Buổi thảo luận thứ hai: Vấn đề chung của hợp đồngVấn đề 1: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồngSuy nghĩ của anhchị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trênSự ưng thuận trong quá trình giao kết hợp đồng2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?
Trang 1Buổi thảo luận thứ hai: Vấn đề chung của hợp đồng Vấn đề 1: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên
Theo suy nghĩ của nhóm về 3 vấn đề trên là:
Hướng giải quyết (1) là hợp pháp vì A, B và C cùng gửi đề nghị giao kết hợp đồng cho D nhưng D chỉ gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho A và B mà không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C (C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D) Do đó hợp đồng
không được giao kết vì vi phạm khoản 1 Điều 400 BLDS 2015 quy định: “Hợp
đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết”.
Trong tình huống có nêu là bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận giao kết jopwj đồng
Hướng giải quyết (2) hợp pháp vì theo khoản 1 Điều 394 BLDS 2015 đề nghị
giao kết hợp đồng không ấn định thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng nên lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong thời hạn hợp lý Theo tình huống trên thì A, B và C gửi đề nghị giao kết hợp đồng vào tháng 1/2018 mà đến tháng 1/2020 và tháng 2/2020 D mới gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho
A và B Mà trong Điều 394 BLDS 2015 cũng không giải thích rõ thời gian hợp lý là
như thế nào nên theo suy nghĩ của nhóm thì D gửi chấp nhận đề nghị sau 2 năm là không hợp lý vì kéo dài quá lâu và không có lý do cho việc chậm trả lời đó Do đó, chấp nhận giao kết hợp đồng của D chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo
quy định của Điều 394 BLDS 2015.
Hướng giải quyết (3) là không hợp pháp vì A, B và C gửi đề nghị giao kết hợp
đồng cho D và không ấn định thời hạn nên chấp nhận của D không thể là đề nghị
giao kết mới theo Khoản 1 Điều 394 BLDS 2015.
Vấn đề 2: Sự ưng thuận trong quá trình giao kết hợp đồng
2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?
Khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 quy định về Thời điểm giao kết hợp đồng dân
sự: “Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết”.
→Sự im lặng trong BLDS 2005 được xem như là sự chấp nhận giao kết hợp
đồng
Khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 quy định về Chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao
Trang 2kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”.
→Sự im lặng trong trong BLDS 2015 không được xem là chấp nhận giao kết hợp
đồng trừ trường hợp có thoả thuận hay do thói quen của các bên Việc quy định như vậy nhằm hạn chế những trường hợp phát sinh tranh chấp không đáng có từ việc im lặng
2.2 Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?
Tóm tắt Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao
Chủ thể: bà Tý, ông Tiến - ông Ngự
Tranh chấp: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Lí do:
Năm 1996, ông Tiến, bà Tý mua nhà, đất từ ông Ngự đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn nền đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở
Sau khi bán nhà, đất ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho các người con Năm 1996, ông Ngự còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong thực tế
vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã sử dụng phần nhà đất đã chuyển nhượng khi xây dựng nhà
Tòa án: Xác định bà Phấn biết có việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý
Việc Toà án sử dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển
nhượng trong tình huống trên là thuyết phục
Vì tình huống trên những chủ sở hữu chung đã biết việc chuyển nhượng và không phản đối Minh chứng là ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên làm thủ tục chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì Sự im lặng
trong trường hợp này tương tự như Án lệ 04/2016/AL là bà Phấn đã biết việc
chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng bà Tý mà không phản đối
- Sự im lặng của người đó như thế nào
- Sựu im lặng đó có biết được k và có phản dối hay k tại thời điểm thực hiện hợp đồng
Quy định của điều 393 bên được đề nghị im lặng nhưng không đồng nghĩa với đồng ý, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen khác Quy định cảu điều
212 định đoạt tài sản của gia đình
Trang 3Vấn đề 3: Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được
So sánh điều 408 và điều 422
3.1 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015
và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu
Thứ nhất,
Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp ngay từ khi ký
kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu”.
Khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp ngay từ khi giao kết,
hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu”.
