1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BUỔI THẢO LUẬN số 3 vấn đề CHUNG của hợp ĐỒNG (tt) hợp ĐỒNG VI PHẠM về HÌNH THỨC

16 5 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Buổi Thảo Luận Số 3: Vấn Đề Chung Của Hợp Đồng (tt) Hợp Động Vi Phạm Về Hình Thức
Tác giả Đỗ Bùi Huy Hoàng, Trượng Chi Khảo, Hán Hoàng Lam, Lại Duy Lộc, Nguyễn Cát Lượng, Kiều Nữ Xuân Mai, Nguyễn Dương Phương Mai, Lương Nguyễn Tiến Mạnh, Võ Thị Mỹ
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Pháp Luật Về Hợp Đồng Và Bồi Thường Thiệt Hại Ngoài Hợp Đồng
Thể loại Thảo luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 419,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ vào các điều luật BLDS 2015 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên không thể yêu cầu hủy hay tuyên bố vô hiệu .Vì vậy, Quyết định chấp nhận kháng nghị, hủy toàn bộ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ MÔN: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI

HỢP ĐỒNG LỚP DS46A2

BUỔI THẢO LUẬN SỐ 3: VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG (tt)

NHÓM 2

1 Đỗ Bùi Huy Hoàng 2153801012085

2 Trượng Chi Khảo 2153801012100

3 Hán Hoàng Lam 2153801012106

4 Lại Duy Lộc 2153801012122

5 Nguyễn Cát Lượng 2153801012124

6 Kiều Nữ Xuân Mai 2153801012126

7 Nguyễn Dương Phương Mai 2153801012127

8 Lương Nguyễn Tiến Mạnh 2153801012128

Trang 2

MỤC LỤC

1 HỢP ĐỒNG VI PHẠM VỀ HÌNH THỨC: 1

1.1 Tóm tắt bản án: 1

1 Bản án số 16/2019/DS-PT và Quyết định số 93/2019/DS-GĐT 1

1.2 Trả lời: 1

1.2.1 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực? (Xmai) 1

1.2.2 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực? (Xmai) 1

1.2.3 Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao? Lượng 2

1.2.4 Trong Bản án số 16, Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ có thuyết phục không? Vì sao? Lượng 2

1.2.5 Trong bản án 16 ,đoạn nào cho thấy , khi áp dụng điều 129 BLDS 2015 , bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận được chuyển nhượng được liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật” XMai 3

1.2.6 Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án có thuyết phục không? Vì sao? khảo 3

1.2.7 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực? khảo 3

1.2.8 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức? Khảo 4

1.2.9 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực? Hoàng 4

1.2.10 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao? Hoàng 4

2 ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HỦY BỎ DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG 4

2.1 Tóm tắt bản án: 4

2.1.1 Tình huống: 4

2.1.2 Bản án số 06/2017/ KDTM-PT: Lượng 4

2.2 Trả lời: 5

2.2.1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm (Mạnh) 5

2.2.2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ? (Mạnh) 6

2.2.3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng) (Mạnh) 6

2.2.4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao? (Lam) 7

Trang 3

2.5 Hướng giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy

nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (Lam) 7

2.6 Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm (Lam) 8

2.2.7 Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không? Vì sao? Nếu có nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ (Lộc) 9

3 ĐỨNG TÊN GIÙM MUA BẤT ĐỘNG SẢN 9

3.1 Tóm tắt Quyết định số 17/2015/DS-GĐT: XMai 9

3.2 Trả lời: 9

3.2.1 Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ vả ông Bình, bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục không? Vì sao? 9

3.2.2 Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không? Vì sao? (PMai) 10

3.2.3 Ờ thời điểm hiện nay, bà Tuệ có được đứng tên mua nhà ở Việt Nam không? (PMai) 10

3.2.4 Ngày nay, theo Tòa án nhân dân tối cao, bà Tuệ có được công nhận quyền sở hữu nhà trên không? Hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ chưa? (Lộc) 10

3.2.5 Theo tòa án nhân dân tối cao, phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ bỏ ra và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp được xử lý như thế nào? (Lộc) 10

