Với tư cách là chuyên gia tư vấn pháp lý của văn phòng tư vấn Đức Minh nhận vụ việc này để tư vấn cho ông H, Anh Chị hãy: 1 Xác định những vấn đề pháp lý mấu chốt cần phải làm rõ khi tư
Trang 1KHOA LUẬT
CHUYÊN ĐỀ 2
KỸ NĂNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRONG
LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
Họ và tên: ĐỖ NHƯ NGỌC
Ngày sinh: 22/04/1995
Mã sinh viên: 14A51010062
Lớp: LKT 14 – 01
Khoa: Luật – Trường Đại học Mở Hà Nội
Hà Nội, tháng 03 năm 2022
Trang 2Mục Lục
ĐỀ BÀI 2 1 BÀI LÀM 1
I Xác định những vấn đề pháp lý khi giải quyết quyền lợi cho gia đình ông H khi nhà nước thu hồi đất 1
II Giả sử việc thu hồi đất là hợp pháp thì gia đình ông H được bù đắp các quyền lợi sau: 3 III Nghĩa vụ của ông H phải thực hiện khi nhà nước thu hồi và giải phóng mặt bằng 5
Trang 3Hãy phân tích mục đích và vai trò của nhóm kỹ năng thu thập thông tin, tài liệu trong tư vấn pháp luật đất đai Cho ví dụ để minh chứng cho những phân tích và luận giải đó.
BÀI LÀM
Khái niệm tư vấn pháp luật: Tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm giúp công dân, tổ chức trong nước và quốc tế thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ Tư vấn pháp luật là một trong các hình thức trợ giúp pháp lý
Vai trò chung của việc tư vấn pháp luật trong lĩnh vực đất đai là: tư vấn pháp luật giúp cho người được tư vấn dự liệu được những vấn đề pháp lý xảy ra và có được những cách xử lý đúng nhất theo quy định của pháp luật, tránh vi phạm pháp luật; Tư vấn pháp luật giúp cho người được
tư vấn hiểu được đúng bản chất về quyền và nghĩa vụ thực tế của mình; tránh sự mất niềm tin vào
cơ quan nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật; TVPL giúp cho các bên trong quan hệ đất đai
có được cách xử lý đúng nhất theo quy định của pháp luật; Giúp cơ quan nhà nước thấy được những khiếm khuyết của mình trong lĩnh vực hoạt động, rút ra bài học để không ngừng nâng cao cách thức tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước Đưa ra những kiến nghị, đề xuất kịp thời
để hoàn chỉnh, bổ sung hệ thống pháp luật trên cơ sở thông qua hoạt động tư vấn pháp luật đồng thời nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu và thực trạng vi phạm pháp luật, cũng như thực trạng áp dụng pháp luật trong địa phương hay toàn quốc
Kỹ năng thu thập thông tin, tài liệu từ khách hàng trong tư vấn pháp luật được coi là kỹ năng tương tác thông tin, được thực hiện bằng sự biểu hiện các hành vi: hành vi đặt câu hỏi và hành vi lắng nghe
“Đặt câu hỏi” là việc đưa ra các thông điệp nhất định tác động đến người khác để họ cung cấp những thông tin cần thiết Người tư vấn có thê đặt ra các câu hỏi để lấy thông tin từ người đến nhờ tư vấn (ông A) Trước khi đặt câu hỏi, người tư vấn phải xác định được đầy đủ các nội dung cần hỏi, điều này người tư vấn hình dung được cần phải đặt các câu hỏi về vấn đề nào, trình tự tìm hiểu về các vấn đề đó, có thể bắt đầu bằng các câu hỏi như: Ông có thể nêu tóm tắt nội dung của vụ việc mà ông cần tư vấn? những yêu cầu mà ông đặt ra? Rồi sau đó hỏi một số chi tiết cụ thể như: ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào thời gian nào, việc sử dụng mảnh
Trang 4đất nông nghiệp của gia đình ông như thế nào?
