1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT KHÁT QUÁT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

16 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 34,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT KHÁT QUÁT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Trong bài làm dưới đây Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019 được viết tắt là Luật SHTT A 1 Lý thuyết 1 Vì sao cần phải bảo hộ tài sản trí tuệ? Quyền sở hữu trí tuệ có những đặc trưng gì so với các tài sản hữu hình? 2 Phân tích đặc điểm tính lãnh thổ của quyền SHTT? 3 Quyền sở hữu trí tuệ có những đối tượng nào? Cho ví dụ minh hoạ mỗi đối tượng. 4 Trình bày những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019.

Trang 1

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT KHÁT QUÁT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Trong bài làm dưới đây Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019 được viết tắt là Luật SHTT

A.1 Lý thuyết:

1/ Vì sao cần phải bảo hộ tài sản trí tuệ? Quyền sở hữu trí tuệ có những đặc trưng gì so với các tài sản hữu hình?

Vì sao cần phải bảo hộ tài sản trí tuệ?

Lý do thứ nhất vừa thoả đáng vừa thích hợp là người tạo ra sản phẩm (sáng tạo) và có nỗ lực trong hoạt động sáng tạo trí tuệ phải có lợi ích nào đó từ những nỗ lực này

Lý do thứ hai là bằng việc dành sự bảo hộ cho các tài sản trí tuệ, những nỗ lực sáng tạo trí tuệ như vậy sẽ được khuyến khích và các ngành công nghiệp dựa trên các sản phẩm sáng tạo như vậy có thể phát triển vì mọi người thấy rằng các sản phẩm như vậy mang lại

sự đền bù về mặt tài chính

Bất cứ khi nào một sản phẩm mới được tung vào thị trường thì nó luôn đứng trước nguy

cơ bị đối thủ cạnh tranh như sản xuất các sản phẩm giống hoặc tương tư, cũng như làm giả, làm nhái các logo, bao bì sản phẩm Đó chính là nguyên nhân vì sao việc đăng ký nhãn hiệu, cũng như việc đăng ký các quyền sở hữu trí tuệ khác của doanh nghiệp lại quan trọng

Việc bảo vệ pháp lý tài sản vô hình thông qua hệ thống sở hữu trí tuệ mang lại cho chủ sở hữu độc quyền sử dụng những tài sản trí tuệ trong một thời hạn nhất định Nói tóm lại việc đăng ký bảo hộ các tài sản vô hình sẽ biến các tài sản vô hình này trở nên hữu hình hơn một chút bằng việc biến chúng thành những tài sản độc quyền

Quyền sở hữu trí tuệ có những đặc trưng gì so với các tài sản hữu hình?

Tiê

u

chí

sản hữu hình

Kh

ái

niệ

m

Sở hữu trí tuệ được định nghĩa là tập hợp các quyền đối

với tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy

tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy định

bảo hộ

Là tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất (nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa, ), có thể nhìn thấy được và có trị giá

đo lường cụ thể

Trang 2

tượ

ng

Tài sản vô hình là kết quả của quá trình tư duy sáng tạo

trong bộ não con người được biểu hiện dưới nhiều hình

thức

Là những tài sản không nhìn thấy được, nhưng trị giá

được tính bằng tiền và có thể trao đổi Ví dụ: tác phẩm

văn học, nghệ thuật, khoa học; cuộc biểu diễn…

Tài sản hữu hình, được qui định tại Điều 105 BLDS bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá

và các quyền tài sản

Hìn

h

thá

i

Tồn tại dưới dạng quyền tài sản và quyền nhân thân Thể hiện dưới dạng hình

thái vật chất nhất định

Bả

o

hộ

tài

sản

sở

hữ

u

- Không gian:

