+Rủi ro trong mua và bán hàng hóa như: thuế quan, vận chuyển, bảo hiểm, chu kỳ cung cầu, chính sách vĩ mô khác…+Rủi ro trong chuyển dịch tài chính như: rủi ro khi chính sách của chính qu
Trang 1KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
Th.S Phạm Thị Thu Hương
1 Định nghĩa
Công ty đa quốc gia ,thường viết tắt là MNC (Multinational corporation) hoặc MNE (Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia Các công ty
đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa Một số người cho rằng một dạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với toàn cầu hóa – đó là xí nghiệp liên hợp toàn cầu.
Công ty đa quốc gia là Công ty hoạt động và có trụ sở ở nhiều nước khác nhau (khác với Công ty quốc tế: chỉ là tên gọi chung của 1 công ty nước ngoài tại 1 quốc gia nào đó.)
2 Mục đích phát triển thành công ty đa quốc gia
-Đó là nhu cầu quốc tế hóa ngành sản xuất và thị trường nhằm tránh những hạn chế thương mại, quota, thuế nhập khẩu ở các nước mua hàng, sử dụng được nguồn nguyên liệu thô, nhân công rẻ, khai thác các tìêm năng tại chỗ.
-Đó là nhu cầu sử dụng sức cạnh tranh và những lợi thế so sánh của nước sở tại, thực hiện việc chuyển giao các ngành công nghệ bậc cao.
-Tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và phân tán rủi ro Cũng như tránh những bất ổn do ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh khi sản xuất ở một quốc gia đơn nhất.
Ngoài ra, bảo vệ tính độc quyền đối với công nghệ hay bí quyết sản xuất ở một ngành không muốn chuyển giao cũng là lý do phải mở rộng địa phương để sản xuất Bên cạnh đó, tối ưu hóa chi phí và mở rộng thị trường cũng là mục đích của MNC.
Hoạt động MNC, vì được thực hiện trong một môi trường quốc tế, nên những vấn
đề như thị trường đầu vào, đầu ra, vận chuyển và phân phối, điều động vốn, thanh toán… có những rủi ro nhất định Rủi ro thường gặp của các MNC rơi vào 2 nhóm sau:
Trang 2+Rủi ro trong mua và bán hàng hóa như: thuế quan, vận chuyển, bảo hiểm, chu kỳ cung cầu, chính sách vĩ mô khác…
+Rủi ro trong chuyển dịch tài chính như: rủi ro khi chính sách của chính quyền địa phương thay đổi, các rủi ro về tỷ giá, lạm phát, chính sách quản lý ngoại hối, thuế ,khủng hoảng nợ…
3.Đặc điểm hoạt động các công ty đa quốc gia
Quyền sở hữu tập trung: các chi nhánh, công ty con, đại lý trên khắp thế giới đều thuộc quyền sở hữu tập trung của công ty mẹ, mặc dù chúng có những hoạt động
cụ thể hằng ngày không hẳn hoàn toàn giống nhau.
Thường xuyên theo đuổi những chiến lược quản trị , điều hành và kinh doanh có tính toàn cầu Tuy các công ty đa quốc gia có thể có nhiều chiến lược và kỹ thuật hoạt động đặc trưng để phù hợp với từng địa phương nơi nó có chi nhánh.
4 Tại sao công ty đa quốc gia phải kinh doanh toàn cầu
Thông thường nhiều người chorằngcác côngty tiến hành quốc tế hóa hoạt động kinh doanh của nó đều dựa trên một lý do duy nhất đó là việc tìm kiếm và khai thác lợi nhuận từ các cơ hội kinhdoanhtrên thị trườnghải ngoại.
Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều độnglực dẩn đến hoạ t động quốc tế hoá hoạ t động kinh doanh của các công ty.Các độnglực nầy cóthể được phân chia thànhhai
dạ ng: chủđộng và thụ động Trong từng dạng như vậy người ta còn phân ra thànhcác nhân tốbên trong và nhân tốbên ngoài
Một số vai trò của các công ty đa quốc gia (TNCs) - Phần 1
Các TNCs đã có những tác động to lớn đối với sự phát triển của kinh tế thế giới nói chung cũng như các nền kinh tế của các quốc gia nói riêng Những tác động đó được thể hiện qua hoạt động thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ
1 Vai trò của TNCs trong thương mại thế giới
1.1 Thúc đẩy hoạt động thương mại thế giới phát triển
Một trong những vai trò nổi bật của các TNCs là thúc đẩy hoạt động thương mại thế giới Trong qúa trình hoạt động của mình các TNCs đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia và gia công quốc tế Hay nói cách
Trang 3khác là TNCs thúc đẩy thương mại phát triển với ba dòng lưu thông hàng hoá cơ bản là: hàng hoá xuất nhập khẩu từ công ty mẹ, hàng hoá bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và hàng hoá trao đổi giữa các công ty trong cùng một tập đoàn TNCs chi phối hầu hết chu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia bởi các kênh lưu thông xuyên quốc gia của mình.
