1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH MÔN KỸ NĂNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT THUẾ

16 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 37,01 KB
File đính kèm Bài tập lớn kỹ năng tư vấn thuế.rar (34 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tóm tắt vụ việc: • Năm 2015: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nhờ ông Ngô Văn Lắm (em cùng mẹ khác cha) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số 7840 Tuệ Tĩnh, Lộc Thọ, Tp. Nha Trang do bà Hạnh thanh toán nhận chuyển nhượng với trị giá là 11.310.000.000 đồng. • Ngày 2862016: Bà Hạnh và ông Lắm gặp ông Trần Vũ Hải để bàn bạc và thỏa thuận việc chuyển nhượng bất động sản tại địa chi 7840 Tuệ Tĩnh, Lộc Thọ, Nha Trang. Qua đó, hai bên đã thống nhất xác lập “Giấy nhận cọc” để thực hiện việc giao kết chuyển nhượng bất động sản trên với trị giá là 16.153.500.000 đồng (hoàn thành trước ngày 1182016).

Trang 1

MỤC LỤC

1 Tóm tắt vụ việc: 1

2 Câu hỏi nhằm làm rõ vụ việc 2

3 Ý kiến pháp lý về vụ việc 5

3.1 Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản 5

3.2 Trốn thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng bất động sản 8

4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 11

4.1 Một số bất cập 11

4.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 2

BÀI THU HOẠCH MÔN KỸ NĂNG TƯ VẤN PHÁP

LUẬT THUẾ

1 Tóm tắt vụ việc:

 Năm 2015: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nhờ ông Ngô Văn Lắm (em cùng

mẹ khác cha) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số 78/40 Tuệ Tĩnh, Lộc Thọ, Tp Nha Trang do bà Hạnh thanh toán nhận chuyển nhượng với trị giá là 11.310.000.000 đồng

 Ngày 28/6/2016: Bà Hạnh và ông Lắm gặp ông Trần Vũ Hải để bàn bạc và thỏa thuận việc chuyển nhượng bất động sản tại địa chi 78/40 Tuệ Tĩnh, Lộc Thọ, Nha Trang Qua đó, hai bên đã thống nhất xác lập “Giấy nhận cọc” để thực hiện việc giao kết chuyển nhượng bất động sản trên với trị giá là 16.153.500.000 đồng (hoàn thành trước ngày 11/8/2016)

 Ngày 29/6/2016: Ông Trần Vũ Hải và bà Ngô Tuyết Phương đã thực hiện xong việc đặt cọc 500.000.000 đồng theo như giao kết

 Ngày 10/8/2016: Tại Văn phòng công chứng Hoàng Huệ - Phạm Tuấn, bà Hạnh đã yêu cầu ông Lắm thực hiện việc xác lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đó cho vợ chồng ông Hải có nội dung ghi trị giá chuyển nhượng 12.000.000.000 đồng (số công chứng 1216) Sau

đó các bên tiếp tục làm văn bản thỏa thuận (số công chứng 1217) hủy hợp đồng trị giá 12.000.000.000 đồng và tiếp tục xác lập Hợp đồng chuyển nhượng với giá 1.800.000.000 đồng (Hợp đồng này để các bên sử dụng kê khai trốn thuế thu nhập cá nhân)

Sau khi xác lập Hợp đồng (số công chứng 1218) các bên lại tiếp tục làm văn bản thỏa thuận chuyển nhượng với giá 16.153.500.000 đồng đúng như giao dịch chuyển nhượng tại “Giấy nhận cọc” vào ngày 28/6/2016

Trang 3

 Ngày 13/8/2016: ông Hải và bà Phương sử dụng bản sao của bản Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (số công chứng 1216) làm hồ sơ thế chấp cho Ngân hàng, vay 12.000.000.000 đồng để chuyển vào tài khoản của ông Lắm Toàn bộ số tiền ông Lắm nhận được từ ông Hải và

bà Phương, ông đã chuyển, giao lại bà Hạnh Số tiền còn lại, bà Hạnh khai nhận

đã nhận bằng tiền mặt

 Ngày 20/5/2019: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “trốn thuế” trong vụ mua bán nhà đất trên và kết luận điều tra cả bốn bị can vừa nêu đã “trốn thuế” hơn 280,25 triệu đồng Viện KSND tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bốn bị can trên ra trước TAND TP Nha Trang để xét xử