Có giới hạn nhất định Chỉ được bảo hộ trong phạm vi

một quốc gia, khi có tham gia Điều ước quốc tế về sở

hữu trí tuệ thì lúc đó phạm vi bảo hộ được mở rộng ra

các quốc gia thành viên

Ví dụ: bạn đăng ký bảo hộ ở quốc gia A thì trong phạm

vi quốc gia này, không ai được xâm phạm đến quyền sở

hữu của bạn đối với tài sản đó

Tuy Bảo hộ một cách tuyệt đối tuy nhiên quyền này

không hề có giá trị tại quốc gia B (hay C) khác, trừ khi

các quốc gia này cùng tham gia một Điều ước quốc tế về

bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

- Thời gian:

Pháp luật có đặt ra thời hạn bảo hộ Trong thời hạn bảo

hộ quyền sở hữu trí tuệ là bất khả xâm phạm Hết thời

hạn bảo hộ này (bao gồm cả thời hạn gia hạn nếu có), tài

sản đó trở thành tài sản chung của nhân loại, có thể được

phổ biến một cách tự do mà không cần bất kỳ sự cho

phép nào của chủ sở hữu

Ví dụ: Luật Sở hữu trí tuệ 2005 của Việt Nam quy định:

Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng

dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là năm

mươi năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu

tiên; Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi

năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định

hình v.v

Phạm vi bảo hộ không bị bó hẹp trong một quốc gia

Bảo hộ quyền sở hữu tài sản hữu hình pháp luật không đặt ra thời hạn bảo hộ cho những tài sản này, tài sản hữu hình có thời hạn bảo hộ tuyệt đối

n

cứ

xác

lập.

- Quyền tác giả tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện

dưới hình thức nhất định (Khoản 1 Điều 6 Luật SHTT)

- Quyền liên quan: khi biểu diễn, ghi âm, ghi hình,

chương trình phát sóng…(Khoản 2 Điều 6 Luật SHTT)

- Quyền SH công nghiệp: Đối với tên thương mại được

-Do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hoa lợi, lợi tức quyền đối với cây trồng: khi đăng lý bảo

hộ tại cơ quan nhà nước có

Trang 3

xác lập khi sử dụng hợp pháp tên đó…(Khoản 3,4 Điều

6 Luật SHTT)

-Quyền sở hữu Quyền sở hữu chỉ đề cao quyền sử dụng,

định đoạt Vì bản chất là tài sản vô hình, chúng ta không

thể cầm nắm được tài sản nên quyền chiếm hữu ít được

đề cập tới

thẩm quyền

- Được chuyển giao, tặng cho, thừa kế

- Tạo thành phẩm mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến

- Các trường hợp chiếm hữu theo qui định của pháp luật Điều 186 BLDS

-Việc đinh đoạt tài sản hữu hình cần kèm theo với sự chiếm hữu Ví dụ: A chỉ có thể quyền sử dụng một chiếc xe nếu B là chủ sở hữu giao quyền chiếm hữu chiếc xe cho A

Đă

ng

bảo

hộ

Các quyền thuộc quyền sở hữu trí tuệ gồm quyền tác giả,

quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây

trồng Có quyền phải đăng ký bảo hộ tại cơ quan Nhà

nước có thẩm quyền mới phát sinh quyền được bảo hộ

Tuy nhiên, quyền tác giả thì phát sinh mà không cần

đăng ký (Điều 49, 86, 87, 88, 164 Luật SHTT)

Đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản là bất động sản, nếu là động sản chỉ đăng ký khi pháp luật có qui định (Điều 106 BLDS)

Địn

h

giá

TSVH gặp khó khăn trong việc xác định giá trị TSHH dễ dàng xác định giá

trị

2/ Phân tích đặc điểm tính lãnh thổ của quyền SHTT?