Lắng nghe trong tư vấn pháp luật của người tư vấn là hành vi tiếp nhận và hiểu thông tin một cách có chủ ý, có mục đích Thông qua lắng nghe sẽ giúp cho người tư vấn xác định được thông tin nào quan trọng, thông tin nào hỗ trợ và sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định Người tư vấn phải chú ý lắng nghe nội dung vụ việc mà ông A trình bày, những tình tiết liên quan đến vụ việc Nếu khi nge ông A trình bày, có vấn đề gì chưa rõ thì hỏi lại ông A cho rõ Khi lắng nge ông A trình bày về vụ việc thì người tư vấn cần phải có sự tập trung chú ý lắng nghe, thể hiện thái độ thân thiện Khi nghe, người tư vấn phải tập trung, chỉ thực hiện việc nghe trong giao tiếp mà không cho phép mình nghĩ hay làm việc khác (thể hiện sự tôn trọng và chân thành), giúp người tư vấn tiếp nhận đầy đủ thông tin, không bị chi phối và hạn chế bởi những tác động ngoại cảnh, thể hiện thái độ nghiêm túc, tính chuyên nghiệp khi tiếp xúc và trao đổi với khách hàng Vừa nghe vừa phân tích các nội dung, thông tin đã tiếp nhận, đưa ra những nhận định, đánh giá, và xác lập các mối liên hệ của thông tin được nhận với các sáng kiến và các vấn đề pháp lý đặt ra Từ đó định hướng các câu hỏi để làm rõ các nội dung phục vụ cho việc tư vấn Trong quan hệ giao tiếp, khi nghe, người tư vấn cần giữ liên hệ với người nói với người nghe bằng ánh mắt; thể hiện sự qtam và khích lệ người nghe truyền đạt thông tin Việc nghe phải kết hợp với quan sát bằng mắt
về thái độ và hành vi của người nói, và cho phép nhà tư vấn kiểm soát, đánh giá các thông tin của người nói Trong khi nghe, người tư vấn cần kết hợp ghi nhận những thông tin với những hình thức nhất định Cần chủ động khi nghe, nghe kết hợp với hỏi khi chưa hiểu rõ thông tin, chưa hiểu đúng về nội dung người nói muốn truyền đạt (chỉ đặt những câu hỏi ngắt lời người nói khi thật sự cần thiết) Chú ý: tuyệt đối không chen nói với người đang nói Tránh phán đoán trước về điều người nói nói Phân tích cảm xúc của người nói: cách người đó nói như thế nào, nét mặt, điệu bộ, cử chỉ… Làm cho người nghe cảm thấy đước chia sẻ Hiểu họ muốn gì, và thất sự chân thành khi nghe Nghe có chọn lọc
Khi thu thập được đầy đủ thông tin tài liệu, người tư vấn có thể xác định được các thông tin tài liệu, chứng cứ mà khách hàng cung cấp có xác thực và hợp pháp không? Ví dụ đối chiếu quyết định thu hồi đất với thẩm quyền thu hồi đất được quy định trong văn bản luật, đối tượng bị thu hồi, quy định của pháp luật về mức bồi thường…
Xác định được các nội dung yêu cầu của khách hàng Khi đó sẽ xác định được các văn bản pháp lý cần tra cứu, cần tư vấn: Đối tượng mà người cần tư vấn nên khởi kiện hay nên khiếu nại
về quyết định hành chính hay hành vi hành chính? Xác định tính hợp pháp của đối tượng? Xác định các văn bản pháp luật liên quan và yêu cầu của khiếu nại hay khởi kiện có lợi ích như thế
Trang 5Dẫn, trích dẫn rõ các điều luật có liên quan nằm trong văn bản nào không được viện dẫn những văn bản đã hết hiệu lực, nếu khách hàng yêu cầu có thể cung cấp cho họ Khi trình bày, có thể chỉ rõ cho khách hàng thấy được sự mâu thuẫn, các tình tiết bất hợp pháp (nếu có) của quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường và đưa ra các chứng cứ chứng minh
Ví dụ đơn giản như bài tập dưới đây, nêu không thu thập được đầy đủ các thông tin tài liệu sẽ không xác định được việc thu hồi đất có đúng thẩm quyền, đúng thủ tục hay không Khi đó việc
tư vấn trở lên rộng hơn do có nhiều giả định, sẽ khó cho người được tư vấn Trường hợp có đầy
đủ thông tin tài liệu, người tư vấn có thể tư vấn cho khách hàng được đúng hướng và đúng nhu cầu của khách hàng nhất có thể Cùng phân tích bài tập để làm rõ kỹ năng này
B Bài tập
