1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI CHÍNH TIỀN TỆĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM

70 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 256,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  •  Nguồn: Khảo sát và tính toán của VCCI và USAID

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA VÀ VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

    • I.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA:

      • I.1.1 Khái niệm

      • I.1.2 Bản chất, sự phát triển và cấu trúc

      • I.1.3 Đặc trưng cơ bản của các công ty đa quốc gia:

      • I.1.4 Đặc điểm phát triển của các công ty đa quốc gia:

    • I.2 VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ

      • I.2.1 Khái niệm:

      • I.2.2 Một số dấu hiệu nhận biết chuyển giá:

      • I.2.3 Hình thức chuyển giá

        • I.2.3.1 Chuyển giá thông qua vốn đầu tư:

        • I.2.3.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ:

        • I.2.3.3 Chuyển giá thông qua chuyển giao nguyên vật liệu, hàng hóa:

        • I.2.3.4 Chuyển giá thông qua các hình thức cung cấp dịch vụ:

        • I.2.3.5 Chuyển giá thông qua chi trả lãi vay vốn sản xuất kinh doanh:

        • I.2.3.6 Chuyển giá thông qua chiếm lĩnh thị trường:

      • I.2.4 Động cơ thúc đẩy:

        • I.2.4.1 Động cơ bên ngoài:

        • I.2.4.2 Động cơ bên trong:

  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM:

    • II.1 Thực trạng hoạt động của Công ty ĐQG trên lãnh thổ Việt Nam

    • II.2 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

      • II.2.1 Doanh nghiệp FDI tăng trưởng nhanh cả về số lượng doanh nghiệp, quy mô và kết quả sản xuất

      • II.2.2 Đến nay các doanh nghiệp FDI đã hoạt động khắp ở hầu hết các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương và ngành kinh tế

      • II.2.3 Khu vực FDI là khu vực sản xuất kinh doanh năng động, ổn định và hiệu quả

      • II.2.4 Hạn chế của các doanh nghiệp FDI

    • II.3 Thực trạng chuyển giá của các công ty ĐGQ hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam

    • II.4 Hậu quả thực tế của tình trạng chuyển giá phổ biến hiện nay của các công ty ĐGQ hoạt động tại Việt Nam

      • II.4.1 Đánh giá hậu quả của chuyển giá tại Việt Nam

      • II.4.2 Một số ví dụ điển hình và hậu quả:

        • II.4.2.1 Tình huống Adidas Việt Nam

        • II.4.2.2 Tình huống Coca-Cola Việt Nam

        • II.4.2.3 Tình huống các DN FDI ở Lâm Đồng

        • II.4.2.4 Tình huống Pepsico Việt Nam

        • II.4.2.5 Tình huống Keangnam Vina

        • II.4.2.6 Tình huống Metro Cash & Carry Vietnam

      • II.4.3 Thực trạng chính sách kiểm soát chuyển giá - chính sách chống chuyển giá của Việt Nam

      • II.4.4 Nguyên nhân của tình trạng lợi dụng chuyển giá để trốn thuế phổ biến hiện nay của các công ty ĐQG hoạt động tại Việt Nam

      • II.4.5 Nguyên nhân những hạn chế tồn tại trong quá trình chống chuyển giá

  • CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ CHUYỂN GIÁ

    • III.1 Dự báo xu hướng đầu tư của các công ty đa quốc gia vào Việt Nam:

      • III.1.1 Xu hướng dịch chuyển của dòng vốn FDI toàn cầu năm 2015

      • III.1.2 Xu hướng ở Việt Nam

    • III.2 Một số kiến nghị:

      • III.2.1 Giải pháp của chính phủ:

        • III.2.1.1 Hoàn thiện hàng lang pháp lý về vấn đề chuyển giá:

        • III.2.1.2 Hoàn thiện hệ thống thông tin, dữ liệu về người nộp thuế

        • III.2.1.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy: nghiên cứu giao quyền điều tra cho cơ quan thuế.

        • III.2.1.4 Tăng cường kiểm soát hoạt động chuyển giá thông qua việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động của từng bộ phận chức năng quản lý:

      • III.2.2 Biện pháp của các doanh nghiệp:

      • III.2.3 Biện pháp xã hội:

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA VÀ VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

Các quan hệ kinh doanh quốc tế hình thành khi các quốc gia mở cửa và hội nhập kinh tế Đầu tư nước ngoài, mặc dù ra đời muộn hơn so với các hình thức kinh doanh quốc tế khác, đã phát triển nhanh chóng và dẫn đến sự hình thành của các công ty đa quốc gia (MNC hoặc MNE) Các công ty này hoạt động sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ tại ít nhất hai quốc gia và thường có ngân sách lớn hơn nhiều quốc gia, từ đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến mối quan hệ quốc tế và nền kinh tế toàn cầu.

I.1.2 Bản chất, sự phát triển và cấu trúc

Xu hướng đầu tư từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), ngày càng phổ biến, với gần 95% tổng số FDI toàn cầu đến từ các công ty đa quốc gia Những công ty này thường xuất phát từ các quốc gia giàu có và mở rộng hoạt động ra nước ngoài để khai thác lợi thế và tối đa hóa lợi nhuận FDI, liên quan đến việc sản xuất trực tiếp tại nước ngoài, đóng vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, FDI đã tăng trưởng nhanh chóng, với mức tăng trưởng hàng năm đạt 28,9% vào những năm 1980, gấp ba lần mức tăng trưởng thương mại thế giới Hiện nay, khoảng 63,000 công ty đa quốc gia đang hoạt động, trong đó 500 công ty lớn nhất kiểm soát hơn 2/3 thương mại toàn cầu, với khoảng 100 công ty hàng đầu chiếm một phần ba tổng FDI toàn cầu Sáu quốc gia lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan và Nhật Bản nắm giữ hơn 60% nguồn vốn FDI trên thế giới Các công ty đa quốc gia hiện có ba loại hình chính.

(1) Công ty đa quốc gia “ theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau.

Công ty đa quốc gia theo chiều dọc có các cơ sở sản xuất tại nhiều quốc gia, sản xuất sản phẩm là đầu vào cho quá trình sản xuất tại các quốc gia khác.

(3) Công ty đa quốc gia theo nhiều chiều có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc.

