1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BUỔI THẢO LUẬN số 2 vấn đề CHUNG của hợp ĐỒNG sự ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO kết hợp ĐỒNG

15 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 130,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đó, các bên có tranh chấp về sự tồn tại của Hợp đồng thỏa thuận về giải quyết tranh chấp và Tòa án đã xét rằng: 1 bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ MÔN: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI

HỢP ĐỒNG LỚP DS46A2

BUỔI THẢO LUẬN SỐ 2: VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG

NHÓM 2

Trang 2

MỤC LỤC

1 CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

1.1 Tình huống:

1.2 Trả lời:

1.2.1 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên?

2 SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

2.1 Tóm tắt bản án:

2.1.1 Tình huống:

2.1.2 Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/04/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao .

2.2 Trả lời:

2.2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng? 3 2.2.2 Quy định về vai trò im lặng trong giao kết hợp đồng trong một hệ thống pháp luật nước ngoài? 4 2.2.3 Việc Tòa án áp dụng án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao? 4

3 ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC 5

3.1 Tóm tắt bản án số 609/2020/DS-PT ngày 12/11/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh 5

3.2 Trả lời: 5

3.2.1 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2005 và BLDS 2015 về chủ thể đang được nghiên cứu 5

3.2.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao? 7

3.2.3 Trong vụ án trên, đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án theo hướng hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được? 8

3.2.4 Trong vụ án trên, Tòa án xác định hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao? 8

4 XÁC LẬP HỢP ĐỒNG CÓ GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN 8

4.1 Tóm tắt bản án: 8

4.1.1 Bản án số 06/2017/DS-ST ngày 17/01/2017 của Toà án nhân dân TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương 8

4.1.2 Quyết định số 259/2014/DS-GĐT ngày 16/06/2014 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 9

4.2 Trả lời: 9

4.2.1 Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch? 9

4.2.2 Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì? 10

Trang 3

4.2.3 Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu 10 4.2.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu.

10

4.2.5 Vì sao tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm

trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu? 11 4.2.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)? 11 4.2.7 Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ.

12

Trang 4

1 CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG.

1.1 Tình huống:

Tháng 1 năm 2018, A (pháp nhân), B (cá nhân) và C (cá nhân) gửi cho D một đề nghị giao kết hợp đồng (là điều khoản về phương thức giải quyết tranh chấp, bằng văn bản và

có chữ ký của cả 3 chủ thể) Tháng 1 năm 2020 và tháng 2 năm 2020, D đã gửi cho A và

B chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của mình nhưng D không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C (C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của D)

Sau đó, các bên có tranh chấp về sự tồn tại của Hợp đồng (thỏa thuận về giải quyết tranh chấp) và Tòa án đã xét rằng: (1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015; (2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015 và (3) chấp nhận trên của

D là đề nghị giao kết mới

1.2 Trả lời:

1.2.1 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên?

(1) Bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015

Theo khoản 1 điều 400 BLDS 2015: “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết”

Trong tình huống trên, A, B, C là bên đề nghị, D là bên được đề nghị Mặc dù, D đã gửi cho A và B chấp nhận đề nghị của mình, nhưng không cho biết là A và B có nhận được chấp nhận giao kết hợp đồng của D hay không, đồng thời D không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C (C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D) Cho nên, theo căn cứ được viện dẫn bên trên thì hợp đồng chưa được giao kết

Hướng giải quyết của Tòa hợp lý

(2) Chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015

Khoản 1 điều 394 BLDS 2015: “Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý”

Trang 5

Pháp luật quy định việc trả lời chấp nhận có hiệu lực trong 1 thời hạn hợp lý, nhưng không quy định rõ “thời hạn hợp lý” là bao lâu Trong tình huống trên, A, B, C gửi đề nghị giao kết hợp đồng với D vào tháng 1/2018, nhưng mãi đến tháng 1 và tháng 2 năm

2020, D mới gửi chấp nhận giao kết hợp đồng, tức là 2 năm

Thời hạn 2 năm này sẽ được coi là thời hạn hợp lý nếu D gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mà A, B, C đều đồng thuận với việc chấp nhận đề nghị của D Hướng giải quyết không hợp lệ