Gia đình ông H có diện tích đất 250 m2 bao gồm cả đất ở và đất trồng rau, đào ao thả cá Đất này gia đình ông H sử dụng từ năm 1989 do ông cha để lại Vợ chồng ông H và các con sinh sống từ đó đến nay Hàng năm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế nhà đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tháng 10 năm 2018, gia đình ông H nhận được thông báo của UBND cấp huyện là đầu năm 2019 Nhà nước sẽ thu hồi đất nhà ông để mở rộng đường giao thông Theo thông tin ông được biết, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nơi ông đang ở được quy hoạch là đất ở nên việc Nhà nước thu hồi đất để làm đường giao thông là trái pháp luật nên ông sẽ không trả lại đất cho Nhà nước Ông H băn khoăn không biết phải làm gì để giữ đất của mình nên tìm đến Văn Phòng tư vấn luật Đức Minh
Với tư cách là chuyên gia tư vấn pháp lý của văn phòng tư vấn Đức Minh nhận vụ việc này để tư vấn cho ông H, Anh (Chị) hãy:
1) Xác định những vấn đề pháp lý mấu chốt cần phải làm rõ khi tư vấn về những yêu cầu,
đề nghị nêu trên của gia đình ông H
2) Trong trường hợp không giữ được đất vì Nhà nước cương quyết thu hồi thì cho ông H biết gia đình ông sẽ được nhà nước quyền lợi như nào>
BÀI LÀM
I Xác định những vấn đề pháp lý khi giải quyết cần làm rõ khi tư vấn về những yêu cầu đề nghị nêu trên của gia đình ông H
Trước tiên cần xác định việc UBND huyện thu hồi đất 250 m2 đất của gia đình Ông H là nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, cụ thể là dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương về việc mở rộng đường giao thông và được HĐND tỉnh
chấp thuận, đáp ứng căn cứ thu hồi đất quy định tại Điều 63 Luật Đất đai năm 2013.
“Điều 63 Căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Trang 6Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau đây:
1 Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật này;
2 Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
3 Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án.”
Những vấn đề mấu chốt:
Thứ nhất: Ông H có đủ điều kiện để được bồi thường khi nhà nước thu hồi đất hay
không?
Căn cứ khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai năm 2013, điều kiện để được bồi thường về đất
đai khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng gồm:
Một là, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hằng
năm
Hai là, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Giấy chứng nhận)
Ba là, có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai mà chưa được cấp
Theo như thông tin mà Ông H cung cấp thì mảnh đất 250 m2 là do cha ông để lại, gia đình ông đã sử dụng từ năm 1989 và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đối chiếu với quy định trên, có thể thấy điểm mấu chốt để xác định Ông H được bồi thường về đất khi UBND huyện thu hồi đất là Ông H có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận hay không Câu hỏi đặt ra là: việc Ông H chưa được cấp Giấy chứng nhận là do Ông H không đủ điều kiện để được cấp hay đã đủ điều kiện nhưng ông chưa nộp đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận hoặc đã yêu cầu nhưng chưa được cấp?:
Trường hợp một: Ông H được Nhà nước bồi thường khi bị thu hồi đất và có quyền khiếu
nại nếu không đồng ý với phương án bồi thường nếu Ông H đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận mặc dù chưa đi đăng ký Nhận thấy gia đình Ông H sử dụng đất ổn định từ năm 1989, nếu
có một trong các loại giấy tờ quy định tại điều 100 Luật đất đai năm 2013 và điều 18 Nghị định
số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai như: giấy tờ hợp pháp
về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước năm 1992…thì sẽ được cấp Giấy chứng nhận Trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, đã sử dụng đất
ổn định trước ngày 1/7/2004 không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được UBND xã xác nhận
Trang 7thể thấy, trong trường hợp của Ông H khả năng được cấp giấy chứng nhận là cao.