-Quyền SHTT Mang tính lãnh thổ

+Tính lãnh thổ :

Quyền sở hữu trí tuệ là “quyền có tính lãnh thổ”, nghĩa là chúng thường chỉ được bảo

hộ trong lãnh thổ một nước (ví dụ, nước Việt Nam) hoặc trong lãnh thổ một khu vực (ví

dụ, trong lãnh thổ các nước thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ châu Phi (OAPI)) nơi đăng ký và nhận được sự bảo hộ Chỉ được bảo hộ trong phạm vi một quốc gia, trừ trường hợp khi có tham gia Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ thì lúc đó phạm vi bảo hộ được mở rộng ra các quốc gia thành viên

Vì vậy, một công ty đã nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế, nhãn hiệu hay kiểu dáng công nghiệp hợp pháp ở thị trường nội địa và đã được cấp các quyền thì không có nghĩa

là quyền sở hữu trí tuệ đó chỉ được bảo hộ tại quốc gia đã đăng ký mà không mang lại sự

Trang 4

bảo hộ ở thị trường khác, trừ khi các quyền đó đã được đăng ký và được cấp bởi cơ quan

sở hữu trí tuệ quốc gia (hoặc khu vực) của thị trường khác có liên quan

Ví dụ: bạn đăng ký bảo hộ ở quốc gia A thì trong phạm vi quốc gia này, không ai được xâm phạm đến quyền sở hữu của bạn đối với tài sản đó

Tuy Bảo hộ một cách tuyệt đối nhưng quyền này không hề có giá trị tại quốc gia B (hay C) khác, trừ khi các quốc gia B ( hay C) này cùng tham gia một Điều ước quốc tế về bảo

hộ quyền sở hữu trí tuệ với A

-Các ngoại lệ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Thứ nhất, ở một số nước (chủ yếu là những nước có hệ thống pháp luật dựa trên

“thông luật”, như Ôxtrâylia, Ấn Độ,Vương quốc Anh và Hoa Kỳ), nhãn hiệu có thể được bảo hộ thông qua việc sử dụng Nghĩa là, khi nhãn hiệu đã được sử dụng trong lãnh thổ một nước có liên quan, nó sẽ nhận được sự bảo hộ ở một mức độ nhất định ngay cả khi chưa đăng ký Tuy nhiên, ngay ở những nước mà nhãn hiệu có thể được bảo hộ thông qua việc sử dụng thì nhìn chung tốt hơn hết bạn hãy đăng ký nhãn hiệu vì điều này sẽ mang lại sự bảo hộ mạnh hơn và làm cho việc thực thi được dễ dàng và ít phiền toái hơn một cách đáng kể

Thứ hai, đối với quyền tác giả và quyền liên quan, thì cũng không cần phải đăng ký ở nước ngoài để nhận được sự bảo hộ Đối với quyền tác giả, tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật (nhóm tác phẩm kể cả phần mềm máy tính) được bảo hộ tự động ngay khi tác phẩm được tạo ra, hoặc ở một số nước, ngay khi tác phẩm được định hình dưới dạng vật chất bất kỳ Liên quan đến việc bảo hộ ở nước ngoài, một tác phẩm được công dân hoặc cư dân của một nước là thành viên của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật hoặc thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) tạo ra sẽ được bảo hộ tự động ở tất cả các nước thành viên khác của Công ước Berne hay WTO

3/ Quyền sở hữu trí tuệ có những đối tượng nào? Cho ví dụ minh hoạ mỗi đối tượng.

Quyền sở hữu trí tuệ gồm 3 đối tượng:

+ Quyền tác giả: tác phẩm văn học, nghệ thuật, ảnh chụp, bài hát,…và quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa

VD: bài hát “Đến khi nào” Khắc Việt sáng tác

+ Quyền sở hữu công nghiệp: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý

VD: kiểu dáng lọ nước hoa Chanel No 5

+ Quyền sở hữu đối với giống cây trồng: giống cây trồng, vật liệu nhân giống

Trang 5

VD: giống mướp MELO 59 được cấp bằng bảo hộ giống cây mới 20 năm cho Công Ty

TNHH Hạt Giống Tân Lộc Phát.