Thật vậy, nếu tổng giá trị xuất khẩu của chi nhánh nước ngoài năm 1982 là
647 tỷ USD thì đến năm 1990 là 1.366 tỷ USD, năm 2004 là 3.733 tỷ USD Và đến năm 2005, con số này đã tăng gấp 6,5 lần năm 1982 và đạt 4,214 tỷ USD [4] Hơn nữa, trong tổng giá trị xuất khẩu của các quốc gia thì giá trị xuất khẩu của các chi nhánh TNCs chiếm một tỷ trọng tương đối lớn Chẳng hạn giá trị xuất khẩu của các chi nhánh TNCs tại nước ngoài trong tổng giá trị xuất khẩu của thế giới trong các năm 2003 và năm 2004 lần lượt là 54,1% và 55,8%, cụ thể như sau:
Bảng 1: Tỷ trọng xuất khẩu của chi nhánh nước ngoài năm 2001
Quốc gia
Gía trị xuất khẩu
(Triệu USD)
Giá trị xuất khẩu của TNCs (Triệu USD)
Tỷ trọng xuất khẩu của TNCs (% )
Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2006.
Qua Bảng 1 ta thấy các TNCs chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị xuất khẩu của các quốc gia, đối với Airland là 66%, với Trung Quốc là 44% Một đặc điểm khác cần chú ý là thương mại nội bộ giữa các công ty trong tập đoàn ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thương mại thế giới Nhìn chung trao đổi nội
bộ giữa các chi nhánh TNCs chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị thương mại thế giới Giá trị trao đổi nội bộ này ngày càng tăng nhanh và cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thương mại của các nước Ví dụ, trao đổi trong nội bộ các TNCs trong ngành sản xuất thiết bị điện, điện tử của Mỹ chiếm 21,5% tổng giá trị xuất khẩu của TNCs trong ngành này năm 1983 và tăng lên 30,6% năm 1998 [3] Hoạt
Trang 4động thương mại nội bộ TNCs thường tạo điều kiện cho các chi nhánh tiếp cận với trình độ công nghệ và bí quyết kỹ thuật tiên tiến của công ty mẹ và các chi nhánh khác trong cùng hệ thống.
Trong những năm gần đây TNCs chiếm khoảng 40% giá trị nhập khẩu và 60% xuất khẩu của toàn thế giới Với các hoạt động hướng về xuất khẩu, TNCs hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị xuất khẩu của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển ở Châu Á Chẳng hạn xuất khẩu của các chi nhánh TNCs đã chiếm tới 50% tổng giá trị hàng hoá chế tạo tại một số quốc gia như Philippin, Srilanka, Malaysia [3].
1.2 Làm thay đổi cơ cấu thương mại quốc tế
Ngày nay, kinh tế thế giới càng phát triển thì vai trò của các TNCs cũng ngày càng cao Với tỷ trọng lớn trong thương mại thế giới thì các TNCs chính là chủ thể chính làm thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu đối tác trong thương mại thế giới.
* Thay đổi trong cơ cấu hàng hoá
Chiến lược phát triển của TNCs gắn liền với các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu Qua đó ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu.
Trong những năm gần đây, tỷ suất lợi nhuận trong ngành dịch vụ tăng cao còn trong ngành nông nghiệp và công nghiệp giảm dần Do đó, các công
ty nói chung và các TNCs nói riêng cũng chuyển mạnh sang đầu tư vào các ngành dịch vụ và thúc đẩy giá trị xuất khẩu của hàng hoá dịch vụ tăng cao.
Bên cạnh đó, hiện nay giao dịch trên thế giới đang thay đổi theo chiều hướng
tăng tỉ trọng hàng hoá có hàm lượng vốn hoặc kỹ thuật cao và giảm dần tỉ trọng hàng sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu Thật vậy, nếu trong tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới năm 1983, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao chỉ chiếm 24% thì đến năm 1998 con số này đã tăng lên 39,3%.
Những sản phẩm quan trọng nhất trong thương mại thế giới hiện nay chủ yếu thuộc ngành sản xuất không dựa vào nguyên liệu trong đó các sản phẩm bán dẫn
là một trong những sản phẩm mũi nhọn.
Nguyên nhân của xu hướng này xuất phát từ chiến lược tập trung phát triển các ngành có trình độ công nghệ cao của TNCs nhằm duy trì khả năng cạnh tranh cao và thu lợi nhuận tối đa Điều này được thể hiện qua tỉ trọng
hàng xuất khẩu của hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao trong nội bộ TNCs
chiếm tới 43,1% tổng gía trị hàng hoá xuất khẩu Như vậy, sự thay đổi trong
chiến lược toàn cầu của TNCs tác động trực tiếp tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước hướng về xuất khẩu
Ví dụ tại Mêhico, trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu thì phần lớn những sản phẩm thuộc ngành ô tô, điện tử do các chi nhánh của TNCs sản xuất [3].