→BLDS 2015 đã đổi từ “ký kết” thành “giao kết” và đã bỏ đi cụm từ “vì lí do
khách quan”
Việc chuyển từ “ký kết” thành “giao kết” là do “ký” chỉ có thể áp dụng cho những loại hợp đồng được hình thành dưới hình thức văn bản nhưng vì có những loại hợp đồng có hiệu lực ngay cả khi không cần làm văn bản (hợp đồng miệng, ) nên mới chuyển thành “giao” vì nó bao quát rộng hơn và áp dụng cho mọi hình thức của hợp đồng
Bỏ đi cụm từ “vì lí do khách quan” bởi vì muốn hợp đồng có thể thực hiện được thì chủ thể phải có khả năng thực hiện được hợp đồng Trong trường hợp chủ thể bị mất khả năng thực hiện hợp đồng vì “lí do chủ quan” thì tại thời điểm đó cũng không thể nào tiếp tục thực hiện hợp đồng được Vì lí do này, BLDS 2015 xét thấy nên công nhận hợp đồng vô hiệu vì bất cứ lí do gì làm chủ thể mất khả năng thực hiện hợp đồng
Thứ hai,
Khoản 3 Điều 411 BLDS 2005 quy định: “Quy định tại khoản 2 Điều này
cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được, nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý”.
Khoản 3 Điều 408 BLDS 2015 quy định: “Quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần
Trang 4đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực”.
→BLDS 2015 đã thêm “khoản 1” vào các quy định được áp dụng tại khoản 3 này.
Việc bổ sung này sẽ làm lợi ích mà các bên chủ thể của giao dịch được nhận mang tính đảm bảo hơn về những phần mà các bên vẫn có khả năng thực hiện
3.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?
BLDS 2015 không quy định rõ về thời hiệu đối với việc tuyên bố vô hiệu hợp
đồng do đối tượng không thể thực hiện được Vì “đối tượng không thể thực hiện
được hợp đồng” không thuộc bất kì trường hợp nào trong Điều 117, 122-132 BLDS
2015 nên không thể áp dụng được Nhưng việc thiếu căn cứ pháp lý về thời hiệu
tuyên bố sẽ là bất hợp lí khi giải quyết hợp đồng Do đó, theo ý kiến của nhóm sau khi được tham khảo, để cho hợp lí hơn thì nên áp dụng quy định chung cho thời
hiệu khởi kiện hợp đồng ở Điều 429 BLDS 2015 về Thời hiệu khởi kiện về hợp
đồng: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.
Có thể áp dụng điều 116 điều 407 để áp dụng điều 132 áp dụng thời hiệu 2 năm
Trong thực tế xét xử đã có phương án áp dụng không hạn chế thời hiệu theo khoản 2 điều 132
3.3 Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao?[1]
Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục Để xác định hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể
thực hiện được đã được quy định ở Điều 408 BLDS 2015.
Thứ nhất, khoản 1 Điều 408 BLDS quy định: “Trường hợp ngay từ khi giao
kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng vô hiệu” Với
1 []“Vấn đề áp dụng thời hiệu khi hợp đồng vô hiểu do có đối tượng không thể thực hiện được”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat-the-gioi/van-de-ap-dung-
Trang 5tình huống trên thì trên đất của ông A có căn nhà thuộc sở hữu của người khác (không thuộc tài sản thế chấp) thì cho dù căn nhà đó được xây tại thời điểm giao kết hay sau thời điểm giao kết thì hợp đồng vẫn vô hiệu vì Khoản 1 Điều 408 BLDS
2015 có cụm từ “ngay từ khi giao kết” có nghĩa là tại thời điểm giao kết đến nay có đối tượng không thể thực hiện được
Thứ hai, ông A có quyền sử dụng đất nên có khả năng ông A biết được sự tồn
tại của căn nhà thì căn cứ vào khoản 2 Điều 408 BLDS 2015 quy định: “Trường
hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được” thì hợp đồng vẫn vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được.