4/ Trình bày những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019

Những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019 (Luật số 42/2019/QH14) là:

Thứ nhất, chỉ dẫn địa lý: liên quan chỉ dẫn địa lý, Luật số 42/2019/QH14 quy định bổ sung về căn cứ phát sinh, xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa lý theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Thứ hai, về tính mới của sáng chế:

+ Quy định về việc sáng chế không bị coi là mất tính mới một cách tổng quan thay vì bằng phương pháp liệt kê: Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được người có quyền đăng ký hoặc người có được thông tin về sáng chế một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đó bộc lộ công khai với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp tại Việt Nam trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày bộc lộ sáng chế

+ Kéo dài thời gian nộp đơn đăng ký sáng chế không bị coi là mất tính mới từ 6 tháng lên 12 tháng

Thứ ba, cách thức nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp: Luật số 42/2019/QH14 cho phép đơn nộp dưới dạng điện tử theo hệ thống nộp đơn trực tuyến, phù hợp với việc thực thi Hiệp định CPTPP

Thứ tư, hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu:

Luật số 42/2019/QH14 quy định bổ sung hành vi sử dụng nhãn hiệu của bên nhận chuyển quyền theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu cũng được coi là hành vi sử dụng nhãn hiệu của chính chủ sở hữu nhãn hiệu Bên cạnh đó, hợp đồng sử dụng nhãn hiệu không phải đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp

Thứ năm, bảo vệ chủ thể quyền SHTT:

Để bảo vệ chủ thể quyền SHTT khi có hành vi xâm phạm quyền, Luật số 42/2019/QH14 bổ sung một số nội dung: quyền yêu cầu tòa án buộc nguyên đơn thanh toán chi phí thuê luật sư hoặc các chi phí khác trong vụ kiện xâm phạm quyền SHTT Nếu bị đơn được Tòa án kết luận là không thực hiện hành vi xâm phạm quyền; quyền

Trang 6

được yêu cầu bồi thường thiệt hại do việc lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền SHTT của tổ chức, cá nhân khác

A.2 Bài tập:

Đọc, nghiên cứu Bản án số 1 “Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ” (gồm cả phần tình

huống và bình luận) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và trả lời các

câu hỏi sau đây:

1/ Theo quy định của pháp luật SHTT, đối tượng quyền SHTT bao gồm những gì? Nêu cơ sở pháp lý

Hiện nay những đối tượng nào được xem là đối tượng của quyền Sở hữu trí tuệ đã được ghi nhận trong Luật Sở hữu trí tuệ:

“Điều 3 Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

1 Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.

2 Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết

kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

3 Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.” Dựa trên quy định của pháp luật SHTT hiện hành thì hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất

lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu có phải là đối tượng quyền SHTT hay không? Vì sao?

Đầu tiên chúng ta cần hiểu Hồ sơ công bố sản phẩm là gì? Hồ sơ công bố sản phẩm

được hiểu là hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, là các tài liệu chứng minh cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền rằng đối tượng hàng hóa, sản phẩm của chủ thể kinh doanh đó đạt được các yêu cầu nhất định trước khi được đưa vào lưu thông trên thị trường Đây là điều kiện cần để doanh nghiệp đó thực hiện việc sản xuất kinh doanh

Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí

mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý Xét bản chất của hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm thấy rằng các đối tượng sau sẽ bị loại trừ: kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn,

nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý Chỉ còn bí mật kinh doanh và sáng chế có

thể có mối liên quan với hồ sơ công bố sản phẩm.

Trang 7

Hồ sơ công bố sản phẩm có thể có mối liên hệ với bí mật kinh doanh Bí mật kinh doanh là những thông tin từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được công bố và có

khả năng đem lại lợi thế cho chủ thể có được thông tin đó Bí mật kinh doanh mặc dù là thông tin nhưng những thông tin này không phải là những hiểu biết thông thường, chỉ có một số ít người biết và áp dụng các biện pháp bảo mật kỹ lưỡng

Điều kiện bảo hộ đối với bí mật kinh doanh: Bí mật kinh doanh được bảo hộ khki đáp ứng đủ điều kiện được qui định tại Điều 84 Luật SHTT:

Điều 84 Điều kiện chung đối với bí mật kinh doanh được bảo hộ

Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1 Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;

2 Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;

3 Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không

bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.