* Thay đổi trong cơ cấu đối tác
Cùng với sự thay đổi trong cơ cấu hàng hoá thì cơ cấu đối tác trong thương
Trang 5mại thế giới hiện nay cũng đang dần thay đổi Tỷ trọng của hàng hoá xuất khẩu
của các nước đang phát triển ngày càng cao, đặc biệt là các nước mới công
nghiệp Sự thay đổi chiến lược của các TNCs và hệ thống sản xuất quốc tế của chúng mở ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi tham gia vào các hoạt động hướng về xuất khẩu Theo báo cáo của UNCTAD năm 2005, trong cơ cấu thương mại thế giới, tỷ trọng thương mại của các nước
đang phát triển chiếm 33,6% trong khi năm 1985 là 30.3% Mặc dù các nước
phát triển vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong thương mại thế giới (63.5%) song tỉ trọng thương mại của các nước đang phát triển ngày càng tăng lên Xét một
cách riêng rẽ thì bên cạnh các nền kinh tế phát triển (Mỹ, Nhật Bản, Đức) thì
chính những nền kinh tế đang phát triển (Trung Quốc, Singapore, Ấn Độ, Đài Loan…) lại chiếm thị phần xuất khẩu lớn trong thương mại thế giới [4].
2 Vai trò của TNCs đối với đầu tư quốc tế
2.1 TNCs thúc đẩy lưu thông dòng vốn đầu tư trên toàn thế giới
Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua
kênh TNCs Các TNCs hiện chi phối trên 90% Tổng FDI trên toàn thế giới.
Chỉ tính riêng TNCs của tam giác kinh tế (Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu) đã chiếm 1/3
lượng FDI toàn cầu Giá trị của lượng vốn FDI thực sự là thước đo vai trò to
lớn của các TNCs trong nền kinh tế thế giới vì FDI là công cụ quan trọng nhất của các TNCs trong việc thực hiện chiến lược toàn cầu của mình [3] Với tư cách là chủ thể của hoạt động đầu tư trên thế giới TNCs là nhân
tố đặc biệt quan trọng có ảnh hưởng mang tính quyết định tới toàn bộ hoạt động đầu tư quốc tế Vai trò điều tiết hoạt động đầu tư trên quy mô toàn cầu của
TNCs thể hiện như sau:
Vào thời kỳ suy thoái kinh tế năm 2001, hầu hết các ngành đều có tốc độ tăng trưởng chậm lại Các TNCs giảm hoạt động trên hầu hết các lĩnh vực Động thái đó ảnh hưởng trực tiếp tới dòng lưu chuyển FDI trên thế giới Tổng đầu tư vào các nước giảm 51%, từ 1492 tỉ USD xuống còn 735 tỉ USD Trong xu thế đó thì các nước phát triển lại bị ảnh hưởng nhiều nhất do hầu hết các hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A) đều diễn ra tại các nước phát triển Trong giai đoạn 1982-1994 dòng vốn FDI nước ngoài tăng lên 4 lần và đạt
con số 3,2 nghìn tỉ USD vào năm 1996 Trong thời kỳ những năm 2004-2006 nguồn vốn FDI lại tăng lên Tổng vốn FDI trên toàn cầu năm 2005 tăng 29% và đạt 916 tỉ USD Nguyên nhân chủ yếu là do các vụ M&A tăng lên cả về số lượng
và giá trị Chủ yếu là từ các TNCs của Mỹ và Tây Âu Trong thời kỳ này, giá trị của các vụ M&A tăng đến 16% (năm1996), chiếm 47% dòng vốn FDI toàn cầu Dòng vốn FDI tăng lên cả ở các nước phát triển và đang phát triển Tuy nhiên Tốc độ tăng trưởng giảm hơn so với cuối những năm 90 [3].
Hơn nữa, các TNCs làm thay đổi xu hướng đầu tư giữa các quốc
gia Khác với hai cuộc bùng nổ trước (lần 1: 1979-1981 đầu tư vào các nước
Trang 6sản xuất dầu mỏ, lần 2: 1987-1990: đầu tư giữa các nước công nghiệp phát triển) cuộc bùng nổ đầu tư lần 3 (1995-1996) có sự tham gia đáng kể của các nước đang phát triển Trong cơ cấu vốn FDI trên thế giới tỷ trọng vốn FDI vào
các nước phát triển chiểm phần lớn Tuy nhiên tỷ trọng này có xu hướng giảm
dần trong khi các nước đang phát triển lại có tỷ trọng ngày càng cao.
Bảng 2: Tỷ trọng vốn FDI tại các khu vực giai đoạn 1978 - 2005
Đơn vị: %
Khu vực
Giai đoạn 1978- 1980
1990
1988- 2000
1998- 2005
Các nước đang phát
Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2006,
Cơ cấu dòng vốn FDI đã thay đổi do có sự điều chỉnh trong chiến lược kinh doanh của các TNCs Cũng chính nhờ mở rộng chính sách tự do hoá FDI, các TNCs ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với thúc đẩy dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển.