Trường hợp hai: Nếu Ông H chưa được cấp Giấy chứng nhận là do Ông H không đủ điều
kiện được cấp: không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 hoặc trong quá trình sử dụng có vi phạm pháp luật đất đai, bị UBND xã xác nhận là đất có tranh chấp… thì Ông H sẽ không được bồi thường Trường hợp này đã được quy định rõ tại Điều 82 Luật Đất đai năm 2013
theo đó “trường hợp không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này.” thì Nhà nước thu hồi đất
không được bồi thường về đất
Tuy nhiên cũng có ngoại lệ, trong trường hợp đất mà Ông H bị thu hồi là đất nông nghiệp
đã sử dụng trước ngày 01/7/2004 mà Ông H là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, thì mặc dù không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận theo quy định của Luật đất đai vẫn được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích đất được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại điều 129 của Luật Đất đai năm 2013 (khoản 2 điều 77 Luật Đất đai năm 2013)
Vì Ông H chưa cung cấp cụ thể thông tin chỉ nói đến 250 m2 đất ở và đất trồng rau, đào ao thả cá nên chưa thể xác định được 250 m2 đất mà hiện ông đang sử dụng là đất nông nghiệp, đất ở hay đất phi nông nghiệp không phải đất ở nhưng lại sử dụng vào mục đích nông nghiệp (trồng rau, thả cá) Nếu xác định diện tích 250 m2 là đất nông nghiệp mà có một phần ông sử dụng làm đất ở thì được bồi thường mặc dù không có giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Ngược lại, nếu không phải là đất nông nghiệp thì Ông H sẽ không được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất Trong trường hợp này Ông H không nên làm đơn khiếu nại đối với phương án bồi thường mà UBND huyện đã gửi
Thứ hai, xác định trình tự, thủ tục, thẩm quyền của quyết định thu hồi đất làm đường giao thông có hợp pháp hay bất hợp pháp?
Trường hợp này, chưa có căn cứ xác định cụ thể, hiện tại ông H có nói “theo thông tin được biết, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nơi ông đang ở được duy hoạch là đất ở nên việc Nhà nước thu hồi để làm đường giao thông là trái pháp luật Nhưng chưa cung cấp các quyết định, kế hoạch thu hồi để xác định được các điều kiện để khiếu nại về mặt thủ tục, ông cần bổ sung để được hỗ trợ làm rõ
Theo thông tin đề bài, UBND cấp huyện thu hồi đất phù hợp với quy định tại Điều 66 Luật đất
đai năm 2013 về thẩm quyền thu hồi đất:
“Điều 66 Thẩm quyền thu hồi đất
1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
Trang 8a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.
2 Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;
b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
3 Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.”
