hành án phạt tù để xét đặc

xá sẽ tính đến ngày 31/8 năm nay5 Điều này phần nào thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Nhà nước đồng thời tôn trọng, bảo vệ quyền con người cho những người đang chấp hành án phạt tù, để họ có thể hoàn lương trở lại xã hội, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình

Từ khi gia nhập Công ước ICCPR, Việt Nam đã nộp ba bản báo cáo cho UBNQ

về việc thực thi Công ước lần lượt vào các năm 1989, 2001, 2017 trong đó có đưa ra

bản nhận xét rằng UBNQ “hoan nghênh tiến độ thực thi của Việt Nam như cải cách lập pháp về phòng, chống buôn bán người, đảm bảo đúng hành xử đúng pháp luật, tôn trọng quyền công dân, cũng như việc bổ sung các quyền con người trong Hiến pháp 2013”6 Ngày 26/9/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1252/QĐ-TTg

về phê duyệt kế hoạch tăng cường thực thi hiệu quả Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và các khuyến nghị của UBNQ Quyết định xác định nội dung công việc và lộ trình thực hiện phù hợp trong việc tăng cường hiệu quả triển khai các quy định của Công ước ICCPR và khuyến nghị của UBNQ

2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam chưa phù hợp với Công ước ICCPR

* Điều 14 Hiến pháp cản trở đảm bảo, thực thi quyền con người

Theo Hiến pháp 2013 quy định quyền con người có thể bị giới hạn “trong các trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.” (Khoản 2 Điều 14) Như đã trình bày ở trên

theo Công ước ICCPR có những quyền tuyệt đối (nghĩa là không bị giới hạn bởi bất kỳ

lý do gì) bao gồm quyền được sống, không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, không bị bắt là nô lệ,… Tuy nhiên với hiến định hiện nay của Việt Nam thì quyền con người (bao gồm cả quyền chính trị và quyền dân sự) đều có thể bị hạn chế, việc hạn chế này phải theo quy định pháp luật Điều đó, có nghĩa là nếu không có quy

5 Quang Hiệu (2021), Công bố quyết định về đặc xá năm 2021 của Chủ tịch nước, đăng tải trên trang báo điện tử

VTV news, ngày 02/07/2021

6 EU JULE (2020), Theo dõi và đánh giá việc thực thi Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị: Phát hiện

và khuyến nghị số 3, tháng 6/2020

Trang 10

định cụ thể, trong nhiều trường hợp các cơ quan quyền lực nhà nước có thể lợi dụng để xâm phạm quyền con người dưới mục đích an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội

* Quyền được sống – hình phạt tử hình

Công ước ICCPR đã Nghị định thư bổ sung năm 1989 về khuyến nghị bãi bỏ hình phạt tử hình, thêm nữa, ICCPR đã có Bình luận chung số 6 liên quan đến tử hình

và quyền sống, khẳng định quyền sống là một quyền tối thượng, không được phép xâm phạm, thậm chí trong cả tình trạng khẩn cấp đe dọa đến vận mệnh quốc gia7 Như vậy

có thể thấy quyền sống được quốc tế coi trọng, là quyền cơ bản nhất của con người, là

cơ sở cho tất cả các quyền của con người: bất khả xâm phạm thân thể, bảo vệ sức khỏe, thừa kế, bầu cử,…

Lần đầu tiên quyền sống được quy định cụ thể trong Hiến pháp Việt Nam, “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.” (Điều 19 Hiến pháp 2013) Tuy nhiên, hiện nay, nước ta vẫn

áp dụng hình phạt tử hình quy định tại Bộ Luật Hình sự 2015, cụ thể “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định…” Tử hình là loại hình phạt đặc biệt và nghiêm khắc nhất trong hệ

thống hình phạt ở Việt Nam cũng như của các quốc gia khác trên thế giới, tước đi quyền sống của người bị kết án Nhiều quan điểm liên quan đến việc có nên bãi bỏ hình phạt tử hình hay không, sử dụng hình phạt là để răn đe, trừng phạt con người hoặc hình phạt tử hình là vô cùng tàn khốc, là sự tra tấn, vi phạm nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần con người thể hiện sự phi nhân đạo, mang tính trả thù

Để hướng tới bảo vệ quyền con người, nâng cao sự đảm bảo mọi người đều xứng đáng được sống, không ai được ngăn cản quyền đó của mỗi người và cũng là xu thế chung của thế giới, Việt Nam cần chuẩn bị những điều kiện, tiền đề để bãi bỏ hình phạt tử hình, xây dựng pháp luật phù hợp để có thể sử dụng một (các) biện pháp khác hiệu quả nhằm ngăn chặn tội phạm Đây cũng là một trong những quan điểm được UBNQ đưa ra trong bản Khuyến nghị vào tháng 3/2019, cụ thể bồn nhóm khuyến nghị

7 UN Human Rights Committee (HRC) (1982), CCPR General Comment No 6: Article 6 (Right to Life), adopted at the Sixteenth Session of the Human Rights Committee, on 30 April 1982

Ngày đăng: 13/11/2021, 10:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w