I.1.3 Đặc trưng cơ bản của các công ty đa quốc gia:

Công ty đa quốc gia (MNC) có quy mô lớn và hoạt động toàn cầu, với sự sở hữu đa chủ và đa quốc tịch từ nhiều nhà đầu tư khác nhau MNCs thường đầu tư vào các quốc gia để tận dụng lợi thế từ quá trình quốc tế hóa và ưu đãi địa phương, mặc dù truyền thống xuất phát từ các quốc gia phát triển Sự kết nối giữa các doanh nghiệp trong MNC giúp giải quyết khó khăn về vốn và thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của các công ty thành viên, làm tăng tổng tài sản MNCs sở hữu các yếu tố cốt lõi như vốn đầu tư, công nghệ và kỹ năng quản trị, giúp họ đạt được lợi thế cạnh tranh vượt trội Ngoài ra, MNCs còn thu hút một lượng lớn lao động từ cả nước sở tại và các quốc gia khác.

Các công ty đa quốc gia là các công ty đa ngành Cùng với sự phát triển của

Các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) thường hoạt động trong nhiều lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và nghiên cứu khoa học Tập đoàn FPT tại Việt Nam là một ví dụ điển hình, không chỉ hoạt động trong viễn thông và phần mềm mà còn mở rộng sang bất động sản, quảng cáo, ngân hàng và chứng khoán Sự kết hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực này cùng với việc liên kết nghiên cứu khoa học và sản xuất đã tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các công ty đa quốc gia, giúp họ mở rộng hoạt động và gia tăng lợi nhuận.

Các công ty đa quốc gia (MNC) có cơ cấu tổ chức và sở hữu vốn đa dạng, được hình thành dựa trên nguyên tắc tự nguyện và hiệp thương Mỗi doanh nghiệp thành viên của MNC có pháp nhân độc lập và cơ quan quyền lực cao nhất như hội đồng thành viên hoặc đại hội cổ đông Về sở hữu vốn, MNC bao gồm cả vốn tư nhân và vốn nhà nước từ các công ty thành viên, và quyền sở hữu vốn phụ thuộc vào mức độ phụ thuộc của các công ty này vào công ty mẹ.

I.1.4 Đặc điểm phát triển của các công ty đa quốc gia:

Các công ty đa quốc gia đang chuyển dịch đầu tư từ ngành khai thác tài nguyên sang ngành chế biến sản phẩm để gia tăng giá trị Họ cũng chuyển từ các ngành sử dụng lao động nhiều sang các lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, bao gồm dịch vụ điện tử, thương mại, tài chính ngân hàng, y tế và giáo dục.

Các công ty đa quốc gia ngày càng trở thành lực lượng chủ chốt trong sự phát triển kinh tế toàn cầu, chiếm 2/3 giá trị thương mại quốc tế và 4/5 tổng giá trị đầu tư FDI Họ cũng đóng góp 90% thành quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, cùng với 95% hoạt động xuất nhập khẩu lao động quốc tế Vai trò của các công ty này là rất quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình quốc tế hóa, biến mỗi quốc gia thành một phần không thể tách rời của nền kinh tế thế giới.

Các công ty đa quốc gia đang mở rộng các hình thức liên kết kinh tế để nâng cao khả năng cạnh tranh Để mở rộng ảnh hưởng và thích ứng với sự phát triển mới của kinh tế và công nghệ, họ không chỉ thực hiện các chiến lược sáp nhập mà còn thúc đẩy hoạt động hợp tác giữa các công ty cùng hoặc khác quốc tịch Xu hướng chiến lược mới của các công ty này là đa dạng hóa và chuyên môn hóa cao độ, nhằm sản xuất nhiều loại sản phẩm và cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau để giảm thiểu rủi ro, tìm kiếm cơ hội kinh doanh mới, và đối phó với tình trạng tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại Một số công ty tập trung phát huy thế mạnh và chuyên môn của mình để gia tăng lợi thế cạnh tranh.

VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ

Chuyển giá là chính sách định giá hàng hóa, dịch vụ và tài sản giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới, không theo giá thị trường Mục đích của chuyển giá là chuyển thu nhập và lợi nhuận từ quốc gia có thuế cao sang quốc gia có thuế thấp, từ đó tối thiểu hóa số thuế phải nộp của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu.

Khái niệm này liên quan đến việc xác định giá trị bằng tiền cho các sản phẩm hay hàng hóa được trao đổi giữa các đơn vị thành viên trong một doanh nghiệp, gọi là các chủ thể có mối quan hệ liên kết Nó áp dụng cho các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) bao gồm các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con và tham gia vào kinh doanh quốc tế Mỗi đơn vị thành viên thực hiện hoạch toán độc lập và có quyền quyết định về chi phí và doanh thu Thuật ngữ “giá chuyển giao nội bộ” hay “giá liên kết” được sử dụng trong chuyên ngành hoạch toán chi phí để định giá việc trao đổi sản phẩm, dịch vụ và tài sản trong nội bộ doanh nghiệp, giúp xác định chính xác phần chi phí phát sinh mà không chịu ảnh hưởng từ mối quan hệ cung-cầu.

Chuyển giá là hành vi của các doanh nghiệp nhằm điều chỉnh giá trị trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong các mối quan hệ liên kết Hành động này chủ yếu tác động đến giá cả, trong khi các bên liên quan có chung lợi ích Sự khác biệt trong giá giao dịch giữa các chủ thể không làm thay đổi lợi ích toàn cục nhưng lại ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế, chuyển từ nơi có thuế cao sang nơi có thuế thấp, từ đó gia tăng lợi nhuận Giá cả trong các giao dịch liên kết có thể được xác định lại do ba lý do chính.

Các chủ thể kinh doanh có quyền tự do định đoạt giá cả giao dịch, cho phép họ mua bán hàng hóa, dịch vụ theo mức giá mong muốn Sự khác biệt về giá giữa các thành viên trong nhóm liên kết không làm thay đổi lợi ích chung nhưng có thể ảnh hưởng đến tổng nghĩa vụ thuế của họ Việc định giá có thể dẫn đến việc chuyển nghĩa vụ thuế từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn Giá giao kết là yếu tố quan trọng để xác định hành vi chuyển giá, và nếu giá này không tương ứng với giá thị trường, có thể kết luận giao dịch có biểu hiện chuyển giá Để đánh giá chính xác, các doanh nghiệp cần thiết lập chính sách giá mà tại đó giá chuyển giao có thể thay đổi tùy thuộc vào lợi ích đạt được, dẫn đến sự bất bình đẳng trong nghĩa vụ thuế và tạo ra sự khác biệt trong ưu thế cạnh tranh.