3.2.6 Hướng giải quyết trên của TAND tối cao đã có án lệ chưa? Nếu có, nêu Án lệ đó (Mỹ) 10

3.2.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao (Mỹ) 11

4 TÌM KIẾM TÀI LIỆU: 11

Trang 4

1 HỢP ĐỒNG VI PHẠM VỀ HÌNH THỨC:

1.1 Tóm tắt bản án:

1 Bản án số 16/2019/DS-PT và Quyết định số 93/2019/DS-GĐT

Vụ án Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các đương sự: nguyên đơn ông Võ Sĩ Mến và bà Phùng Thị Nhiễm, bị đơn ông Đoàn Cưu và bà Trần Thị Lắm Năm 2009 bị đơn thỏa thuận và lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, diện tích đất chuyển nhượng là lô B Nguyên đơn đã trả đủ tiền cho bị đơn Năm 2011, Nhà nước đã thu hồi lô B và cấp lại cho bị đơn lô A, bị đơn yêu cầu phía nguyên đơn đưa thêm tiền vì giá đất mặt tiền cao hơn, nguyên đơn đồng ý đưa tiếp một phần tiền, phần còn lại khi nào làm thủ tục chuyển nhượng xong thì đưa đủ Tháng 10/2016 Nhà nước mới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn nhưng phía bị đơn chỉ đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất mà không làm thủ tục chuyển nhượng đất cho nguyên đơn Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất ấy Bị đơn không đồng ý và yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu Căn cứ vào các điều luật BLDS 2015 hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất giữa hai bên không thể yêu cầu hủy hay tuyên bố vô hiệu Vì vậy, Quyết định chấp nhận kháng nghị, hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm và giao hồ sơ vụ án để xét xử lại

1.2 Trả lời:

1.2.1 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực:

[6] “ Theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực.”

1.2.2 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực?

Đoạn [6] phần nhận định tòa án trong bản án số 16 cho thấy tòa án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 có hiệu lực :

Trang 5

“[6] … theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản

1 điều 502 BLDS 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện

⅔ nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận có hiệu lực Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực của giao dịch là đúng pháp luật nhưng buộc bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa 877 cho nguyên đơn là không cần thiết, khi tòa án công nhận hiệu lực của giao dịch thì nguyên đơn liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật”

1.2.3 Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên là thuyết phục vì: Theo điểm b Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015: Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này Cho nên, trong trường hợp này áp dụng quy định của BLDS 2015 là hợp lý, đồng thời đảm bảo được quyền, lợi ích của các bên

Quy định tại Khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 là giải pháp hữu hiệu để xử lý tranh chấp trong trường hợp này, khi mà các bên đã hoàn thành nghĩa vụ giao nhà và trả tiền Tại thời điểm xác lập giao dịch, các bên đương sự đều vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực Nhưng các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ theo hợp đồng, đã giao tiền và giao nhận đất (các bên đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch) Bên nhận chuyển nhượng đã xây nhà và sử dụng đất Vậy nếu tuyên bố hợp đồng giữa các bên là vô hiệu thì chưa hợp

lý Cần xem xét để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên 1.2.4 Trong Bản án số 16, Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ có thuyết phục không? Vì sao?

Là hoàn toàn thuyết phục vì cũng theo khoản 2 Điều 129 quy định: “2 Giao dịch dân sự

đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực” Tranh chấp đó phù hợp với quy định Nghĩa là đã xác nhận được giao dịch trên đã

có hiệu lực và buộc các bên phải thực hiện đúng giao kết

Trang 6

1.2.5 Trong bản án 16 ,đoạn nào cho thấy , khi áp dụng điều 129 BLDS 2015, bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận được chuyển nhượng được liên hệ

cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật”

Đoạn [6] Nhận định tòa án : toà án cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực của chuyển giao dịch là đúng pháp luật nhưng buộc bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa 877 cho nguyên đơn là không cần thiết khi tòa án công nhận có hiệu lực của giao dịch thì nguyên đơn liên

hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã

có hiệu lực pháp luật”

1.2.6 Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án có thuyết phục không? Vì sao?