Theo quy định của BLDS 2015 tại điều 325, có thể theo hướng đây là hợp đồng có đối tượng có thể thực hiện được
Trong thực tế, đã có tình huống như trên ở Án lệ số 11, bên thể chấp thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản thuộc quyền sở hữu đất của bên thế chấp TA đã đưa ra quyết định hợp đồng có hiệu lực
Vấn đề 4: Xác lập hợp đồng có giả tạo và nhằm tẩu tán tài sản
*Đối với vụ việc thứ nhất
Tóm tắt Bản án số 06/2017/DS-ST ngày 17/01/2017 của Toà án nhân dân TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương
Chủ thể: bà Trần Thị Diệp Thúy - bà Nguyễn Thị Thanh Trang
Tranh chấp: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Lý do:
Bà Trang cho bà Thúy vay số tiền là 100.000.000 đồng Để đảm bảo vay mượn, hai bên đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hình thức đặt cọc 100.000.000 đồng
Hết thời hạn bà Trang không trả đủ số tiền nên bà Thúy đã khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do đây là giao dịch giả tạo che giấu cho việc bà Thúy cho bà Trang vay 100.000.000 đồng và bà Trang có nghĩa vụ trả số tiền còn lại cho
bà Thúy nhưng bà Trang không đồng ý vì cho rằng đã thanh toán hết số tiền trên Tòa án: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (hợp đồng giả tạo) xác lập giữa bà Thúy và bà Trang vô hiệu nhưng vẫn công nhận hợp đồng vay
là có hiệu lực (hợp đồng bị che giấu)
4.1 Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?
Giả tạo trong xác lập giao dịch dân sự là xác lập dựa trên hành vi gian dối và thực hiện khi các bên xác lập giao dịch đó Giao dịch giả tạo là giao dịch được xác lập
Trang 6nhằm che dấu việc thực hiện một hợp đồng khác mà các bên thật sự mong muốn thực hiện Mục đích của hợp đồng giao dịch không giống với mục đích thật sự của các bên hướng đến
Điều 124 BLDS 2015 quy định về Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo:
“1 Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
2 Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.”
4.2 Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?
Đoạn của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng: “Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Trang là vô hiệu vì đây là giao dịch giả tạo…”
Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích được thể hiện ở đoạn: “…
che dấu cho việc vay mượn và bà Trang có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền là 95.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất.”
4.3 Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu
Theo quy định của Điều 124 BLDS 2015 và phần xét thấy trong bản án: “Đối
chiếu với quy định trên trường hợp giữa nguyên đơn với bà Trang thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bà Trang là vô hiệu do giả tạo và giao dịch vay tài sản với số tiền là 100.000.000 đồng
có hiệu lực” Đồng thời theo Điều 131 BLDS 2015, các bên có lỗi ngang nhau trong
việc làm hợp đồng vô hiệu, do vậy các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và không phải bồi thường
4.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu
Theo suy nghĩ của nhóm về hướng xử lý của Tòa án như trên căn cứ vào Điều
124 và Điều 131 BLDS 2015 là hoàn toàn hợp lý.
Vì đây là hợp đồng giả tạo về bản chất của giao dịch dân sự Tòa án đã xác minh được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của nguyên đơn và bị đơn
là giả tạo nhằm che dấu việc nguyên đơn cho bị đơn vay 100.000.000 đồng, điều
này đã được cả hai bên thừa nhận Mà theo Điều 124 BLDS 2015 quy định giao
dịch dân sự giả tạo nhằm che dấu một giao dịch khác thì giao dịch dân sự giả tạo sẽ
vô hiệu Còn hợp đồng bị che giấu đã được hai bên xác nhận nên để đảm bảo quyền
Trang 7lợi cho các bên nên Toà tuyên bố có hiệu lực và họ sẽ trả lại cho nhau những gì đã
nhận và không bồi thường Kết hợp Điều 124 và Điều 131 BLDS 2015 cho thấy kết
luận của Tòa án là hoàn toàn hợp lý và phù hợp theo quy định pháp luật
* Đối với vụ việc thứ hai
Tóm tắt Quyết định số 259/2014/DS-GĐT ngày 16/06/2014 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Chủ thể:
Bà Thu - bà Kim Anh (hợp đồng vay)
Bà Thu - ông Vượng (hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất)
Tranh chấp: Hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Lý do: Bà Anh vay của bà Thu 3,7 tỷ đồng đã đòi nhiều lần nhưng bà Anh không trả Năm 2009, bà Anh đề nghị chuyển nhượng đất cấn trừ nợ nhưng lại ra giá quá cao nên thỏa thuận không thành Sau đó, bà Thu phát hiện bà Anh có hành
vi bán đất cho ông Vượng (nhưng giá đất không đúng trên thực tế) nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ Vì thế, bà Thu khởi kiện ra Tòa buộc bà Anh trả lại tiền gốc lẫn lãi, đồng thời buộc Tòa phong tỏa tài sản của bà Anh để bảo vệ quyền lợi cho mình
Tòa án: Tòa án nhân dân tối cao đồng ý với hướng giải quyết của Tòa cấp sơ thẩm là yêu cầu bà Anh trả tiền gốc + lãi cho bà Thu, thực hiện phong tỏa tài sản của bà Anh để đảm bảo quyền lợi cho bà Thu, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
vô hiệu
4.5 Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu?