Ngược lại, nếu D gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mà A, B, C đều không đồng thuận với việc chấp nhận đề nghị của D thì sẽ coi không trong thời hạn hợp lý Hướng giải quyết là hợp lệ

(3) Chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới

Theo khoản 1 điều 394 BLDS 2015 và căn cứ vào 2 vấn đề trên, nếu chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý, tức là bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời

Nếu chấp nhận được thực hiện trong thời hạn hợp lý, tức là bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời trong thời hạn trả lời thì chấp nhận này không được coi là đề nghị giao kết mới

2.1 Tóm tắt bản án:

2.1.1 Tình huống:

Năm 2001, bà Chu và ông Bùi chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ (gồm 7 nhân khẩu) cho ông Văn Năm 2004, ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên làm thủ tục chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì Tuy nhiên, nay các con bà Chu và ông Bùi yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu vì chưa có sự đồng ý của họ và Tòa án đã áp dụng Án lệ số 04/2016/AL

2.1.2 Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/04/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Nguyên đơn: bà Tý

Trang 6

Năm 1996, vợ chồng bà Tý mua 02 căn nhà cấp 4 của gia đình ông Ngự Do vợ chồng bà

chưa có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội nên chính quyền địa phương không xác nhận việc

mua bán này Năm 2006, ông Ngự cho rằng ông chỉ bán nhà đất phía trong, còn nhà đất

giáp đường vẫn là nhà đất của gia đình ông Ông tự ý phá cửa vào ở và xây dựng bức

tường ngăn giữa phần mái hiên của căn nhà cấp 4 giáp mặt đường

Bị đơn: ông Ngự không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn vì cho rằng diện tích này

thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông (đất không thuộc diện quy hoạch nữa)

Nguyên đơn có yêu cầu đòi quyền sở hữu nhà, đất mà ông Ngự, bà Phấn đã sang nhượng

theo hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất lập ngày 26-4-1996 Đây là tranh chấp về quyền sở

hữu tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất Có cơ sở xác định bà Phấn biết

và đồng ý việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng bà Tý Cụ thể:

Thứ nhất, ông Ngự, bà Phấn sau khi bán đất đã chia vàng cho các con

Thứ hai, ông Ngự có viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang

nhượng và ông Ngự, bà Phấn đã sử dụng phần đất đã mượn trên thực tế

Từ những lẽ trên, Tòa án các cấp xác định buộc ông Ngự, bà Phấn trả lại toàn bộ diện tích

nhà, đất giáp đường là có căn cứ Do đó Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

quyết định giữ nguyên bản án phúc thẩm

2.2 Trả lời:

2.2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết

hợp đồng?

• Theo khoản 2, Điều 404 của BLDS 2005: “2 Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết.”

→ Như vậy, BLDS 2005 xem im lặng trong giao kết là một sự trả lời chấp nhận giao kết

• Theo khoản 2, Điều 393 của BLDS 2015: “2 Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.”

→ Như vậy, ở BLDS 2015 đã duy trì hướng của quy định trên nhưng cóó sự thay đổi về vị trí cũng như nội hàm của điều luật, cho rằng im lặng không được coi là chấp nhận giao kết

Trang 7

hợp đồng Im lặng được suy đoán là chấp nhận giao kết hợp đồng chỉ là một ngoại lệ của nguyên tắc trên, được áp dụng với điều kiện là hoàn cảnh này phải được các bên tiên liệu bằng thỏa thuận, hoặc do thói quen đã được các bên xác lập trước đó

Do đó BLDS 2015 đã quy định cụ thể về vấn đề này nhằm hạn chế những trường hợp phát sinh tranh chấp từ việc im lặng Hơn nữa, việc điều chỉnh này giúp mở rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh, phù hợp với thói quen, tập quán giao kết hợp đồng, mua bán hàng hóa