Hướng giải quyết của Tòa án là thuyết phục Vì xét trong sự việc này cả 2 bên đã tồn tại hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất trước khi bị đơn được cấp giấy chứng nhận vào năm

2016 Theo quy định của Luật đất đai tại khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai (2013) cũng như

là khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai 2003 (đang có hiệu lực tại thời điểm lập hợp đồng) thì bị đơn chưa có quyền thực hiện các việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất

bị đơn phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc quyết định giao đất thì mới có thể chuyển nhượng đất cho người khác Trong trường hợp này, bị đơn đã chuyển nhượng đất cho người khác trước khi được cấp giấy chứng nhận đất, điều đó là trái với quy định của pháp luật Tòa án có thể căn cứ vào cơ sở này để tuyên bố hợp đồng vô hiệu Tuy nhiên, tòa án vẫn xác định hợp đồng có hiệu lực, vì vậy, hợp đồng vẫn mang tính ràng buộc các bên, trên cơ sở đó, trên thực tế, nguyên đơn đã được xác định là chủ sở hữu của phần đất được chuyển nhượng đó, vì thế bị đơn không còn tư cách để làm thủ tục sang tên cho nguyên đơn nữa Do đó trường hợp này cần phải xác định nguyên đơn có thể yêu cầu liên

hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Dựa trên những điều đó hướng xử lí của tòa án là phù hợp và thuyết phục

1.2.7 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực: “Về hình thức của hợp đồng: Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01-01-2017, thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10-8-2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với

vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức

Trang 7

1.2.8 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức?

Theo khoản 3 Điều 132 BLDS 2015 thì khi hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực Cho nên hệ quả pháp lí của việc hết thời hạn yêu cầu của Toàn án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

về hình thức là hợp đồng sẽ có hiệu lực

1.2.9 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày10/8/2009

dù chưa được công chứng, chứng thực là: “Tuy nhiên, từ khi xác lập hợp đồng đến ngày nguyên đơn khởi kiện 18/4/2017, đã quá thời hạn hai năm, bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên có hiệu lực theo khoản 2 Điều 132 BLDS 2015 ”

1.2.10 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định có vi phạm quy định và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu có thuyết phục Bởi vì đối với hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định có vi phạm về hình thức theo Điều 132 BLDS 2015 thì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là hai năm Nếu trong thời hạn hai năm mà không khởi kiện thì đồng nghĩa với việc từ chối được pháp luật bảo vệ Vì vậy, Tòa án công nhận hợp đồng trên là hoàn toàn hợp lý

2 ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HỦY BỎ DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG

2.1 Tóm tắt bản án:

2.1.1 Tình huống:

Ông Minh ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Cường quyền sử dụng một mảnh đất Hợp đồng được giao kết hợp pháp và ông Minh đã giao đất cho ông Cường nhưng ông Cường không trả tiền cho ông Minh mặc dù ông Minh đã nhiều lần nhắc nhở Nay ông Minh yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng để nhận lại đất

2.1.2 Bản án số 06/2017/ KDTM-PT:

Nguyên đơn là công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ (đại diện là ông Nguyễn Thành Tơ), bị đơn là bà Nguyễn Thị Dệt và ông Trương Văn Liêm đã giao kết một hợp đồng mua bán ô tô (ô tô biển kiểm soát số 64C-00876) ngày 26/5/2012 nhưng hợp đồng đã bị vô hiệu Thứ nhất, do trong hợp đồng ghi bến mua “Trang trí nội thất Thanh Thảo” nhưng bà Dệt

Trang 8

không phải là đại diện bên này Thứ 2, do bên mua là bà Dệt nhưng khi kí kết hợp đồng lại

là ông Trương Văn Liêm (điều này không đúng theo quy định của pháp luật) Vì vậy Tòa

án tuyên chiếc ô tô vẫn thuộc quyền sở hữu của công ty Đông Phong và kiến nghị Công an

tỉnh Vĩnh Long thu hồi lại giấy đăng kí xe ô tô cho bà Nguyễn Thị Dệt đứng tên Ngoài ra,

ông Nguyễn Thành Tơ đã đóng trước bạ đăng kí xe ô tô là 4.8800.000₫ nên nay phía bị

đơn phải trả lại cho ông Tơ số tiền này Đồng thời, trước đó ông Trương Văn Liêm đã mua

bảo hiểm xe với số tiền 4.361.600₫ và số tiền cọc cho công ty Đông Phong 67.361.600₫

nên Tòa buộc công ty Đông Phong (đại diện là ông Nguyễn Thành Tơ) trả cho bị đơn tổng

số tiền 67.361.600₫

2.2 Trả lời:

2.2.1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có vi

phạm

*Điểm giống nhau:

- Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận

- Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để hoàn trả

- Việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng đều liên quan đến nhân

thân do Bộ luật này và luật khác có liên quan quy định

* Điểm khác nhau:

Cơ sở

pháp lý,

Điều

kiện

- Do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

- Do giả tạo

- Do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi

dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập,

thực hiện

- Do nhầm lẫn

- Do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

- Do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi

của mình

- Do không tuân thủ quy định về hình thức

- Do có đối tượng không thể thực hiện được

- Vi phạm điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận

- Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng

- Trường hợp khác do pháp luật quy định

=> CSPL: Điều 423 BLDS 2015

Trang 9

=> CSPL: Điều 122, Điều 407, Điều 408 BLDS 2015

Hậu quả

pháp lý

- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường

=> CSPL: Điều 131 BLDS 2015

- Các bên không phải thực hiện nghĩa

vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp

- Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường

=> CSPL: Điều 427 BLDS 2015

Tính

chất

Không làm phát sinh, thay thế, chấm dứt quyền, nghĩa vụ

dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập

=> CSPL: khoản 1 Điều 131 BLDS 2015

Hợp đồng này không có hiệu lực tại thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp

=> CSPL: khoản 1 Điều 427 BLDS

2015

2.2.2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ?

- Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu

- Tòa án nhận định: “Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu trên là vô hiệu theo

quy định tại các Điều 122 của Bộ luật Dân sự nên không có căn cứ tuyên hủy hợp đồng

cũng không xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của cả nguyên đơn và bị đơn vì hợp đồng

vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên ngay từ thời điểm giao kết,

không ràng buộc trách nhiệm các bên đã giao kết trong hợp đồng mà phải tuyên hợp đồng

vô hiệu và xử lý hậu quả theo Điều 131 của Bộ luật Dân sự”

2.2.3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long

(về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng)

- Hướng giải quyết nêu trên của Tòa án là hợp lý

- Vì xét thấy, Hợp đồng mua bán xe máy ngày 25/5/2012 vô hiệu là có căn cứ:

Trang 10

+ Theo Điều 122 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.”

+ Hợp đồng mua bán xe máy nêu trên đã vi phạm quy định về năng lực chủ thể tại điểm a khoản 1 Điều 117, theo đó để tham gia vào một giao dịch dân sự: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.” + Trên hợp đồng ghi bên mua là “Trang trí nội thất Thanh Thảo”, người đại diện Nguyễn Thị Dệt là không đúng vì bà Dệt không đại diện cho Trang trí nội thất Thanh Thảo Thực chất, người đại diện cho công ty này là ông Trương Hoàng Thành Vậy nên bà Dệt không

có năng lực chủ thể phù hợp vì bà không có khả năng đại diện cho “Trang trí nội thất Thanh Thảo” xác lập giao dịch dân sự

2.2.4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao?

- Theo khoản 1 Điều 418 BLDS 2015 quy định “Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm” Có nghĩa là phạt vi phạm chỉ phát sinh khi có vi phạm xảy ra và khi có sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng Nếu không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận mà không vi phạm thì cũng không làm phát sinh vi phạm hợp đồng

- Theo khoản 1 Điều 131 BLDS 2015 quy định “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập” Xét trong trường hợp hợp đồng bị vô hiệu, tức là hợp đồng không có hiệu lực kể

từ thời điểm giao kết thì sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập

- Theo Điều 131 BLDS 2015 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu không quy định phạt vi phạm là một hậu quả pháp lý khi giao dịch bị tuyên là vô hiệu

- Vì vậy, sự thỏa thuận về phạt vi phạm trong hợp đồng cũng sẽ đương nhiên không có hiệu lực và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên Nên không có căn cứ để áp dụng phạt vi phạm hợp đồng khi bị vô hiệu

2.5 Hướng giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long

- Căn cứ vào nhận định của Tòa án ở Bản án cho thấy hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên là không áp dụng phạt vi phạm hợp đồng

- Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu trên là vô hiệu theo quy định tại các Điều

122 của Bộ luật dân sự nên không có căn cứ tuyên hủy hợp đồng cũng không xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của cả nguyên đơn và bị đơn vì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên ngay từ thời điểm giao kết, không ràng buộc trách nhiệm các bên đã giao kết trong hợp đồng mà phải tuyên hợp đồng vô hiệu

Ngày đăng: 28/10/2022, 04:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w