1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BUỔI THẢO LUẬN số 3 vấn đề CHUNG của hợp ĐỒNG (tt) hợp ĐỒNG VI PHẠM về HÌNH THỨC

17 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 138,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ vào các điều luật BLDS 2015 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên không thể yêu cầu hủy hay tuyên bố vô hiệu .Vì vậy, Quyết định chấp nhận kháng nghị, hủy toàn bộ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ MÔN: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI

HỢP ĐỒNG LỚP DS46A2

BUỔI THẢO LUẬN SỐ 3: VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG (tt)

NHÓM 2

Trang 2

MỤC LỤC

1 HỢP ĐỒNG VI PHẠM VỀ HÌNH THỨC: 1

1.1 Tóm tắt bản án: 1

1 Bản án số 16/2019/DS-PT và Quyết định số 93/2019/DS-GĐT 1

1.2 Trả lời: 1

1.2.1 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực? (Xmai) 1

1.2.2 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực? (Xmai) 1

1.2.3 Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao? Lượng 2

1.2.4 Trong Bản án số 16, Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ có thuyết phục không? Vì sao? Lượng 2

1.2.5 Trong bản án 16 ,đoạn nào cho thấy , khi áp dụng điều 129 BLDS 2015 , bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận được chuyển nhượng được liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật” XMai 3

1.2.6 Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án có thuyết phục không? Vì sao? khảo 3

1.2.7 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực? khảo 3

1.2.8 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức? Khảo 4

1.2.9 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực? Hoàng 4

1.2.10 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao? Hoàng 4

2 ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HỦY BỎ DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG 4

2.1 Tóm tắt bản án: 4

2.1.1 Tình huống: 4

2.1.2 Bản án số 06/2017/ KDTM-PT: Lượng 4

2.2 Trả lời: 5

2.2.1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm (Mạnh) 5

2.2.2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ? (Mạnh) 6

2.2.3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng) (Mạnh) 6

2.2.4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao? (Lam) 7

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat

Trang 3

2.5 Hướng giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy

nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (Lam) 7

2.6 Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm (Lam) 8

2.2.7 Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không? Vì sao? Nếu có nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ (Lộc) 9

3 ĐỨNG TÊN GIÙM MUA BẤT ĐỘNG SẢN 9

3.1 Tóm tắt Quyết định số 17/2015/DS-GĐT: XMai 9

3.2 Trả lời: 9

3.2.1 Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ vả ông Bình, bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục không? Vì sao? 9

3.2.2 Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không? Vì sao? (PMai) 10

3.2.3 Ờ thời điểm hiện nay, bà Tuệ có được đứng tên mua nhà ở Việt Nam không? (PMai) 10

3.2.4 Ngày nay, theo Tòa án nhân dân tối cao, bà Tuệ có được công nhận quyền sở hữu nhà trên không? Hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ chưa? (Lộc) 10

3.2.5 Theo tòa án nhân dân tối cao, phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ bỏ ra và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp được xử lý như thế nào? (Lộc) 10

3.2.6 Hướng giải quyết trên của TAND tối cao đã có án lệ chưa? Nếu có, nêu Án lệ đó (Mỹ) 10

3.2.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao (Mỹ) 11

4 TÌM KIẾM TÀI LIỆU: 11

Trang 4

1 HỢP ĐỒNG VI PHẠM VỀ HÌNH THỨC:

1.1 Tóm tắt bản án:

1 Bản án số 16/2019/DS-PT và Quyết định số 93/2019/DS-GĐT

Vụ án Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các đương sự:

nguyên đơn ông Võ Sĩ Mến và bà Phùng Thị Nhiễm, bị đơn ông Đoàn Cưu và bà Trần

Thị Lắm Năm 2009 bị đơn thỏa thuận và lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất cho nguyên đơn, diện tích đất chuyển nhượng là lô B Nguyên đơn đã trả đủ tiền cho

bị đơn Năm 2011, Nhà nước đã thu hồi lô B và cấp lại cho bị đơn lô A, bị đơn yêu cầu

phía nguyên đơn đưa thêm tiền vì giá đất mặt tiền cao hơn, nguyên đơn đồng ý đưa tiếp

một phần tiền, phần còn lại khi nào làm thủ tục chuyển nhượng xong thì đưa đủ Tháng

10/2016 Nhà nước mới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn nhưng phía bị

đơn chỉ đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất mà không làm thủ tục chuyển

nhượng đất cho nguyên đơn Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải làm thủ tục

chuyển nhượng thửa đất ấy Bị đơn không đồng ý và yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu Căn cứ vào các điều luật BLDS 2015 hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên không thể yêu cầu hủy hay tuyên bố vô

hiệu Vì vậy, Quyết định chấp nhận kháng nghị, hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm và

giao hồ sơ vụ án để xét xử lại

1.2 Trả lời:

1.2.1 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng

thực?