I.2.2 Một số dấu hiệu nhận biết chuyển giá:

Việc xác định liệu một chủ thể có thực hiện chuyển giá hay không gặp nhiều khó khăn, do nếu định giá quá cao hoặc quá thấp có thể dẫn đến việc tăng thu thuế cục bộ cho một nhà nước, khiến cơ quan có thẩm quyền cần điều chỉnh giá chuyển giao Chẳng hạn, nếu giá mua đầu vào được xác định thấp, chi phí sẽ giảm và thu nhập trước thuế sẽ tăng, dẫn đến thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn; ngược lại, nếu giá xuất khẩu được định cao, doanh thu cũng sẽ tăng, làm tăng số thuế mà nhà nước thu được Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến việc nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp liên kết ở đầu kia giảm xuống, do một phần nghĩa vụ thuế đã được chuyển giao qua giá sang doanh nghiệp liên kết, gây ra sự giảm tổng thuế đáng kể.

Hành vi chuyển giá có thể xảy ra qua giao dịch giữa các chủ thể liên kết, thể hiện qua việc giao kết về giá Tuy nhiên, chỉ giao kết giá chưa đủ để xác định việc chuyển giá, vì nếu giao kết chưa được thực hiện hoặc không có sự chuyển giao quyền đối với đối tượng giao dịch, thì không thể xác định sự chuyển dịch lợi ích Chuyển giá được coi là hoàn thành khi có sự chuyển giao đối tượng giao dịch, bất kể nghĩa vụ thanh toán đã hoàn tất hay chưa Để đánh giá hành vi chuyển giá, cần xem xét giá giao kết so với giá thị trường; nếu giá giao kết không tương ứng với giá thị trường, có khả năng cao rằng giao dịch đã thực hiện chuyển giá.

Để nhận biết chuyển giá, có thể dựa vào một số dấu hiệu như doanh nghiệp liên tục thua lỗ trong nhiều năm nhưng doanh thu vẫn tăng và hoạt động sản xuất mở rộng Doanh nghiệp có thể báo cáo lỗ trong ba năm liên tiếp, sau đó có lãi nhưng rất ít, dẫn đến lũy kế vẫn thua lỗ Các giao dịch nội bộ bất thường và nghiệp vụ chuyển giao từ các doanh nghiệp liên kết ở quốc gia có thuế suất thấp cũng là dấu hiệu đáng chú ý Ngoài ra, các doanh nghiệp có tình hình lãi và lỗ luân phiên hoặc có tỷ suất lợi nhuận cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp cùng ngành, hay có chi phí sản xuất thực tế thấp, cũng có thể là những trường hợp cần xem xét.

I.2.3.1 Chuyển giá thông qua vốn đầu tư:

Khi nước tiếp nhận không đủ năng lực để thẩm định giá thiết bị và công nghệ trong dự án đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài thường định giá cao hơn thực tế để nâng cao giá trị vốn góp Hành động này có thể gây thiệt hại cho bên liên doanh, chính phủ và người tiêu dùng Bên liên doanh chịu thiệt hại trong vốn góp và dễ bị thôn tính bởi các công ty đa quốc gia, dẫn đến việc chuyển đổi thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Chính phủ mất thuế trong khi người tiêu dùng phải trả giá cao hơn cho sản phẩm.

I.2.3.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ: Đây là hành vi chuyển giá thông qua việc các công ty nước ngoài chuyển giao công nghệ sản xuất, kinh doanh cho các bên liên kết tại nước tiếp nhận và thu tiền bản quyền với giá cao trong điều kiện lợi dụng việc định giá của ta còn gặp nhiều khó khăn Do đó, chi phí đầu vào bị đẩy lên cao, dẫn đến hạch toán thua lỗ, còn khoản phí bản quyền được chuyển giao cho bên nước ngoài hưởng.

I.2.3.3 Chuyển giá thông qua chuyển giao nguyên vật liệu, hàng hóa:

Công ty đa quốc gia thông qua công ty mẹ ở nước ngoài đã thao túng giá đầu vào của nguyên vật liệu giữa các công ty con và bên liên kết, đẩy giá lên cao và chuyển lợi nhuận về quốc gia có thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn Nhiều doanh nghiệp FDI chủ yếu nhập khẩu yếu tố đầu vào cho sản xuất từ các công ty mẹ hoặc các công ty khác trong cùng hệ thống đa quốc gia Hệ quả là giá mua hàng hóa, dịch vụ thường cao hơn giá thực tế, trong khi sản phẩm được bán cho công ty mẹ với giá thấp, dẫn đến tình trạng “lỗ công ty con, lãi công ty mẹ.”

I.2.3.4 Chuyển giá thông qua các hình thức cung cấp dịch vụ:

Việc xác định giá dịch vụ giữa công ty mẹ và các công ty con trong tập đoàn đa quốc gia là rất phức tạp Nhiều tập đoàn đầu tư vốn và cung cấp các dịch vụ quản lý như kế toán, tài chính, tư vấn và quản lý tài sản với mức giá cao Điều này nhằm chuyển lợi nhuận từ công ty con về công ty mẹ, giúp họ tránh thuế hiệu quả.

I.2.3.5 Chuyển giá thông qua chi trả lãi vay vốn sản xuất kinh doanh:

Thông qua việc vay vốn từ các bên liên kết và trả lãi suất cao, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có thể chuyển lợi nhuận sang bên liên kết tại quốc gia có thuế suất thấp hơn, nhằm mục đích tránh nghĩa vụ thuế tại nước nhận đầu tư.