Nếu trước đây, hầu hết nguồn vốn FDI được thực hiện bởi các TNCs của các nước phát triển thì ngày nay số lượng các TNCs của các nước đang phát triển cũng tăng lên và có ngày càng nhiều vốn FDI đến từ các nước đang phát triển Theo Hội nghị về thương mại và phát triển của Liên Hiệp Quốc
(UNCTAD), lượng FDI mới từ các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi như Nga và các nước Xô Viết cũ tăng 5% lên mức 133 tỉ USD trong
năm 2005 Ngày càng có nhiều công ty của các nước đang phát triển mở rộng
hoạt động đầu tư của mình ở các thị trường nước ngoài Nếu như năm 1990, các công ty của các nước đang phát triển sở hữu 148 tỉ USD vốn FDI thì đến năm 2005 con số này lên tới 1.400 tỉ USD Tuy nhiên, nguồn vốn này chỉ tập
trung vào một số quốc gia nhất định Trong các nước đang phát triển thì Trung Quốc là nước đầu tư ra nước ngoài nhiều nhất (chiếm tới 1/3 tổng lượng vốn nói
trên) sau đó là Singapore, Hàn Quốc, Malaysia Các TNc lớn của các nước này
là Hutchison Whampa (67 tỉ USD), Petronas(22tỉ USD), Singtel (18tỉ), Samsung (14tỉ USD) [3].
2.2 TNCs làm tăng tích luỹ vốn của nước chủ nhà
Với thế mạnh về vốn TNCs đóng vai trò là động lực thúc đẩy tích luỹ vốn của nước chủ nhà Thông qua kênh TNCs, nước chủ nhà có thể tăng cường thu hút vốn FDI đầu tư vào nước mình Vai trò này của TNCs được thể
hiện qua một số khía cạnh sau:
Thứ nhất : Bản thân các TNCs khi đến hoạt động ở các quốc gia đều
Trang 7mang đến cho nước này một số lượng vốn nào đó Hơn nữa, trong quá trình hoạt động các TNCs cũng đóng cho ngân sách của nước chủ nhà qua các khoản như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, chi phí về viễn thông, điện nước… Mặt khác, nhờ có các TNCs mà một bộ phận đáng kể
người dân có thêm thu nhập do làm việc trực tiếp trong các công ty chi nhánh nước ngoài hoặc gián tiếp thông qua việc cung cấp các dịch vụ cho các TNCs và hoặc những người lao động khác Tại các nước có thị trường chứng khoán phát triển thì các TNCs làm ăn hiệu quả chính là kênh để thu hút tiền nhãn rỗi của người dân và của các nhà đầu tư trong việc mua cổ phiếu của các công ty này.
Thứ hai : Ngoài việc vốn ban đầu để đầu tư cho các hoạt động sản xuất
kinh doanh các TNCs còn thực hiện các biện pháp huy động thêm vốn từ Công ty mẹ, từ các chi nhánh thành viên của tập đoàn, từ các đối tác, các tổ chức tài chính và tín dụng thế giới… Đây chính là hình thức thu hút đầu tư của các nước đang phát triển hiện nay.
Thứ ba : TNCs góp phần cải thiện cán cân thanh toán của các nước
thông qua việc tích luỹ ngoại hối nhờ các hoạt động xuất khẩu Như đã phân
tích ở trên Hoạt động xuất khẩu của TNCs chiếm một tỷ trọng đáng kể trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước Điều đó không chỉ thể hiện ở vai trò thúc đẩy thương mại thế giới của các TNCs mà còn đem lại một nguồn ngoại
tệ quan trọng, góp phần tạo thế cân bằng cho cán cân thanh toán của nước chủ nhà.
Tóm lại, TNCs đóng vai trò rât to lớn trong hoạt động đầu tư quốc tế.
Xét trên góc độ nền kinh tế toàn cầu thì TNCs thúc đẩy lưu thông dòng vốn FDI trên phạm vi toàn thế giới Mặt khác, ở góc độ từng quốc gia riêng thì TNCs góp phần làm tăng tích luỹ vốn cho nước chủ nhà.
3 Vai trò của TNCs đối với hoạt động phát triển và chuyển giao công nghệ
3.1 TNCs là chủ thể chính trong phát triển công nghệ thế giới
Trong chiến lược cạnh tranh, các công ty xuyên quốc gia luôn coi công nghệ là yếu tố quan trọng, giữ vị trí hàng đầu Do đo, thúc đẩy đổi mới công nghệ bằng hoạt động Nghiên cứu và phát triển (R&D) là nhiệm vụ sống còn của các công ty Đi đầu trong đổi mới công nghệ đồng nghĩa với nâng cao năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và giữ vị trí độc quyền.
Ngày nay, nhận thức của các TNCs về khoa học công nghệ đã chuyển biến.
Nếu như trước đây, các TNCs thường đầu tư lớn cho các phòng thí nghiệm,
các viện nghiên cứu để các cơ sở này tạo ra các phát minh sáng chế này Tại
các TNCs đang diễn ra quá trình quốc tế hoát hoạt động R&D một cách mạnh mẽ.
Công nghệ mới ra đời không chỉ từ các phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu, các trường đại học mà còn từ chính các cơ sở sản xuất của TNCs Thí
Trang 8dụ Motorola đã thiết lập hệ thống R&D của mình bao gồm 14 cơ quan tại 7 quốc gia, tập đoàn Bristol Myer Squibb có 12 cơ sở hoạt động R&D tại 6 quốc gia [5] Bước chuyển quan trọng trong chính sách hoạt động R&D của công ty đã có
những thay đổi căn bản Nếu trước đây các công ty đầu tư cao cho công tác
R&D tại công ty mẹ thì nay đang thực hiện chính sách phi tập trung hoá do một số lý do sau:
Thứ nhất tiềm năng về tri thức không chỉ bó hẹp trong một vài công ty
hoặc một nước nào đó Như vậy, để tiếp cận với tiềm năng này các công ty phải thiết lập thêm nhiều cơ sở hoạt động R&D mới Tại những khu vực đó, các công ty có thể làm giầu thêm nguồn tri thức bằng việc mở rộng hoạt động R&D, đồng thời tiếp thu thành quả từ các đối thủ cạnh tranh.