Từ đó ta thấy thì Hồ sơ công bố sản phẩm không được xem là bí mật kinh doanh Và do

đó không được xem là đối tượng SHTT dưới góc độ này

Còn đối với sáng chế, thì sáng chế là giải pháp kỹ thuận dưới dạng sản phẩm hoặc quy

trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên Sáng chế có thể được thể hiện dưới dạng quy trình (quy trình sản xuất, quy trình điều chế) Tuy nhiên, Hồ sơ công bố sản phẩm là hồ sơ công bố chất lượng được làm theo mẫu của Bộ Y tế, nếu có một quy trình sản xuất hoặc quy trình điều chế thì việc mô tả và công

bố đối tượng có thể dẫn đến việc đối tượng đó bị mất đi tính mới.1

Điều 60 Luật SHTT qui định tính mới của sáng chế Theo đó, sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa được bộc lộ công khai dưới hình thức như sử dụng, mô tả bằng văn

bản hoăcj các hình thức thể hiện khác Một đối tượng muốn được bảo hộ dưới dạng sáng chế phải đáp ứng các điều kiện về tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp Hồ sơ công bố sản phẩm có thể mô tả quy trình sản xuất chế biến sản phẩm đó,

nhưng như đã đề cập ở trên, nếu thể hiện ở dưới dạng mô tả ở hồ sơ thì không đáp ứng được tính mới và do đó không được bảo hộ.

Hơn nữa, Hồ sơ công bố sản phẩm chứa các thông số, số liệu về kỹ thuật đáp ứng các điều kiện cho việc sản xuất sản phẩm Vậy khi gửi hồ sơ công bố sản phẩm được nộp cho Cục SHTT, thì trong quá trình thẩm định hình thức, nếu tài liệu chỉ mô tả các chỉ số kỹ thuật thì thẩm định viên sẽ ra thông báo từ chối nhận đơn hợp lệ Từ những vấn đề trên ta thấy Hồ sơ công bố sản phẩm được xem là đối tượng quyền sở hữu công nghiệp là rất thấp

(Tái bản lần thứ nhất, có sửa đổi , bổ sung), NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam.

Trang 8

2/ Theo Tòa án xác định, các hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an

toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu mà nguyên đơn đang tranh chấp có phải là đối tượng quyền SHTT hay không? Vì sao Tòa án lại xác định như vậy?

Theo Tòa án xác định, các hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu mà nguyên đơn đang tranh chấp không phải là đối tượng quyền SHTT

Tòa án xác định như vậy là vì những lý do sau:

Thứ nhất, về thời gian xảy ra vụ việc và luật áp dụng: các hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm đang được đề cập được thực hiện trong khoảng thời gian từ 2002-2004 và sử dụng nó đến 2009; vì thế tòa xác định những quy định về SHTT quy định trong Bộ luật Dân sự 1995 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được áp dụng giải quyết

Thứ hai, quy định trong Bộ luật Dân sự và Luật sở hữu trí tuệ không xác định các hồ

sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm là đối tượng SHTT được bảo hộ Cơ sở pháp lý thể hiện ở các Điều 747, 781, 788 Bộ luật Dân sự 1995 và Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ 2005

3/ Quan điểm của tác giả bình luận có cho rằng hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất

lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu là đối tượng của quyền tác giả hay quyền sở hữu công nghiệp không? Lập luận của tác giả như thế nào?

Tác giả không có cho rằng hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu là đối tượng của quyền tác giả hay quyền sở hữu công nghiệp Lập luận của tác giả:

Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế

bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý Xét mối liên quan giữa hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm thấy rằng các đối tượng sau sẽ bị loại trừ: kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý Điều này đồng nghĩa với việc bí mật kinh doanh và sáng chế có thể có mối liên quan với hồ sơ công bố sản phẩm

Hồ sơ công bố sản phẩm có thể có mối liên hệ với bí mật kinh doanh Bí mật kinh doanh là những thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ

và có khả năng sử dụng trong kinh doanh Bí mật kinh doanh mặc dù là thông tin nhưng

Trang 9

những thông tin này không phải là những hiểu biết thông thường và chỉ có một số ít người biết về những thông tin này

Điều kiện bảo hộ đối với bí mật kinh doanh: Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng

các điều kiện quy định tại Điều 84 Luật SHTT: “Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1 Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;

2 Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;

3 Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không

bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được”.