Đoạn trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác

lập trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực:

[6] “ Theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy

định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện

giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho

nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công

nhận hiệu lực.”

1.2.2 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho

hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu

lực?

Đoạn [6] phần nhận định tòa án trong bản án số 16 cho thấy tòa án đã áp dụng Điều 129

BLDS 2015 có hiệu lực :

1

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat

Trang 5

“[6] … theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 thì tuy giao dịch chuyển

nhượng quyền dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản

đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện

⅔ nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận có hiệu lực Tòa án cấp sơ

thẩm công nhận hiệu lực của giao dịch là đúng pháp luật nhưng buộc bị đơn phải làm thủ

tục chuyển nhượng thửa 877 cho nguyên đơn là không cần thiết, khi tòa án công nhận

hiệu lực của giao dịch thì nguyên đơn liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được

công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật”

1.2.3 Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết

phục không? Vì sao?

Việc Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên là thuyết phục vì:

Theo điểm b Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015: Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc

đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này

thì áp dụng quy định của Bộ luật này Cho nên, trong trường hợp này áp dụng quy định

của BLDS 2015 là hợp lý, đồng thời đảm bảo được quyền, lợi ích của các bên

Quy định tại Khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 là giải pháp hữu hiệu để xử lý tranh chấp trong

trường hợp này, khi mà các bên đã hoàn thành nghĩa vụ giao nhà và trả tiền Tại thời điểm

xác lập giao dịch, các bên đương sự đều vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng

thực Nhưng các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ theo hợp đồng, đã giao tiền và giao nhận

đất (các bên đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch) Bên nhận chuyển nhượng đã xây

nhà và sử dụng đất Vậy nếu tuyên bố hợp đồng giữa các bên là vô hiệu thì chưa hợp lý Cần

xem xét để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên

1.2.4 Trong Bản án số 16, Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên

đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ có thuyết phục không? Vì sao?

Là hoàn toàn thuyết phục vì cũng theo khoản 2 Điều 129 quy định: “2 Giao dịch dân sự

đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng

thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch

thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của

giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng,

chứng thực” Tranh chấp đó phù hợp với quy định Nghĩa là đã xác nhận được giao dịch

trên đã có hiệu lực và buộc các bên phải thực hiện đúng giao kết

Trang 6

1.2.5 Trong bản án 16 ,đoạn nào cho thấy , khi áp dụng điều 129 BLDS 2015, bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận được chuyển nhượng được liên

hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã

có hiệu lực pháp luật”

Đoạn [6] Nhận định tòa án : toà án cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực của chuyển giao dịch

là đúng pháp luật nhưng buộc bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa 877 cho nguyên đơn là không cần thiết khi tòa án công nhận có hiệu lực của giao dịch thì nguyên đơn liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật”

1.2.6 Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án có thuyết phục không? Vì sao?

Hướng giải quyết của Tòa án là thuyết phục Vì xét trong sự việc này cả 2 bên đã tồn tại hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất trước khi bị đơn được cấp giấy chứng nhận vào năm 2016 Theo quy định của Luật đất đai tại khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai (2013) cũng như là khoản

1 Điều 106 Luật Đất đai 2003 (đang có hiệu lực tại thời điểm lập hợp đồng) thì bị đơn chưa

có quyền thực hiện các việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất

bị đơn phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc quyết định giao đất thì mới có thể chuyển nhượng đất cho người khác Trong trường hợp này, bị đơn đã chuyển nhượng đất cho người khác trước khi được cấp giấy chứng nhận đất, điều đó là trái với quy định của pháp luật Tòa án có thể căn cứ vào cơ sở này để tuyên bố hợp đồng vô hiệu Tuy nhiên, tòa án vẫn xác định hợp đồng có hiệu lực, vì vậy, hợp đồng vẫn mang tính ràng buộc các bên, trên cơ sở đó, trên thực tế, nguyên đơn đã được xác định là chủ sở hữu của phần đất được chuyển nhượng đó, vì thế bị đơn không còn tư cách để làm thủ tục sang tên cho nguyên đơn nữa Do đó trường hợp này cần phải xác định nguyên đơn có thể yêu cầu liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Dựa trên những điều đó hướng xử lí của tòa án là phù hợp và thuyết phục

1.2.7 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực: “Về hình thức của hợp đồng: Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01-01-2017, thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10-8-2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với

vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức

3

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat

Trang 7

1.2.8 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức?