 Ngày 15/11/2019: TAND TP Nha Trang (Khánh Hòa) TAND TP Nha Trang (Khánh Hòa) tuyên án bốn bị cáo trong vụ án trốn thuế trong giao dịch chuyển nhượng bất động sản tại địa chỉ số 78/40 Tuệ Tĩnh, Lộc Thọ, Tp Nha Trang Vợ chồng ông Hải cho rằng bản án sơ thẩm của TAND TP Nha Trang (Khánh Hòa) đã tuyên không đúng pháp luật, gây oan sai cho họ nên đã gửi đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của TAND TP Nha Trang (Khánh Hòa) về vụ

án trốn thuế và đề nghị TAND tỉnh Khánh Hòa xem xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm

 Ngày 21/2/2020: TAND tỉnh Khánh Hòa tuyên bác các nội dung kháng cáo của vợ chồng ông Hải, giữ nguyên bản án sơ thẩm của TAND TP Nha Trang

2 Câu hỏi nhằm làm rõ vụ việc.

2.1 Cá nhân nào là người có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân trong việc chuyển nhượng bất động sản tại số 78/40 Tuệ Tĩnh?

Trả lời:

Trang 4

Theo nội dung vụ việc, năm 2015, bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã nhờ ông Ngô Văn Lắm (em cùng mẹ khác cha) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số 78/40 Tuệ Tĩnh, Lộc Thọ, Nha Trang

do bà Hạnh thanh toán nhận chuyển nhượng với trị giá là 11.310.000.000 đồng

Vì vậy, mặc dù bà Hạnh mới thật sự là chủ sở hữu của bất động sản tại địa chỉ số 78/40 Tuệ Tĩnh, nhưng trên giấy tờ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì ông Lắm mới là chủ sở hữu

Mặt khác, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 có quy định về thuế thu nhập

cá nhân với trường hợp chuyển nhượng bất động sản tại một số điều luật Trong

đó đối tượng nộp thuế và thu nhập chịu thuế lần lượt được thể hiện tại Điều 2 và Điều 3 như sau:

“Điều 2 Đối tượng nộp thuế

1 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.”

“Điều 3 Thu nhập chịu thuế

………

5 Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:

a) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;”

Như vậy, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được pháp luật quy định là thu nhập phải chịu thuế thu nhập cá nhân và đối tượng phải chịu thuế ở đây là cá nhân có thu nhập này Khi chuyển nhượng bất động sản, chủ sở hữu bất động sản đã nhận được một phần thu nhập nhất định, phần thu nhập này phải chịu thuế thu nhập cá nhân

Trang 5

Do vậy, ông Lắm là cá nhân phải nộp thuế, bởi, dù có đứng tên giúp người khác đi nữa, nhưng trước pháp luật (mối quan hệ Nhà nước và công dân) thì Nhà nước chỉ xác định người nộp thuế là người đứng tên trên giấy tờ nhà đất,

đó là người phải có trách nhiệm khai nộp thuế Còn quan hệ nhờ người khác đứng tên (quan hệ giữa các cá nhân với nhau), dù có lập chứng từ, thì đó là quan

hệ dân sự, chỉ phục vụ cho việc xác định ai sở hữu “giá trị” tài sản (số tiền) mà thôi

Do vậy, nếu người đứng tên trong sổ đỏ nợ thuế thì Nhà nước chỉ thực hiện cưỡng chế thuế đối với người đứng tên trong sổ đỏ (chứ không phải đối với người thứ ba) Từ đó, nếu tài sản đó không được khai thuế đầy đủ thì cơ quan nhà nước sẽ xử lý hình sự người đứng tên trong sổ - vì họ mới là người được nhà nước ghi nhận là chủ sở hữu hợp pháp

2.2 Việc chuyển nhượng bất động sản tại địa chỉ số 78/40 Tuệ Tĩnh, Lộc Thọ,

Tp Nha Trang có phải là chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam và thuộc trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân không?