I.2.3.6 Chuyển giá thông qua chiếm lĩnh thị trường: Để có thể thâm nhập thị trường và chiếm lĩnh thị phần, các doanh nghiệp FDI tăng cường các hoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm làm cho các công ty này khai những chi phí trên với giá cao khiến các công ty này bị lỗ Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp liên doanh, các công ty đa quốc gia dựa vào tiềm lực tài chính để thực hiện hành vi chuyển giá bất hợp pháp gây ra thua lỗ kép kéo dài và chiếm lấy phần quản lý và kiểm soát công ty Nhiều doanh nghiệp lợi dụng chính sách ưu đãi cho giảm trừ phần chi phí cho hoạt động quảng cao, khuyến mãi nên đã tìm mọi cách kê khai cả phần chi phí làm thương hiệu của công ty mẹ. Đây là một số hình thức chuyển giá cơ bản của các công ty đa quốc gia nhưng chắc chắn, các doanh nghiệp này còn có nhiều hình thức chuyển giá khác nữa khi mà mô hình hoạt động của họ còn qua nhiều khâu trung gian và hoạt động chuyển giá ngày càng tinh vi.

I.2.4.1 Động cơ bên ngoài: Đầu tiên là sự khác biệt về thuế suất thu nhập doanh nghiệp Khi hai quốc gia có sự khác biệt lớn trong thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, để tối đa hóa lợi nhuận, các công ty đa quốc gia sẽ tiến hành hành vi chuyển giá nhằm tối thiểu hóa khoản thuế mà các công ty này phải nộp Khi có chênh lệch về thuế suất thì phương thức chuyển giá mà các công ty đa quốc gia thường sử dụng đó là nâng giá mua đầu vào các nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa và định giá bán ra hay giá xuất khẩu thấp tại các công ty con đóng trên các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao Bằng cách thực hiện này thì các MNCs đã chuyển một phần lợi nhuận từ quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao sang quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp và như vậy mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đã được thực hiện thành công.

Các công ty đa quốc gia (MNCs) sẽ đầu tư vào một quốc gia khi họ dự đoán rằng đồng tiền của quốc gia đó sẽ mạnh lên, giúp bảo toàn và phát triển vốn đầu tư ban đầu Ngược lại, nếu họ dự đoán rằng đồng tiền sẽ yếu đi, họ sẽ rút vốn đầu tư Dựa trên các dự báo tỷ giá, MNCs có thể điều chỉnh thời gian thanh toán nội bộ để giảm rủi ro tỷ giá; cụ thể, họ sẽ thanh toán sớm hơn nếu dự báo đồng tiền sẽ mất giá và trì hoãn thanh toán nếu dự báo đồng tiền có xu hướng mạnh lên.

THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG

Thực trạng hoạt động của Công ty ĐQG trên lãnh thổ Việt Nam

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, được ban hành lần đầu vào tháng 12 năm 1987, đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý quan trọng cho việc mở cửa và hội nhập kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đạt được các mục tiêu như thu hút vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và tiếp thu công nghệ hiện đại Từ năm 2000, sau khi Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp, hoạt động của khu vực đầu tư nước ngoài đã gia tăng nhanh chóng, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Việt Nam đã thu hút nhiều tập đoàn đa quốc gia hàng đầu như Intel, Samsung, Canon, và Toyota, góp phần vào sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

1 “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011” , Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê, NXB Thống Kê, Hà Nội (2014)

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển

Đầu tư nước ngoài (FDI) đang là lĩnh vực phát triển mạnh mẽ nhất trong nền kinh tế, với tốc độ tăng trưởng GDP năm 2011 đạt 6,30%, cao hơn mức tăng 5,89% của toàn nền kinh tế Sự tăng trưởng nhanh chóng của khu vực FDI đã dẫn đến sự gia tăng tỉ trọng đóng góp vào GDP, từ 18,72% năm 2010 lên 18,97% năm 2011.

Trong 20 năm hoạt động, doanh nghiệp FDI đã trở thành phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp 16,1% vốn sản xuất, 18,3% tài sản cố định, 19,7% tổng doanh thu, 31,5% lợi nhuận trước thuế và 32,2% vào ngân sách Nhà nước Đầu tư nước ngoài không chỉ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà còn hướng tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa, với vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp.

Tính đến năm 2011, khu vực doanh nghiệp FDI chiếm 46% vốn trong toàn ngành công nghiệp, với tốc độ tăng trưởng bình quân gần 18%/năm, vượt trội so với toàn ngành Đến năm 2012, khu vực FDI đã đóng góp gần 45% giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp, đồng thời góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực trong nền kinh tế.

Chủ trương khuyến khích khu vực FDI hướng về xuất khẩu đã giúp Việt Nam nâng cao năng lực xuất khẩu và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu Khu vực FDI cũng đã góp phần thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng và hàng hóa sơ cấp, đồng thời tăng dần tỷ trọng hàng xuất khẩu từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

FDI có ảnh hưởng tích cực đến việc mở rộng thị trường xuất khẩu sang châu Âu, đặc biệt là Mỹ, nơi có quy định kiểm định hàng hóa nhập khẩu nghiêm ngặt Đồng thời, các doanh nghiệp FDI cũng giúp ổn định thị trường nội địa và giảm nhập siêu bằng cách cung cấp các sản phẩm chất lượng cao từ doanh nghiệp trong nước.

1 “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011” , Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê, NXB Thống Kê, Hà Nội (2014)

II.2.1 Doanh nghiệp FDI tăng trưởng nhanh cả về số lượng doanh nghiệp, quy mô và kết quả sản xuất

Khu vực FDI tại Việt Nam đã ghi nhận sự tăng trưởng ổn định trong hầu hết các lĩnh vực, với tổng số doanh nghiệp FDI hoạt động trên toàn quốc đạt 9.093 doanh nghiệp tính đến ngày 31/12/2013, gấp 6 lần so với năm 2000 Trung bình trong giai đoạn 2000-2013, số lượng doanh nghiệp FDI tăng khoảng 16% mỗi năm Đặc biệt, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 83% tổng số doanh nghiệp FDI, với 7.543 doanh nghiệp, tăng gấp 8,8 lần so với năm 2000.

2013 mỗi năm tăng xấp xỉ 20% Doanh nghiệp liên doanh là 1550 doanh nghiệp (chiếm 17% toàn bộ doanh nghiệp FDI) gấp 2,3 lần năm 2000, bình quân giai đoạnh 2000-2013 mỗi năm tăng 6,7%.