Theo khoản 3 Điều 132 BLDS 2015 thì khi hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này

mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực Cho nên hệ quả pháp lí của việc hết thời hạn yêu cầu của Toàn án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức là hợp đồng sẽ có hiệu lực

1.2.9 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực là: “Tuy nhiên, từ khi xác lập hợp đồng đến ngày nguyên đơn khởi kiện 18/4/2017, đã quá thời hạn hai năm, bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng

vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên có hiệu lực theo khoản 2 Điều 132 BLDS 2015 ”

1.2.10 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không?

Vì sao?

Việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định có vi phạm quy định

và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu có thuyết phục Bởi vì đối với hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định có vi phạm về hình thức theo Điều 132 BLDS

2015 thì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là hai năm Nếu trong thời hạn hai năm mà không khởi kiện thì đồng nghĩa với việc từ chối được pháp luật bảo vệ

Vì vậy, Tòa án công nhận hợp đồng trên là hoàn toàn hợp lý

2.1 Tóm tắt bản án:

2.1.1 Tình huống:

Ông Minh ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Cường quyền sử dụng một mảnh đất Hợp đồng được giao kết hợp pháp và ông Minh đã giao đất cho ông Cường nhưng ông Cường không trả tiền cho ông Minh mặc dù ông Minh đã nhiều lần nhắc nhở Nay ông Minh yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng để nhận lại đất

2.1.2 Bản án số 06/2017/ KDTM-PT:

Nguyên đơn là công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ (đại diện là ông Nguyễn Thành Tơ), bị đơn là bà Nguyễn Thị Dệt và ông Trương Văn Liêm đã giao kết một hợp đồng mua bán ô tô (ô tô biển kiểm soát số 64C-00876) ngày 26/5/2012 nhưng hợp đồng đã bị vô hiệu Thứ nhất, do trong hợp đồng ghi bến mua “Trang trí nội thất Thanh Thảo” nhưng bà Dệt

Trang 8

không phải là đại diện bên này Thứ 2, do bên mua là bà Dệt nhưng khi kí kết hợp đồng

lại là ông Trương Văn Liêm (điều này không đúng theo quy định của pháp luật) Vì vậy

Tòa án tuyên chiếc ô tô vẫn thuộc quyền sở hữu của công ty Đông Phong và kiến nghị

Công an tỉnh Vĩnh Long thu hồi lại giấy đăng kí xe ô tô cho bà Nguyễn Thị Dệt đứng tên

Ngoài ra, ông Nguyễn Thành Tơ đã đóng trước bạ đăng kí xe ô tô là 4.8800.000₫ nên nay

phía bị đơn phải trả lại cho ông Tơ số tiền này Đồng thời, trước đó ông Trương Văn

Liêm đã mua bảo hiểm xe với số tiền 4.361.600₫ và số tiền cọc cho công ty Đông Phong

67.361.600₫ nên Tòa buộc công ty Đông Phong (đại diện là ông Nguyễn Thành Tơ) trả

cho bị đơn tổng số tiền 67.361.600₫

2.2 Trả lời:

2.2.1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có vi

phạm

*Điểm giống nhau:

- Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để hoàn trả

- Việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng đều liên quan đến nhân thân do

Bộ luật này và luật khác có liên quan quy định

Điều

- Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp

dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập,

- Do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình

- Do không tuân thủ quy định về hình thức

- Do có đối tượng không thể thực hiện được

5

Trang 9

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat

Trang 10

=> CSPL: Điều 122, Điều 407, Điều 408 BLDS 2015

pháp lý

phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp

- Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bênkia được bồi thường

=> CSPL: Điều 427 BLDS 2015

Tính Không làm phát sinh, thay thế, chấm dứt quyền, nghĩa vụ Hợp đồng này không có hiệu lực tại chất dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập thời điểm giao kết, các bên không

trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp

=> CSPL: khoản 1 Điều 427 BLDS 2015

2.2.2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ?

- Tòa án nhận định: “Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu trên là vô hiệu theo quy định tại các Điều 122 của Bộ luật Dân sự nên không có căn cứ tuyên hủy hợp đồng cũng không xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của cả nguyên đơn và bị đơn vì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên ngay từ thời điểm giao kết, không ràng buộc trách nhiệm các bên đã giao kết trong hợp đồng mà phải tuyên hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả theo Điều 131 của Bộ luật Dân sự”

2.2.3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long

(về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng)

6

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat

Ngày đăng: 29/10/2022, 08:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w