Thứ hai : Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu để chiếm lĩnh thị trường các
công ty buộc phải đưa sản phẩm ra thị trường càng nhanh càng tốt nên buộc các TNCs phải thực hiện R&D ở nước ngoài Ví dụ, hoạt động R&D của Mỹ
đối với các chi nhánh ở nước ngoài tăng rất nhanh Từ năm 1985 đến 1995 tăng 3-4 lần trong khi doanh số tăng 2,5 lần và lao động tăng 1,7 lần [3].
Các hoạt động R&D thường tập trung tại những khu vực dồi dào nguồn tri thức Ví dụ năm 1994 khoảng 90% các nghiên cứu do các chi nhánh TNCs của
Mỹ thực hiện ở những nước công nghiệp phát triển.Microsoft đã thành lập một phòng nghiên cứu tại Anh để thuê lao động khoa học với chi phí rẻ hơn.
Bước vào thiên niên kỷ mới, tầm quan trọng của khoa học công nghệ đối với việc phát triển kinh tế xã hội một lần nữa lại thu hút sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia và các doanh nghiệp sự thay đổi mau chóng của công
nghệ đang tạo ra nền sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn Trong năm
1985-1998 hàng hoá chế tạo có hàm lượng khoa học cao tăng 21,4%, hàng hoá có hàm lượng khoa học công nghệ trung bình tăng 14,3% Như vậy, nhờ tiếp thu
khoa học công nghệ mà giá trị gia tăng của hàng hoá xuất khẩu qua chế biến của các nước đang phát triển đạt tỷ lệ tăng trưởng cao Muốn có lợi nhuận
cao, các quốc gia đã tăng cường đầu tư cho R&D Các quốc gia như Mỹ và Nhật
Bản đầu tư cho hoạt động R&D 3% GDP, Đức và Pháp là 2,3% ; Singapore là 1,1% Mức đầu tư bình quân đầu người cho R&D cao nhất là Nhật Bản (1.200USD), Mỹ (680USD), Đức (625USD), Pháp (575USD), Singapore (262
USD) Hàn Quốc là quốc gia theo đuổi chiến lược công nghệ cao và đặt mục tiêu đến năm 2010 trở thành 1 trong 10 nước đứng đầu về khoa học công nghệ [1], [3].
Trong các ngành hưởng lợi từ các hoạt động R&D thì ngành công nghệ thông tin đứng hàng đầu Mức đầu tư cho công nghệ thông tin của Mỹ hàng năm là 8% GDP, Nhật Bản là 7%, Hàn Quốc 6% , Pháp và Đức là 4% [3].
Các TNCs không chỉ đầu tư cho hoạt động R&D bằng chính sức lực của
mình mà chúng còn nhận được sự hỗ trợ về nhiều mặt từ chính phủ của các
Trang 9nước tư bản Ví dụ chính phủ Nhật Bản giúp 6 công ty lớn là Fujisu, Hitachi,
Mitshubishi, Kinzonku, Nihondenki và Toshiba cùng nghiên cứu kỹ thuật siêu mạch Trong khuôn khổ chiến lược phát triển công nghệ, TNCs cũng thiết lập các mối liên kết với các trung tâm nghiên cứu và viện nghiên cứu.