2.2.2 Quy định về vai trò im lặng trong giao kết hợp đồng trong một hệ thống pháp luật nước ngoài?

Trong quá trình giao kết, đôi lúc một bên nêu quan điểm của mình một cách không rõ ràng hoặc có thể họ im lặng trong quá trình đó, thế thì theo quan điểm của hệ thống pháp luật nước ngoài sẽ có cách xử lý như thế nào trong trường hợp đó Theo Bộ luật dân sự Pháp sửa đổi năm 2016 có bổ sung quy định về im lặng trong giao kết hợp đồng tại Điều

1120 rằng: “im lặng không có giá trị chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp luật, tập quán, quan hệ thương mại hay hoàn cảnh đặc biệt suy luận khác” Điều đó thể hiện rằng việc im lặng sẽ không là căn cứ để xác định hợp đồng đã được bên được đề nghị chấp nhận giao kết nhưng nếu các bên có thỏa thuận, tập quán, thói quen, thì im lặng vẫn có thể được xem là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

2.2.3 Việc Tòa án áp dụng án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?

Tòa án áp dụng Án lệ 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên là hợp lý và thuyết phục Bởi cả hai tình huống có sự tương đồng như nhau, theo án lệ 04/2016/AL thì có căn cứ xác định rằng bà Phấn biết việc chuyển nhượng nhà (như ông Tiến

bà Tý sau khi mua đã trả đủ tiền, nhận nhà, sửa lại nhà và đến ở, đồng thời sau khi bán thì ông Ngự, bà Phấn phân chia vàng cho các con và viết giấy cam kết mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng) Cũng như tình huống trên của án lệ, năm 2001 ông Bùi, bà Chu chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Văn Năm 2004, ông Văn xây dựng chuồng trại trên đất

đó, mặt khác các bên tiến hành làm các thủ tục để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất nhưng gia đình ông Bùi, bà Chu không ai có ý kiến gì thì chứng tỏ họ đã ngầm đồng ý việc giao kết hợp đồng ấy một cách tự nguyện Việc các con của ông Bùi, bà Chu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu vì chưa có sự đồng

ý của họ là không có căn cứ xác đáng

Trang 8

3 ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC

3.1 Tóm tắt bản án số 609/2020/DS-PT ngày 12/11/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại

TP Hồ Chí Minh

Nguyên đơn: Ông Huỳnh Tấn P

Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn L

Nội dung: Bản án sơ thẩm (xét xử ngày 10/6/2020) xác định không đúng người đại diện theo

pháp luật và người đại diện theo ủy quyền của HD Bank Tuy nhiên do quyền và lợi ích của

đương sự vẫn được đảm bảo nên Bản án sơ thẩm không bị hủy Tháng 4/2018 Bà Thu H làm

hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn N mặc dù ông N không biết đất này đang

có tranh chấp, do vậy chuyển nhượng đất giữa bà H và ông N là không ngay tình Bên cạnh

đó phần đất thửa số 20 tồn tại tài sản thuộc sở hữu của người thứ ba, tuy nhiên, việc chuyển

nhượng giữa bà H và ông N người thứ 3 không được biết và không có

ý kiến Vì vậy đây là hợp đồng vô hiệu và đơn kháng cáo của ông N không có căn cứ chấp nhận Tương tự với hợp đồng thế chấp giữa bà Thu H và HD Bank cũng không phải là đăng kí thế chấp hợp pháp khi trên thửa đất số 21 đang tồn tại các căn nhà ở và các vật kiến trúc khác của người thứ ba nhưng HD Bank không phát hiện và khi xác lập hợp đồng thế chấp cũng không có ý kiến của chủ sở hữu hợp pháp các tài sản trên đất, nên việc thế chấp không được coi là ngay tình

3.2 Trả lời:

3.2.1 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2005 và BLDS

2015 về chủ thể đang được nghiên cứu

* Điều 411 BLDS 2005: Hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thực hiện được

“1 Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện

được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu

2…

3 Quy định tại khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được, nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý.”

5

Trang 9

* Điều 408 BLDS 2015: Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được.