Từ quy định của Điều 84 Luật SHTT, có thể thấy rằng một đối tượng muốn được bảo hộ

là bí mật kinh doanh phải tồn tại trong tình trạng bí mật Tuy nhiên điều này hoàn toàn đi ngược lại với Hồ sơ công bố sản phẩm Chính vì điều này mà Hồ sơ công bố sản phẩm không được xem là bí mật kinh doanh Và do đó, không là đối tượng SHTT dưới góc độ này

Sáng chế là giải pháp kỹ thuận dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên Sáng chế có thể được thể hiện dưới dạng quy trình (quy trình sản xuất, quy trình điều chế) Tuy nhiên, Hồ sơ công bố sản phẩm là hồ sơ công bố chất lượng được làm theo mẫu của Bộ Y tế, nếu có một quy trình sản xuất hoặc quy trình điều chế thì việc mô tả và công bố đối tượng có thể dẫn đến việc đối tượng đó bị mất đi tính mới

Tính mới của sáng chế được quy định tại Điều 60 Luật SHTT Theo đó, sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa được bộc lộ công khai dưới hình thức như sử dụng, mô tả bằng văn bản hoăcj các hình thức thể hiện khác Một đối tượng muốn được bảo hộ dưới dạng sáng chế phải đáp ứng các điều kiện về tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp Hồ sơ công bố sản phẩm có thể mô tả quy trình sản xuất chế biến sản phẩm

đó, nhưng như đã đề cập ở trên, nếu thể hiện ở dưới dạng mô tả ở hồ sơ thì không đáp ứng được tính mới và do đó không được bảo hộ

Ngoài ra, bản thân Hồ sơ công bố sản phẩm mang các thông số, số liệu về kỹ thuật đáp ứng các điều kiện cho việc sản xuất sản phẩm Do đó, giả sử hồ sơ công bố sản phẩm được nộp cho Cục SHTT, thì trong quá trình thẩm định hình thức, nếu tài liệu chỉ mô tả các chỉ số kỹ thuật thì thẩm định viên sẽ ra thông báo từ chối nhận đơn hợp lệ

Trang 10

4/ Theo quan điểm của bạn, hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn

thực phẩm đối với 7 loại rượu đang tranh chấp trong tình huống nêu trên có là đối tượng của quyền SHTT hay không? Giải thích vì sao

Cở sở pháp lí qui định đối tượng quyền sở hữu trí tuệ trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005,sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019:

“Điều 3 Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

1 Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.

2 Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết

kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

3 Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.”

Hồ sơ công bố sản phẩm là hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, để chứng minh cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền rằng đối tượng hàng hóa, sản phẩm của chủ thể kinh doanh đó đạt được các yêu cầu nhất định trước khi được đưa vào lưu thông trên thị trường

Xét bản chất của hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm ta thấy rằng nó không có mối liên quan đến kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lí mà chỉ có thể liên quan đến sáng chế và bí

mật kinh doanh.

Nhưng bí mật kinh doanh theo qui định tại:

Điều 84 Điều kiện chung đối với bí mật kinh doanh được bảo hộ

Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1 Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;

2 Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;

3 Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không

bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.

Thì một đối tượng để được bảo hộ là bí mật kinh doanh thì phải tồn tại trong tình trạng bí mật Tuy nhiên, điều này đã hoàn toàn đi ngược lại với Hồ sơ công bố sản phẩm Chính

vì điều này mà Hồ sơ công bố sản phẩm không được xem là bí mật kinh doanh

Còn đối với sáng chế, thì sáng chế là giải pháp kỹ thuận dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên Sáng chế có thể được thể hiện dưới dạng quy trình (quy trình sản xuất, quy trình điều

Ngày đăng: 23/09/2022, 09:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w