Trung tâm TTKT – Viện NCPT Tp.HCM
NHÌN NHẬN THẾ NÀO VỀ TOÀN CẦU HÓA VĂN HÓA
ĐẶNG THỊ MINH PHƯƠNG
Tóm tắt
Xu hướng toàn cầu hoá xuất hiện vào khoảng những năm 1870 – 1913, cho đếnngày nay nó đã trở nên phổ biến và ngày càng diễn ra hết sức sôi động trên hầu hết mọimặt của đời sống xã hội Nói chung toàn cầu hóa được nhắc đến rất nhiều trong cáccuộc họp, các buổi nghị sự giữa nguyên thủ các quốc gia bên cạnh những vấn đề nổi cộmcủa thế giới hiện nay như: khủng bố, phát triển kinh tế, ô nhiễm môi trường, xung độtsắc tộc, tôn giáo, Và một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm đó là toàn cầuhóa văn hóa – bởi xu hướng này đang diễn ra quyết liệt và sâu sắc hơn Nhưng vấn đềđặt ra ở đây là hiểu nó thế nào cho đúng để đưa ra quyết sách phát triển đúng đắn chonền văn hóa bản địa, và giữ vững ổn định xã hội
Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói về vấn đề toàn cầu hoá Một số người thìhết lời khen ngợi những tác động tích cực mà toàn cầu hoá đem lại, theo họ toàn cầuhoá là một phương thức phát triển tất yếu của một thế giới hiện đại, nó đem lại cho tất
cả các quốc gia trong cái thế giới đó những cơ hội được phát triển mạnh mẽ về mọi mặt
mà trước hết là về kinh tế Nhưng cũng có người lại ra sức phản đối quá trình toàn cầu
Trang 10hoá Họ cho rằng, toàn cầu hoá chẳng qua chỉ là một công cụ để cho các nước tư bảnphát triển bóc lột các nước nhỏ đang và chậm phát triển, chính vì vậy, bên cạnh nhữngcuộc họp, những hội nghị nhằm thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa kinh tế, chính trị trênthế giới thì đồng thời cũng diễn ra rất nhiều các cuộc biểu tình phản đối quá trình này.Tuy vậy, xu hướng toàn cầu hoá đã trở nên phổ biến với mọi người trong xã hộihiện đại ngày nay, và quá trình này đang diễn ra hết sức sôi động trên hầu hết mọi mặtcủa đời sống xã hội, mà trước hết và rõ nét nhất là trên lĩnh vực kinh tế Cũng như cáchiện tượng xã hội khác, toàn cầu hoá cũng là một quá trình mang tính hai mặt, nó vừa
có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực Ở mỗi quốc gia, khi tiếp nhận quá trình toàn cầuhoá thì cả hai mặt này đều bộc lộ ra Vấn đề là những quốc gia đó đã làm gì để có thể tậndụng được tốt nhất những cơ hội mà quá trình toàn cầu hoá đem lại, đồng thời giảmthiểu đến mức tối đa những tác động tiêu cực của nó Trong rất nhiều lĩnh vực mà toàncầu hoá tác động và chi phối, chúng ta không thể không nói đến văn hóa Tuy nhiên, hiệnnay, câu hỏi lớn vẫn được đặt ra và đang được giải quyết là liệu có hay không quá trìnhtoàn cầu hóa văn hóa, mà chủ yếu và nổi cộm đó là sự bị xâm lấn bản sắc văn hóa củacác quốc gia đang và chậm phát triển bởi nền văn hóa phương Tây?
Tuy nhiên, cho đến nay, làn sóng toàn cầu hoá đã có thêm nhiều đặc trưng mới
do sự phát triển của xã hội đem lại như: các loại thị trường mới (thị trường chứngkhoán, ngân hàng, bảo hiểm…); các công cụ mới (máy fax, điện thoại di động, máy tính,mạng internet, vận tải đường không …); các thể chế mới (như: các tập đoàn kinh tế đaquốc gia liên kết chi phối nền sản xuất thế giới, tổ chức thương mại thế giới ngày càng cóảnh hưởng và quyền lực lớn đối với các quốc gia…); các quy tắc và chuẩn mực mới (cáchiệp định đa phương, song phương xuất hiện ngày càng nhiều và có vai trò to lớn trongviệc điều chỉnh hàng loạt chính sách của các quốc gia, hành vi ứng xử giữa các quốcgia…)
Mặt khác, mức độ ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đối với cácnước, bao gồm cả Việt Nam là rất khác nhau, và nó không chỉ là tháchthức mà còn là cơ hội cho sự phát triển văn hóa nói riêng và xã hội nóichung Do toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế và do bản thân phươngTây có nền văn hóa phát triển lại tận dụng được những thành tựu củacách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là cách mạng thông tin nên
có lẽ chưa bao giờ phương Tây lại có điều kiện thuận lợi trong việctruyền bá văn hóa của mình ra bên ngoài như bây giờ Thông qua hợptác kinh tế, chuyển giao công nghệ và các quá trình sản xuất kinhdoanh, quản lý, các nước phương Tây đã dùng mọi hình thức hấp dẫn
Trang 11để đưa văn hóa của mình vào các nước đang và chậm phát triển Đồngthời thông qua giao lưu văn hóa để truyền bá văn hóa phương Tây Đặcbiệt là họ sử dụng các loại hình nghệ thuật vốn là công cụ hấp dẫn vàrất phát triển ở các nước phương Tây để tác động vào văn hóa của cácnước khác Ngoài ra việc sử dụng những ngôn ngữ vốn rất phổ biếntrên thế giới như: Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha,… trongcác hoạt động quốc tế (kinh tế, văn hóa, chính trị…) cũng như trên cácphương tiện truyền thông (internet, truyền hình….) càng tạo điều kiệnthuận lợi cho sự thâm nhập của văn hóa phương Tây vào các quốc giakhác
Vậy thực chất toàn cầu hoá và toàn cầu hóa văn hóa là gì, tại sao hiện nay toàncầu hoá lại có những đặc trưng mới và lại trở thành một vấn đề nổi cộm đối với mỗiquốc gia? Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nội dung của toàn cầu hóa, điều này phụthuộc vào góc nhìn, mục đích khai thác khái niệm cũng như cách thức tiếp cận vấn đềcủa nhà nghiên cứu Nhìn chung có thể khái quát thành những quan điểm chủ yếu sau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: toàn cầu hoá là một quá trình có tính nhiều mặt,bao gồm tăng trưởng thương mại quốc tế, các luồng lao động, vốn và công nghệ cũngnhư sự giao lưu ý tưởng và cách sống… ảnh hưởng của toàn cầu hoá đến vấn đề văn hoáphụ thuộc rất nhiều vào tính chất của các chính sách của các chính phủ đối với quá trìnhtoàn cầu hoá (1, tr.22)
- Theo quan điểm thứ hai thì toàn cầu hoá được nói đến trước hết và chủ yếu làtoàn cầu hoá kinh tế Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càngnhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và một số tập đoàn kinh
tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa
có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh, vừa tạo ra những cơ hội cho sự pháttriển nhưng cũng vừa có những thách thức đối với các quốc gia, nhất là các quốc giađang ở trình độ kém phát triển (2, tr.5) Hay “Toàn cầu hoá là một quá trình mà thôngqua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau trở nên ngày càng phụ thuộc lẫnnhau do tính năng động của việc buôn bán hàng hoá và dịch vụ cũng như do tính năngđộng của sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ”(3, tr.78)
- Cũng có học giả cho rằng toàn cầu hoá hiện nay chỉ là một khái niệm của mộtquá trình đã tiếp diễn từ lâu, một sự mở rộng không gian của phương thức kinh tế tưbản đến tận cùng của thế giới (4, tr.565)
Mặc dù được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, với những mục đích khác
Trang 12nhau nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng toàn cầu hoá trước hết là kháiniệm dùng để chỉ toàn cầu hoá về kinh tế, sau đó nó tác động ảnh hưởng đến các lĩnhvực khác.