Tính đến ngày 31/12/2013, số lao động làm việc tại các doanh nghiệp FDI đã đạt 3,2 triệu người, gấp gần 8 lần so với năm 2000, trong đó doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 92% và doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài chiếm 8% Mỗi năm, khu vực này thu hút thêm khoảng 216,5 nghìn lao động, đóng góp đáng kể vào việc giải quyết việc làm cho nền kinh tế Đặc biệt, khu vực công nghiệp và xây dựng có tỷ lệ lao động FDI cao nhất, đạt 91%, trong đó riêng ngành công nghiệp chiếm 90,2%.

Tính đến ngày 31/12/2013, tổng vốn của khu vực doanh nghiệp FDI trong hoạt động sản xuất kinh doanh đạt 3.411 nghìn tỷ đồng, gấp 14,2 lần so với năm 2000 và tăng trung bình 22,4% mỗi năm trong giai đoạn 2000-2013 Trong đó, vốn FDI đầu tư vào khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 55,2%, với công nghiệp riêng lẻ chiếm 54,1%; khu vực dịch vụ đạt 44,5% và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 0,3%.

Tính đến ngày 31/12/2013, giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp FDI đạt 1438 nghìn tỷ đồng Đặc biệt, các doanh nghiệp FDI chủ yếu đầu tư vào dây chuyền sản xuất và máy móc thiết bị hiện đại với công nghệ tiên tiến.

Doanh thu thuần của khu vực doanh nghiệp FDI năm 2013 đạt 3138 nghìn tỷ đồng, gấp 19,4 lần so với năm 2000, với mức tăng trưởng bình quân 25,3% mỗi năm trong giai đoạn 2000-2013 Trong đó, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ lệ doanh thu FDI cao nhất với 81,5%, tiếp theo là khu vực dịch vụ với 18,2%, và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có tỷ lệ thấp nhất.

Lợi nhuận trước thuế của khu vực FDI năm 2013 đạt 248 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 11,5 lần so với năm 2000 và có mức tăng trưởng bình quân 15,4%/năm trong giai đoạn 2000-2013 Đồng thời, đóng góp của khu vực này vào ngân sách Nhà nước cũng đạt 214,3 nghìn tỷ đồng, gấp 9 lần năm 2000, với mức tăng trưởng bình quân 18,1%/năm trong cùng giai đoạn.

Bảng 1: Tỷ trọng một số chỉ tiêu cơ bản của các khu vực doanh nghiệp năm 2011 và 2013 2 Đơn vị tính: %

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

1 “Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoan

2 “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê, NXB Thống Kê, Hà Nội (2014)

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

II.2.2 Đến nay các doanh nghiệp FDI đã hoạt động khắp ở hầu hết các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương và ngành kinh tế

Số lượng doanh nghiệp FDI thực tế đang hoạt động ở thời điểm 31/12/2006 là

Tính đến năm 2013, Việt Nam đã có 9.093 doanh nghiệp FDI hoạt động, tăng từ 4.220 doanh nghiệp, chủ yếu tập trung vào các ngành như điện tử, sản xuất ô tô, xe máy, may mặc, và thực phẩm Vốn FDI chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp, đạt 1.845,1 nghìn tỉ đồng, chiếm gần 50% tổng vốn của khu vực doanh nghiệp Trong đó, các ngành khai khoáng, sản xuất chế biến thực phẩm, dệt, sản xuất sản phẩm điện tử, và phương tiện vận tải khác cũng có tỷ lệ nhất định Ngoài ra, các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, và bất động sản cũng thu hút một phần vốn đáng kể từ FDI.

Bảng 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép năm 2012 phân theo ngành kinh tế 2

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Công nghiệp chế biến, chế tạo

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí

Cung cấp nước, hoạt động quản lí và xử lí rác thải, nước thải

Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có

1 “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê, NXB Thống Kê, Hà Nội (2014)

2 Nguồn: Tổng cục Thống kê động cơ khác

Dịch vụ lưu trú và ăn uống

Thông tin và truyền thông

Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm

Hoạt động kinh doanh bất động sản

Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ

Giáo dục và đào tạo

Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội

Nghệ thuật, vui chơi và giải trí

Hoạt động dịch vụ khác

Doanh nghiệp FDI hoạt động trên hầu hết các vùng và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên toàn quốc, bao gồm cả những khu vực khó khăn như miền núi Ngoài ra, vốn tăng thêm từ các dự án đã được cấp giấy phép trong những năm trước cũng được tính vào tổng vốn đầu tư.

Bảng 3: Số lượng doanh nghiệp FDI phân theo vùng 1 Đơn vị tính: Doanh nghiệp

- Trung du và miền núi phía Bắc 208 172

- Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 414 307

- Đồng bằng sông Cửu Long 363 262

Vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai khu vực kinh tế trọng điểm lớn nhất Việt Nam, bao gồm nhiều tỉnh, thành phố có quy mô sản xuất và kinh doanh đáng kể, đặc biệt là sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp FDI tại TP Hồ Chí Minh.

TP Hà Nội, TP Hải Phòng, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bảng 4: Tỷ trọng một số chỉ tiêu của doanh nghiệp FDI theo vùng kinh tế năm 2011 Đơn vị tính: %

Giai đoạn 2006-2011, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Đồng bằng sông Hồng ghi nhận các chỉ số lần lượt là 28,96, 24,04, 32,06, 31,70 và 24,65, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê, NXB Thống Kê, Hà Nội (2014).

Trung du và miền núi phía Bắc 2,31 3,66 1,14 1,17 0,60

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền

Tây Nguyên 0,92 0,29 0,35 0,77 0,08 Đông Nam Bộ 59,18 60,20 60,71 60,10 71,47 Đồng bằng sông Cửu Long 4,03 6,46 2,26 3,22 1,43

II.2.3 Khu vực FDI là khu vực sản xuất kinh doanh năng động, ổn định và hiệu quả

Dự báo xu hướng đầu tư của các công ty đa quốc gia vào Việt Nam

III.1.1Xu hướng dịch chuyển của dòng vốn FDI toàn cầu năm 2015

Trong những năm gần đây, số lượng công ty đa quốc gia đã gia tăng nhanh chóng, đồng thời thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của giao dịch thương mại quốc tế.