Trả lời:

Nếu trong vụ việc này, bà Hạnh là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số 78/40 Tuệ Tĩnh, Lộc Thọ, Tp Nha Trang thì người chuyển nhượng (là bà Hạnh) sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 3 Thông tư 111/2013/ TT-BTC bởi, bà Hạnh khai tại thời điểm giao dịch chuyển nhượng nhà đất bà chỉ có duy nhất ngôi nhà này

Tuy nhiên, như đã làm rõ ở trên, người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số 78/40 Tuệ Tĩnh, Lộc Thọ, Tp Nha Trang và là người phải nộp thuế lại là ông Lắm Hơn nữa, do ông

Trang 6

không thuộc một trong các trường hợp tại điểm b Điều 3, Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định một số trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng bất động sản nên việc chuyển nhượng bất động sản tại địa chỉ số 78/40 Tuệ Tĩnh, Lộc Thọ, Tp Nha Trang không phải là chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam và không thuộc trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân

2.3 Ông Trần Vũ Hải và bà Ngô Tuyết Phương có hành vi gian dối nào trong

vụ việc này? Hành vi đó có vi phạm pháp luật không?

Trả lời:

Theo như nội dung vụ việc thì giá mua bán thật là hơn 16 tỉ đồng nhưng các bên làm đến hai hợp đồng công chứng đều ghi sai giá giao dịch thực tế Một bản ghi giá 1,8 tỉ đồng để bên chuyển nhượng được đóng ít thuế Một bản đầu (đã bị hủy) ghi giá 12 tỉ đồng được vợ chồng ông dùng bản sao để thế chấp ngân hàng nhận 12 tỉ đồng để thanh toán đúng thời hạn cho bên chuyển nhượng

Việc gian dối giá ghi trên hợp đồng công chứng không được những nhà làm luật đưa vào chín hành vi trốn thuế, gian dối thuế theo quy định của Luật Quản

lý thuế để các cơ quan pháp luật có thể dựa theo đó xử tội trốn thuế Tuy nhiên, đây có thể là một dấu hiệu cho hành vi giúp cho người khác trốn thuế được quy định tại Bộ luật Hình sự và sẽ được phân tích cụ thể tại phần 3 của bài thu hoạch

3 Ý kiến pháp lý về vụ việc.

3.1 Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản.

* Căn cứ pháp lý:

Trang 7

- Văn bản hợp nhất 15/VBHN-VPQH 2014 hợp nhất Luật thuế thu nhập cá

nhân do Văn phòng Quốc hội ban hành ngày 11/12/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015

- Nghị định 12/ 2015/ NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật sửa đổi, bổ

sung một số điều của các luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về thuế Nghị định này có hiệu lực thi hành từ 1/1/2015 (theo hiệu lực của Luật số 71/ 2014/ QH13)

- Thông tư 92/2015/TT-BTC hướng dẫn thực hiện thuế giá trị gia tăng và

thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh; hướng dẫn thực hiện một số nội dung sửa đổi, bổ sung về thuế thu nhập cá nhân quy định tại luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13

và Nghị định số 12/2015/NĐ - CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế Thông tư này có hiệu lực thi hành

từ ngày 30/7/2015

* Quy định của pháp luật:

Thứ nhất, đối tượng nộp thuế:

Như đã phân tích ở phần 2, theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành thì thu nhập của cá nhân từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải chịu thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật Đối tượng nộp thuế là cá nhân có thu nhập phát sinh từ họat động chuyển nhượng bất động sản Trong vụ việc này, mặc dù bà Hạnh mới là chủ sở hữu “đằng sau” bất động sản tại địa chỉ số 78/40 Tuệ Tĩnh, nhưng ông Lắm mới là đối tượng nộp thuế

Thứ hai, căn cứ tính thuế:

Theo quy định hiện hành của Luật thuế thu nhập cá nhân, thu nhập chịu thuế

từ chuyển nhượng bất động sản được sửa đổi, chỉ thinh theo một cách duy nhất:

“Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định là giá trị

Trang 8

chuyển nhượng từng lần” với thuế suất 2% Theo đó, Trong giao dịch chuyển

nhượng bất động sản, người chuyển nhượng phải nộp thuế thu nhập cá nhân là 2% tính trên giá trị chuyển nhượng ghi trên hợp đồng công chứng Trường hợp giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì sẽ nộp thuế theo giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng Phía người nhận chuyển nhượng thì đóng lệ phí trước bạ nhà, đất là 0,5% tính trên bảng giá đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành tại thời điểm nộp lệ phí trước bạ

* Ý kiến pháp lý:

Thực tế trên thị trường bất động sản, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất

do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định Nhưng vì lợi ích của cả bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng, nên họ thường thỏa thuân ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế Và để được cơ quan Nhà nước chấp nhận

hồ sơ, họ chỉ ghi trên hợp đồng mức giá ngang bằng hoặc cao hơn một chút so với giá Ủy ban nhân dân quy định Như thế sẽ được nộp thuế thấp hơn số thực tế phải nộp Kết quả là cả đôi bên mua bán cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịu thất thu thuế

Chiếu theo nội dung vụ việc, ta có thể nhận thấy, giá trị chuyển nhượng thật

sự của bất động sản tại địa chỉ số 78/40 Tuệ Tĩnh, Lộc Thọ, Tp.Nha Trang mà hai bên giao dịch là 16.153.500.000 đồng theo như ghi nhận tại “Giấy nhận cọc” vào ngày 28/6/2016 Tuy nhiên, vào thời điểm tính thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản tại 78/40 Tuệ Tĩnh, Chi cục Thuế TP Nha Trang căn cứ vào thông tin do Văn phòng đăng ký đất đai Nha Trang chuyển sang gồm hợp đồng công chứng có giá trị là 1,8 tỉ đồng, tờ khai nộp thuế của ông Lắm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Lắm Chi cục thuế không biết

có giá trị chuyển nhượng nào khác ngoài con số 1,8 tỉ đồng nêu trên Mặt khác,

do giá bán bất động sản trên thấp hơn bảng giá của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa, nên theo quy định pháp luật, cơ quan thuế áp giá của Ủy ban nhân dân tỉnh

Trang 9

Khánh Hòa để xác định giá trị bất động sản này gần 2,2 tỉ đồng Qua đó, chi cục thuế đã thu của ông Lắm trên 42 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân Việc này đã giúp cho bên chuyển nhượng là bà Hạnh (ông Lắm chỉ ký vào các giấy tờ liên quan theo yêu cầu của bà) nộp thuế ít đi hơn 280 triệu đồng

3.2 Trốn thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng bất động sản.

* Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (là Bộ luật hiện hành tại thời điểm xảy ra vụ án)

- Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017

- Luật Quản lý thuế năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2014 (Luật hiện hành tại thời điểm xảy ra vụ án)

* Quy định của pháp luật:

Tội trốn thuế là hành vi khai báo gian dối trong sản xuất, kinh doanh để không phải đóng thuế hoặc đóng mức thuế thấp hơn nhiều so với mức phải đóng, tội trốn thuế đã được sửa đổi về số tiền trốn thuế trong Bộ luật hình sự

1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, với hình phạt nghiêm khắc nhất là bảy năm tù

và phạt tiền gấp ba lần số tiền trốn thuế Cụ thể:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 161 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ

sung năm 2009): “Tội trốn thuế áp dụng đối với người nào trốn thuế với số tiền

từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng, hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã

bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế, hoặc đã bị kết án về tội này…, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Mức phạt của tội này là phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm.”

Mở rộng thêm: Tội trốn thuế được quy định tại điều 200 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) với nội dung: Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000

Trang 10

đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều … của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm Như vậy, có thể thấy, hình phạt của luật hiện hành đã quy định cụ thể, rõ ràng hơn và có tính răn đe hơn đối với các hành vi trốn thuế

Theo đó, dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế bao gồm:

- Khách thể của tội phạm: tội trốn thuế xâm phạm chính sách thuế của Nhà nước trong tất cả các lĩnh vực, làm thất thu ngân sách Nhà nước

- Mặt khách quan của tội phạm: Người phạm tội có hành vi trốn thuế

Hành vi khách quan của tội trốn thuế là hành vi không thực hiện đúng nghĩa

vụ bắt buộc mà pháp luật quy định về việc đóng thuế Thông thường, người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để không phải nộp tiền thuế hoặc để nộp tiền thuế ít hơn mức thuế phải nộp bằng cách thực hiện các hành vi theo quy định của Điều 108 Luật Quản lý thuế 2006 (đã được sửa đổi bổ sung): Đó là không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; hay không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán Đó còn là sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn

- Chủ thể của tội phạm: Người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định

- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý

Ngoài ra, trong vụ án trên, ta còn phải xét đến quy định về đồng phạm tại Điều 20 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

Ngày đăng: 08/11/2022, 14:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w