Vì Tòa án xét thấy:
Vợ chồng bà anh thừa nhận còn nợ bà Thu 3,1 tỷ đồng, đồng thời cũng cam kết chuyển nhượng nhà đất để trả nợ cho bà Thu nhưng vợ chồng bà Anh không thực hiện cam kết với bà Thu mà làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất trên cho vợ chồng ông Vượng
Thảo thuận chuyển nhượng giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là hợp đồng giả tạo bởi vì giá thực tế nhà đất là 5,6 tỷ đồng, nhưng hai bên thảo thuận chuyển nhượng chỉ với giá 680 triệu đồng
Trang 8→Giao dịch giữa vợ chồng bà Anh và vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn
tránh nghĩa vụ với bà Thu (cơ sở pháp lý là Điều 129 BLDS 2005 hiện là Điều 124 BLDS 2015)
4.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)?
Theo suy nghĩ của nhóm thì hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ) là hợp lý
Vợ chồng bà Anh đang có nghĩa vụ trả nợ cho bà Thu 3,1 tỷ đồng và tiền lãi đồng thời cũng cam kết chuyển nhượng nhà đất để trả nợ cho bà
Tuy nhiên vợ chồng bà Anh lại chuyển nhượng nhà đất trên cho vợ chồng ông Vượng, thỏa thuận chuyển nhượng của vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng không phù hợp với thực tế vì giá thực tế là 5,6 tỷ đồng nhưng hai bên lại thỏa thuận chuyển nhượng với giá 680 triệu đồng cho nên thỏa thuận chuyển nhượng giả tạo
này vô hiệu (cơ sở pháp lý là Điều 129 BLDS 2005 hiện là khoản 1 Điều 124 BLDS 2015)
→Có thể thấy, vợ chồng bà Anh xác lập thỏa thuận chuyển nhượng giả tạo trên nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ với bà Thu, thỏa thuận chuyển nhượng giả tạo thấp hơn rất nhiều (680 triệu đồng) so với thỏa thuận chuyển nhượng thực tế (5,6 tỷ đồng) và khoản nợ 3,1 tỷ đồng đối với bà Thu Cho nên thỏa thuận chuyển nhượng này vô hiệu do là giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba (cơ sở
pháp lý là Điều 129 BLDS 2005 hiện là khoản 2 Điều 124 BLDS 2015).
4.7 Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ
Việc Tòa án xác định giao dịch nhà đất giữa vợ chồng bà Anh và vợ chồng ông Vượng là giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đối với bà Thu sẽ dẫn
đến việc giao dịch dân sự đó trở nên vô hiệu Căn cứ vào khoản 2 Điều 124 BLDS
2015 quy định: “Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh
nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu”
Vợ chồng bà Anh phải hoàn lại tiền cho vợ chồng ông Vượng, đồng thời vợ
chồng ông Vượng phải trả lại nhà và đất cho vợ chồng bà Anh Dựa vào khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 quy định:
“Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.”
Trang 9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A Văn bản quy phạm pháp luật
1 Bộ luật Dân sự 2005 (Luật số 33/2005/QH11) ngày 14/6/2005
2 Bộ luật Dân sự 2015 (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015
1 Án lệ số 04/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 06/4/2016 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
2 Bản án số 06/2017/DS-ST của Toà án nhân dân TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương ngày 17/01/2017 về về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
3 Quyết định số 259/2014/DS-GĐT của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao ngày 16/06/2014 về vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
B Tài liệu tham khảo
“Vấn đề áp dụng thời hiệu khi hợp đồng vô hiểu do có đối tượng không thể thực hiện được”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat-the-gioi/van-de-ap-dung-thoi-