“1 Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì

hợp đồng này bị vô hiệu

2

3 Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng

có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.”

- Thứ nhất, tại khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 thay từ “kí kết” trong khoản 1 Điều 411 BLDS

2005 bằng “giao kết” vì từ kí kết không có tính bao quát, chỉ dùng cho những hợp đồng văn bản có chữ kí trong khi đó có nhiều hình thức hợp đồng không có chữ kí như hợp đồng miệng, … Vậy việc BLDS 2015 thay đổi cụm từ “kí kết” thành “giao kết” là chính xác, khắc phục được khuyết điểm của BLDS 2005

- Thứ hai, khoản 1 Điều 408 của BLDS 2015 đã bỏ cụm từ “vì lí do khách quan” ở khoản

1 Điều 411 BLDS 2005 Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 quy định trường hợp hợp đồng

vô hiệu do không thể thực hiện được nhưng chỉ khoanh vùng ở trường hợp vì lí do khách

quan”, nhưng trong thực tế vẫn có những những trường hợp hợp đồng bị vô hiệu do

không thực hiện được “vì lí do chủ quan”, do đó việc BLDS 2015 bỏ đi cụm từ vì lí do

khách quan là hợp lí Lí do khách quan hay chủ quan không ảnh hưởng tới khả năng vô

hiệu của hợp đồng mà chỉ ảnh hưởng tới lỗi lầm phát sinh trách nhiệm bồi thường

- Thứ ba, khoản 3 Điều 408 BLDS 2015 đã thay cụm từ “giá trị pháp lý” trong khoản 3 Điều

411 BLDS 2005 bằng “hiệu lực”

+ Ta thấy rằng, hợp đồng vô hiệu thì chắc chắn là hợp đồng không có hiệu lực pháp lý Nhưng ngược lại, hợp đồng không có hiệu lực pháp lý chưa chắc đã phải là hợp đồng vô hiệu, mà có thể là hợp đồng chưa được kí kết, đã được kí kết nhưng bị đình chỉ hiệu lực, hoặc đã hết hiệu lực Như vậy, dùng cụm

từ “hiệu lực” sẽ tạo sự khái quát, bao quát hơn so với cụm từ “giá trị pháp lí” vì giá trị pháp lí chỉ mang

nghĩa luật định, còn “hiệu lực” còn có ý nghĩa trong việc thực thi.

6

Trang 10

3.2.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?

Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được

Khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu.”

Đối tượng của hợp đồng là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành hợp đồng, nếu đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được thì hợp đồng đó cũng không thể thực hiện, do đó BLDS năm 2015 đã xác định một trong những căn cứ để hợp đồng vô hiệu là khi hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được: có thể do nguyên nhân khách quan như thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, … hay nguyên nhân chủ quan do ý chí chủ quan, do lỗi của một bên

So với BLDS 2005, BLDS 2015 có 2 điểm mới về quy định này, theo đó:

Điều luật đã thay từ “ký kết” bằng giao kết Quy định này phù hợp hơn ở chỗ “giao kết” được hiểu rộng, bao quát cả những hợp đồng được hình thành bằng lời nói, văn bản thường, còn từ “ký kết” chỉ được áp dụng với những trường hợp giao kết bằng văn bản có chữ ký

Điều luật đã bỏ đi cụm từ “vì lý do khách quan” Quy định mới là phù hợp bởi dù là nguyên nhân chủ quan hay khách quan thì một hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được đều không thể hình thành, lý do chủ quan hay khách quan chỉ ảnh hưởng đến trách nhiệm phát sinh khi hợp đồng vô hiệu chứ không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng

Bên cạnh đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên, tránh việc lạm dụng việc giao kết hợp đồng để trục lợi, khoản 2 Điều 408 quy định trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng

có đối tượng không thể thực hiện được

Ngoài ra, cũng như những trường hợp vô hiệu khác, vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được cũng có thể là vô hiệu một phần hoặc toàn bộ Nếu một phần đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được mà không ảnh hưởng đến những phần khác thì phần đó vô

Ngày đăng: 29/10/2022, 08:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w