Theo báo cáo của Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển

Theo UNCTAD, tổng vốn đầu tư nước ngoài toàn cầu năm 2014 đạt khoảng 1.260 tỷ USD, giảm 8% so với năm 2013, nhưng dự báo sẽ tăng trong năm 2015 và 2016 Tuy nhiên, dòng vốn từ các công ty đa quốc gia toàn cầu có thể gặp nhiều biến động trong thời gian tới.

Phân bố FDI toàn cầu đang diễn ra không đồng đều giữa các khu vực Năm 2014, FDI vào Châu Á đạt kỷ lục 492 tỷ USD, chiếm 15%, trong khi Châu Âu đạt 267 tỷ USD, tương đương 13% Ngược lại, FDI vào Châu Phi giảm 3% xuống còn 55 tỷ USD, và FDI vào các nước Mỹ Latinh giảm 19% xuống 153 tỷ USD sau bốn năm tăng trưởng liên tiếp Dự báo đến cuối năm 2015, tổng lượng FDI tại các quốc gia EU có thể đạt 210 tỷ euro, tăng 5-10% so với 199,3 tỷ euro năm 2014 Riêng trong quý đầu tiên năm 2015, FDI vào EU ước đạt khoảng 38 tỷ euro, tương đương với cùng kỳ năm 2014.

Dự báo trong năm 2015, vốn FDI tại các thị trường trọng điểm châu Âu sẽ tăng trưởng mạnh, với Pháp đạt 38%, Đức 28% và Anh 16% Đặc biệt, Tây Ban Nha và Ireland ghi nhận mức tăng ấn tượng lần lượt là 194% và 132%.

Theo UNCTAD, các tập đoàn đa quốc gia (MNC) đang chuyển hướng đầu tư từ các nước phát triển sang các nước phát triển, thay vì các nước đang phát triển như trước đây Năm 2014, 10 thỏa thuận đầu tư lớn nhất thế giới đều hướng vào các nước phát triển Nguyên nhân cho sự thay đổi này là do các nước đang phát triển đã mất lợi thế về giá nhân công, trong khi các nước phát triển lại sở hữu cơ sở hạ tầng tốt hơn, lực lượng lao động có chuyên môn cao và thị trường tiêu thụ tiềm năng.

Thế giới đang chứng kiến sự “ hồi hương” của nhiều tập đoàn kinh tế lớn của

Trong bối cảnh chi phí lao động tại các "công xưởng thế giới" như Trung Quốc và Ấn Độ gia tăng liên tục, lương của người lao động ở hai quốc gia này đã tăng từ 10-20%, trong khi lương công nhân ở Mỹ và Châu Âu chỉ tăng không đáng kể Điều này đã dẫn đến việc các nhà đầu tư quốc tế xem xét quay lại đầu tư tại Mỹ và Châu Âu như một chiến lược thông minh trong trung và ngắn hạn Đồng thời, các nhà đầu tư từ các nền kinh tế mới nổi cũng đang đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài để khai thác các thị trường mới Đặc biệt, sự giảm giá liên tục của dầu thô đã khiến các nhà đầu tư trong lĩnh vực năng lượng phải xem xét lại hiệu quả của các dự án khai thác dầu.

Những động thái gần đây của các nhà đầu tư quốc tế cho thấy sự thay đổi trong phân công lao động toàn cầu và tình hình kinh tế khu vực, ảnh hưởng mạnh mẽ đến dòng vốn FDI Điều này đã tạo ra xu hướng mới trong hợp tác đầu tư toàn cầu trong năm 2015 và những năm tiếp theo.

UNCTAD dự báo rằng dòng vốn FDI toàn cầu sẽ tiếp tục tăng, đạt 1.700 tỷ USD vào năm 2015 và 1.800 tỷ USD vào năm 2016 Các nước phát triển sẽ nhận phần lớn dòng vốn này, trong khi các thị trường mới nổi và đang phát triển có thể chứng kiến sự sụt giảm do phục hồi kinh tế chậm và mất dần lợi thế về chi phí nhân công và sản xuất.

III.1.2Xu hướng ở Việt Nam Ở Việt Nam, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Đầu tư nước ngoài hiện đang là khu vực phát triển mạnh nhất trong cac khu vực kinh tế với tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn tốc độ tăng GDP cao hơn tốc độ tăng GDP của toàn nền kinh tế Việt Nam luôn coi trọng nguồn vốn FDI, coi đây như nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành nhiều giải pháp nhằm thu hút, quản lý và nâng cao hiệu quả nguồn vốn FDI Chính phủ đã đưa ra mục tiêu, định hướng thu hút, quản lý nguồn vốn FDI cho cả giai đoạn 2011 - 2020 Theo đó, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả nguồn vốn FDI sao cho phù hợp định hướng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020 theo hướng khuyến khích các ngành kinh tế có vốn FDI phát triển theo quy hoạch; ưu tiên thu hút các dự án có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường; sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai; tập trung thu hút vào các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp Nhiều chuyên gia cho rằng, dòng vốn đầu tư nước ngoài giữ nhịp tăng trưởng cũng thể hiện sự ổn định đầu tư vào Việt Nam ngay bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội trong khu vực, thế giới còn khó khăn, và dường như các nhà đầu tư đã có niềm tin hơn với môi trường kinh doanh tại Việt Nam

Việt Nam cần xem thu hút FDI là động lực quan trọng cho phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện các chính sách liên quan Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài nhấn mạnh rằng, cần chú trọng đến chất lượng FDI hơn là số lượng, vì hiện có nhiều doanh nghiệp nhỏ được cấp phép mà không đảm bảo tiêu chí chất lượng Việc thiếu quy định minh bạch về điều kiện thành lập doanh nghiệp FDI có thể dẫn đến những hệ lụy không lường trước Hiện tại, khoảng 15.000 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang gặp khó khăn do chất lượng đội ngũ công chức chưa đáp ứng yêu cầu Chính phủ cần cải cách thể chế và chú trọng nâng cao chất lượng bộ máy công chức để giảm thiểu phiền hà cho doanh nghiệp.

Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tập trung thu hút FDI vào các ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và nông lâm ngư, đồng thời ưu tiên các hoạt động sản xuất có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu Đối với các dự án khai thác tài nguyên, chỉ cấp phép cho những dự án chế biến sâu với công nghệ hiện đại và phương án xử lý môi trường hiệu quả, hạn chế các dự án thâm dụng lao động không yêu cầu công nghệ cao Việc thu hút FDI vào ngành công nghiệp hỗ trợ và các dịch vụ có giá trị gia tăng cũng được coi trọng Đồng thời, cần chăm sóc và cải thiện hình ảnh cho các nhà đầu tư hiện hữu tại Việt Nam, tạo kênh quảng bá quan trọng đến cộng đồng đầu tư nước ngoài Để phát huy nguồn lực từ đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần đơn giản hóa thủ tục đầu tư và hải quan, đảm bảo quy trình nhanh gọn và đồng bộ từ trung ương đến địa phương, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã khẳng định rằng Việt Nam đang nỗ lực hết mình để tạo môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn.

Từ giữa tháng 6/2015, khi môi trường kinh doanh tại Trung Quốc trở nên khó khăn, nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã chọn rút lui khỏi thị trường này, dẫn đến làn sóng dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang Việt Nam một lần nữa được nhắc đến.

Một số kiến nghị

Để nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề chuyển giá, cần nghiên cứu và áp dụng các giải pháp phù hợp dựa trên phân tích thực trạng và xu hướng của các công ty đa quốc gia Dưới đây là một số giải pháp kiến nghị.

III.2.1Giải pháp của chính phủ:

III.2.1.1 Hoàn thiện hàng lang pháp lý về vấn đề chuyển giá:

Hàng lang pháp lý về chống chuyển giá cần được hoàn thiện để đảm bảo hiệu quả trong công tác này Việc hoàn thiện các quy định cụ thể liên quan đến chống chuyển giá là giải pháp cần thiết nhằm tăng cường tính minh bạch và công bằng trong hoạt động kinh doanh.

Cần bổ sung điều luật về chống chuyển giá vào Luật Quản lý thuế và trong tương lai nên ban hành Luật Chống chuyển giá, vì đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động này Luật không chỉ ảnh hưởng đến quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp mà còn liên quan đến thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế tài nguyên Hơn nữa, cần có quy định pháp lý cụ thể về các khoản chi từ ngân sách nhà nước cho các hoạt động kiểm tra, thanh tra và điều tra chống chuyển giá.

Luật nên quy định thời hạn thanh tra hoạt động chuyển giá dài hơn để phù hợp với tính chất phức tạp của nó Cần bổ sung quyền điều tra cho cơ quan thuế nhằm đảm bảo thu thập thông tin hiệu quả đối với các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về chuyển giá Ngoài ra, việc quy định ngưỡng kê khai thông tin giao dịch liên kết sẽ giúp đơn giản hóa quy trình kê khai cho doanh nghiệp và giảm áp lực cho cơ quan thuế Cuối cùng, cần xây dựng chế tài xử phạt mạnh mẽ để răn đe các hành vi vi phạm, bảo vệ lợi ích quốc gia và tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho doanh nghiệp chân chính.

Khi phát hiện hiện tượng chuyển giá, cơ quan thuế có thẩm quyền có thể áp dụng các hình phạt thuế đối với doanh nghiệp vi phạm Mặc dù Việt Nam chưa có mức phạt cụ thể, nhưng có thể tham khảo một số hình phạt đã được áp dụng thành công ở các quốc gia khác.

Tại Úc, nếu công ty sử dụng giá chuyển nhượng để giảm thiểu số thuế phải nộp, mức phạt sẽ là 50% số thuế tránh được Trong trường hợp công ty áp dụng giá chuyển nhượng cho các mục đích khác, mức phạt sẽ giảm xuống còn 25% số thuế tránh được.

Trung Quốc áp dụng biện pháp nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài kê khai giảm thu nhập, với mức phạt lên tới 3 lần số thuế trốn, và có thể lên đến 5 lần trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng Thời hiệu truy thu thuế thông thường là 3 năm, nhưng có thể kéo dài từ 5 đến 10 năm đối với các trường hợp trốn thuế lớn gây hậu quả nghiêm trọng Ngoài ra, lãi suất sẽ được tính trên số thuế nợ.

0,05%/ngày (tương đương với20%/năm).

Tại Ấn Độ, cơ quan thuế địa phương có quyền áp dụng mức phạt lên đến 300% đối với sự chênh lệch giữa số thuế mà công ty khai báo và số thuế được tính lại Các công ty có trách nhiệm tính toán trước thu nhập chịu thuế hàng năm và phải nộp thuế đúng hạn Nếu không hoàn thành nghĩa vụ này, khoản thuế chậm nộp sẽ bị tính lãi suất 18% mỗi năm.

Tại Philippines, các công ty không tuân thủ nghĩa vụ thuế sẽ phải chịu phạt từ 25% đến 50% so với số thuế chênh lệch Hơn nữa, số thuế chênh lệch này sẽ được xem như khoản chậm nộp và phải chịu lãi suất lên đến 20% mỗi năm.

III.2.1.2 Hoàn thiện hệ thống thông tin, dữ liệu về người nộp thuế

Để hoàn thiện thông tin và dữ liệu về các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập, cần mở rộng nguồn thu thập thông tin thông qua các hoạt động nghiệp vụ của cơ quan thuế, đặc biệt là bộ phận tình báo thuế Đồng thời, cần đẩy nhanh tiến trình xây dựng chính phủ điện tử để đảm bảo kết nối và trao đổi thông tin tự động giữa cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước khác như công an, kiểm sát, địa chính, kế hoạch – đầu tư Để đối phó với hiện tượng chuyển giá ngày càng tinh vi, ngành Thuế cần phát triển nguồn nhân lực có năng lực chuyên môn, ngoại ngữ và tin học, đồng thời tăng cường đào tạo kỹ năng quản lý giá chuyển nhượng Cần tổ chức các hội nghị, hội thảo để trao đổi kinh nghiệm và khảo sát các quốc gia thành công trong quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá, đồng thời không thực hiện luân chuyển công chức chuyên trách quản lý thuế sang công tác khác.