Tuy nhiên trong trường hợp, vi phạm Điều 62, chưa được phê duyệt, hoặc sai về trình tự thủ tục, thẩm quyền Ông H có quyền khiếu nại, yêu cầu sửa đổi, bổ sung hoặc hủy các quyết định tương ứng để đảm bảo tính hợp pháp
Căn cứ các điều trên, ông H cần cung cấp thêm các tài liệu, căn cứ để xác định Về cơ bản mục đích của việc thu hồi là hợp pháp do đó việc không chấp thuận trả lại đất cho Nhà nước là khó Ông H có quyền yêu cầu các vấn đề hỗ trợ về bồi thường hoặc hỗ trợ tái định cư cho gia đình nhằm ổn định
II Quyền lợi mà gia đình ông H được hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Theo như quy định của Luật Đất đai tại điều 74, về nguyên tắc khi thu hồi đất Nhà nước phải bồi thường bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi, chỉ khi không có đất để bồi thường thì mới bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi
do UBND tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất
“Điều 74 Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
1 Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.
2 Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
3 Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.”
Có nghĩa, trường hợp này trước tiên cần tìm hiểu về quỹ đất ở địa phương để xác định ở địa phương đó có còn đất để bồi thường không, nếu 250 m2 mà gia đình Ông H sử dụng vào mục đích nông nghiệp là đất nông nghiệp thì phải bồi thường bằng đất nông nghiệp… Nếu quỹ đất tại địa phương không đáp ứng được nhu cầu bồi thường bằng đất thì bồi thường bằng tiền theo giá
Trang 9thu hồi đất: giá đất bồi thường sẽ được tính trên cơ sở giá đất nông nghiệp, trồng cây hằng năm theo bảng khung giá mà UBND tỉnh ban hành nếu là đất nông nghiệp, tương tự với đất ở
Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân Quy định tại Điều 77 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 thay thế Luật đất đai số 13/2003/QH11
Nhận thấy, đất mà Ông H bị thu hồi có trồng rau xanh (xác định là cây trồng hằng năm), đào ao thả cá (xác định là vật nuôi thủy sản), do đó khi Nhà nước thu hồi diện tích đất này của Ông H mà gây ra thiệt hại đối với cây trồng hằng năm và vật nuôi là thủy sản thì Nhà nước còn phải thực hiện bồi thường cho Ông H theo quy định tại Điều 90 Luật đất đai năm 2013 Cụ thể: Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất
Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất đã đến thời kỳ thu hoạch thì không phải bồi thường; Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm; trường hợp có thể di chuyển được thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra; mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
Ngoài các khoản bồi thường về đất, khoản hỗ trợ ổn định đời sống như đã nói, Nhà nước còn phải thực hiện việc bồi thường thiệt hại đối với cây trồng vật nuôi nằm trên diện tích đất bị Nhà nước thu hồi cho Ông H nữa
Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Quy định tại Điều 79 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 thay thế Luật đất đai số 13/2003/QH11; Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP
“1 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam
mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:
a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;
b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.
2 Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có
Trang 10chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.
3 Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất.
4 Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”
Hỗ trợ tái định cư:
Khi Nhà nước thu hồi đất, người có đất ở thu hồi phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí đất ở, nhà ở tái định cư theo quy định tại Điều 86 và Điều 87 Luật Đất đai, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP và quy định này
Suất tái định cư tối thiểu đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở trên địa bàn tỉnh là 50 m2 đất đối với khu vực đô thị; 80 m2 đất đối với khu vực nông thôn Trường hợp suất tái định cư tối thiểu được tính bằng tiền, thì khoản tiền cho suất tái định cư tối thiểu tương đương với giá trị một suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở tại nơi bố trí tái định cư Diện tích đất ở tái định cư đối với các trường hợp đất ở của hộ gia đình cá nhân bị sạt lở, sụt lún theo diện tích quy hoạch đã được phê duyệt nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất
ở cao nhất tại địa phương
Như vậy, cần xác định thửa đất của ông H thuộc địa bàn nào, để có thể yêu cầu hỗ trợ tái định cư tương ứng
Thời hạn bồi thường:
Theo Điều 93 Luật Đất đai 2013, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi
Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên
số tiền chậm trả và thời gian chậm trả
Nếu người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc Nhà nước
Ngoài ra, các trường hợp bị thu hồi đất còn được hỗ trợ để ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ
về đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm và các hỗ trợ khác