Chúng ta biết rằng từ xa xưa đến nay, con người muốn sống và tồn tại được thìbuộc phải giải quyết rất nhiều vấn đề khác nhau do cuộc sống đặt ra Vấn đề đó có thểchỉ liên quan đến một cộng đồng người nhưng cũng có thể liên quan đến nhiều cộngđồng người khác nhau Tuy nhiên, chỉ có ở thời đại ngày nay thì một số vấn đề được coi
là cốt tử đối với sự tồn tại và phát triển ổn định của toàn thể loài người mới xuất hiện.Những vấn đề này được gọi là những vấn đề toàn cầu Theo M.Maksimova, những vấn
đề được coi là vấn đề toàn cầu phải có những đặc trưng sau:
+ Thực sự mang tính chất toàn hành tinh, liên quan đến lợi ích toàn nhân loại.+ Đe doạ cả loài người tụt hậu trong bước phát triển tiếp của LLSX và cả trongnhững điều kiện của cuộc sống
+ Cần có những giải pháp và hành động không thể trì hoãn trên bình diện toànhành tinh để khắc phục mọi mối đe doạ đối với con người
+ Đòi hỏi nỗ lực tập thể từ phía tất cả các quốc gia và toàn thể cộng đồng thế giới(5, tr.212) Chẳng hạn như: vấn đề an ninh lương thực, an ninh năng lượng, môi trường,các cuộc xung đột vũ trang, khủng bố, tệ nạn xã hội và tội ác, vấn đề phát triển kinh tếtoàn cầu…
Với cách tiếp cận này thì toàn cầu hoá được hiểu là: xã hội loài người đã ở vào giaiđoạn mà sự phát triển của các nền kinh tế đòi hỏi những phương thức hoạt động vàđiều hành mới ở cấp độ toàn cầu; sự nảy sinh và tồn tại những vấn đề có ý nghĩa sốngcòn đối với toàn nhân loại đòi hỏi sự giải quyết ở cấp độ toàn cầu; nguyện vọng muônthủa của con người được sống trong một thế giới hoà bình, nhân ái và hạnh phúc cầnđược đáp ứng ở cấp độ toàn cầu – tất cả là yêu cầu vừa là điều kiện để cho tất cả cácquốc gia, các dân tộc liên kết với nhau trong một toàn thể đồng thuận trong đó mỗi cánhân, mỗi cộng đồng đều tự do lao động, sáng tạo, sản xuất kinh doanh, hợp tác và cạnhtranh với nhau để cùng nhau tiến bộ, rút bớt khoảng cách giữa nhau Và để đạt đượcmục đích đó, tất cả những tự do trên đây đều được đặt trong khuôn khổ những nhìnnhận chung, những quy ước và thể chế chung được lập ra vì lợi ích của toàn cầu Ta gọi
đó là toàn cầu hoá
Toàn cầu hóa, về thực chất, là quá trình tăng lên mạnh mẽ những
Trang 13mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau củatất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới, hay nóinhư C Mác, là quá trình lịch sử biến thành lịch sử thế giới Toàn cầuhóa là giai đoạn mới, giai đoạn phát triển cao của quá trình quốc tếhóa đã diễn ra từ nhiều thế kỷ trước đây Hình thức biểu hiện đầu tiêncủa toàn cầu hoá đó chính là toàn cầu hoá kinh tế Sự xuất hiện xu thếtoàn cầu hóa kinh tế bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất,
từ tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất trên phạm vi quốc gia vàquốc tế, từ nền kinh tế thị trường thế giới Sự tác động mạnh mẽ củacuộc cách mạng khoa học và công nghệ với quá trình biến khoa họcthành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự phát triển của các công nghệ cao(công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới,công nghệ vũ trụ ) đã làm thay đổi về chất lực lượng sản xuất của loàingười, đưa loài người từ nền văn minh công nghiệp lên văn minh tinhọc, từ cơ khí hóa sản xuất lên tự động hóa, tin học hóa sản xuất Cáchmạng khoa học và công nghệ đang tạo ra những biến đổi căn bản vàsâu sắc không những trong công nghệ, trong sản xuất, mà còn trongmọi lĩnh vực của đời sống xã hội C Mác và Ph Ăng - ghen đã vạch rõ :
"Vì luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giaicấp tư sản xâm lấn khắp toàn cầu Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụlại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi Do bóp nặnthị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùngcủa tất cả các nước mang tính chất thế giới "(6, tr.601)
Đồng thời với quá trình toàn cầu hoá kinh tế là sự ra đời của các
tổ chức quốc tế và khu vực về chính trị, kinh tế, thương mại, tài chính.Trước hết phải kể đến Liên hợp quốc (UN) với 191 nước thành viên, tức
là chiếm đại bộ phận các nước trên thế giới Liên hợp quốc cùng các tổchức trực thuộc của mình như UNDP, UNESCO, UNFPA, UNICEF, FAO đang tác động đến tất cả các nước trên phạm vi toàn cầu Ngoài ra làcác tổ chức khác như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệquốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB) có vai trò ngày càng tăngtrong việc giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị chung của thế giới
và khu vực, như giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ởThái Lan, In-đô-nê-xi-a, Hàn Quốc, Liên bang Nga, Bra-xin hay việccan thiệp của các tổ chức này cùng với chính phủ của nhiều quốc giavào việc kìm hãm sự suy thoái kinh tế trong giai đoạn hiện nay của thếgiới Đến lượt mình, các tổ chức này lại thúc đẩy quá trình toàn cầuhóa
Do vậy, chúng ta không thể hiểu toàn cầu hoá một cách đơn giản,phiến diện, mà cần nhìn nhận nó như là một quá trình phức tạp, đầy
Trang 14mâu thuẫn, có tính chất hai mặt, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn mặttiêu cực, cả thời cơ và thách thức đối với tất cả các quốc gia, trong đócác nước đang phát triển, chậm phát triển chịu nhiều thách thức gaygắt hơn:
- Về kinh tế, toàn cầu hóa tạo cơ hội cho sự phát triển kinh tếthông qua việc tự do hóa thương mại, thu hút đầu tư, chuyển giao khoahọc-công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ,tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch nềnkinh tế sang kinh tế thị trường Tuy nhiên, toàn cầu hóa kinh tế có thểlàm gia tăng nợ nước ngoài của các quốc gia, đặc biệt là các quốc giachậm phát triển và đang phát triển Toàn cầu hóa cũng làm tăng sựphụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, từ đó có thể hạn chế, làm suygiảm sự độc lập tự chủ về kinh tế của các nước chậm và đang pháttriển Ngoài ra, Toàn cầu hóa kinh tế cũng có thể đem đến nguy cơ ônhiễm môi trường sinh thái do sử dụng các công nghệ lạc hậu mà cácnước phát triển loại ra
- Về chính trị, toàn cầu hoá cũng dẫn các nước chậm phát triển tớinguy cơ xói mòn quyền lực nhà nước dân tộc, thu hẹp đáng kể quyềnlực, phạm vi và hiệu quả tác động của nhà nước do vai trò kinh tế củanhà nước có thể bị giảm sút bởi sự chi phối của các công ty xuyên quốcgia, bởi sức ép của IMF, WB, WTO ; đồng thời từ chỗ phụ thuộc về kinh
tế sẽ dẫn đến phụ thuộc về chính trị và thậm chí, thông qua con đườngtrao đổi, hợp tác kinh tế, đầu tư, viện trợ, cho vay theo hướng khuyếnkhích tư nhân hóa, tự do hóa tư sản, các nước phát triển đứng đầu là
Mỹ đã áp đặt mô hình chính trị của mình vào các nước khác, sử dụng
“sức mạnh mềm”, “sức mạnh cứng” (có thể hiểu là dùng vũ lực) và
“sức mạnh thông minh, khôn khéo” (là sự kết hợp “ sức mạnh cứng” và
“ sức mạnh mềm”) để thay đổi các chế độ xã hội ở đây theo hướngthân phương Tây
- Về văn hóa - tư tưởng, toàn cầu hóa một mặt tạo điều kiện choviệc mở rộng giao lưu quốc tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữacác dân tộc; tạo điều kiện cho việc tiếp thu những thành tựu của vănhóa nhân loại cũng như phổ biến và khẳng định bản sắc văn hóa củadân tộc mình, đồng thời nó cũng tạo điều kiện cho việc hiện đại hóa vàlàm phong phú nền văn hóa của dân tộc; mặt khác, nó cũng là nguy cơlàm mai một bản sắc văn hóa dân tộc Thông qua toàn cầu hóa, lốisống thực dụng, vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân, "văn hóa phẩm" độc hại dễdàng được du nhập, đặc biệt là thông qua các phương tiện truyềnthông Hiện nay, dưới ảnh hưởng của công nghệ thông tin, ý thức hệ