Hệ thống thông tin dữ liệu về người nộp thuế cần được nâng cấp bằng cách bổ sung thông tin bổ trợ quan trọng và phát triển ứng dụng khai thác để phục vụ phân tích rủi ro và thanh tra giá chuyển nhượng Cơ quan thuế nên phối hợp với các cơ quan liên quan để xây dựng cơ sở dữ liệu chung, giúp doanh nghiệp dễ dàng truy cập và thu thập thông tin phục vụ cho việc xác định giá chuyển nhượng Đồng thời, trong khuôn khổ các quy định pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng, cần nghiên cứu xây dựng các mẫu phiếu khảo sát để yêu cầu doanh nghiệp báo cáo nhanh về các đối tác nước ngoài mà họ có giao dịch Những thông tin này sẽ được tập hợp vào dữ liệu nhằm hỗ trợ công tác quản lý và thanh tra trong những năm tới.

Cần khẩn trương rà soát các doanh nghiệp FDI và các tập đoàn kinh tế đa ngành dựa trên thông tin dữ liệu hiện có của ngành thuế Việc xác định các đầu mối doanh nghiệp liên kết là cần thiết để xây dựng kế hoạch và xác định phạm vi kiểm tra, thanh tra đồng bộ, tập trung vào nội dung chống chuyển giá.

III.2.1.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy: nghiên cứu giao quyền điều tra cho cơ quan thuế

Hiện tại, quyền điều tra chỉ được giao cho cơ quan thuế cấp Tổng cục, nhưng trong tương lai, khi công chức thuế được đào tạo đầy đủ, có thể mở rộng quyền này cho cơ quan thuế cấp tỉnh Việc này không chỉ nâng cao hiệu quả chống chuyển giá mà còn cải thiện quản lý thuế tổng thể Tổng cục Thuế đã thành lập Tổ Quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá và cần bố trí công chức có năng lực chuyên môn, ngoại ngữ và tin học vào tổ này Đối với các cục thuế lớn, nên thành lập Bộ phận chuyên trách quản lý thuế chuyển giá, trong khi các cục thuế còn lại có thể giao cho phòng thanh tra hoặc kiểm tra theo dõi Ngoài ra, việc thành lập bộ phận tình báo thuế tại Tổng cục Thuế sẽ hỗ trợ thu thập thông tin quản lý thuế trong nước và quốc tế, góp phần quan trọng cho công tác chống chuyển giá và thanh tra thuế.

III.2.1.4 Tăng cường kiểm soát hoạt động chuyển giá thông qua việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động của từng bộ phận chức năng quản lý:

Cần tập trung thanh tra và kiểm tra giá chuyển nhượng tại các tập đoàn có nhiều doanh nghiệp thành viên, đặc biệt trong các ngành nghề có nguy cơ cao về thuế do hành vi chuyển giá Đồng thời, cần chú trọng vào các doanh nghiệp đang thực hiện tái cơ cấu có khả năng lợi dụng chuyển giá để tránh thuế Song song với đó, việc phát triển quy trình và kỹ năng chuyên biệt cho nghiệp vụ thanh tra chuyển giá là rất quan trọng, cùng với việc xây dựng bộ tiêu chí phân tích và đánh giá rủi ro để lựa chọn các đối tượng thanh tra hiệu quả.

DN thanh tra giá chuyển nhượng để áp dụng chung thống nhất trên toàn quốc

Cần tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thuế và hải quan địa phương để thực hiện các biện pháp xử lý thuế đối với các trường hợp gian lận giá và chuyển giá Số thuế bị truy thu sẽ được tính dựa trên mức giá chênh lệch và thuế suất áp dụng, trong khi mức xử phạt sẽ tuân theo quy định của pháp luật về xử lý hành chính trong lĩnh vực thuế và hải quan.

Ngày đăng: 28/06/2021, 07:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê (2014), “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011”, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài giai đoạn 2006-2011”
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2014
2. Tổng cục Thống kê (2014) “Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoan 2000-2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục Thống kê (2014)" “Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoan 2000-2013
3. Tổng cục Thống kê (2014), “Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2000-2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2000-2013
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2014
4. Tổng cục Thống kê (2014), “Một số chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2000-2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2000-2013
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2014
6. TS. Phạm Hùng Tiến (2012), Bàn về chống chuyển giá trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 28 (2012) 36-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chống chuyển giá trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: TS. Phạm Hùng Tiến
Năm: 2012
7. Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên) (2013), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế
Tác giả: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên)
Năm: 2013
8. Đỗ Thiên Anh Tuấn (2014), Chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thiên Anh Tuấn
Năm: 2014
9. Wikipedia (2015), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” (22/05/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tác giả: Wikipedia
Năm: 2015
10. Lê Xuân Trường (2011), Chống chuyển giá ở Việt Nam: Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và các điều kiện thực hiện, Tạp chí Tài chính, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống chuyển giá ở Việt Nam: Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và các điều kiện thực hiện
Tác giả: Lê Xuân Trường
Năm: 2011
13. Tạp chí Tài chính (2015),“Metro, chuyển giá và bài học quản lí” (25/04/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Metro, chuyển giá và bài học quản lí”
Tác giả: Tạp chí Tài chính
Năm: 2015
5. Lý Hoàng Phủ, Luận án tiến sĩ kinh tế: Các yếu tố tác động tới đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và khuyến nghị cho Việt Khác
11. Tạp chí Tài chính (2015), Chọn lọc trong thu hút FDI (04/09/2015) 12. Tạp chí Tài chính (2015), Để hút dòng vốn FDI (23/09/2015) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Số lượng doanh nghiệp FDI phân theo vùng1 - TÀI CHÍNH TIỀN TỆĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM
Bảng 3 Số lượng doanh nghiệp FDI phân theo vùng1 (Trang 21)
Bảng 5: Thu nhập bình quân của người lao động (Đơn vị tính: triệu đồng/tháng) - TÀI CHÍNH TIỀN TỆĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM
Bảng 5 Thu nhập bình quân của người lao động (Đơn vị tính: triệu đồng/tháng) (Trang 22)
Bảng 6: Tỷ lệ số doanh nghiệp kinh doanh lãi hoặc lỗ năm 20111 - TÀI CHÍNH TIỀN TỆĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM
Bảng 6 Tỷ lệ số doanh nghiệp kinh doanh lãi hoặc lỗ năm 20111 (Trang 23)
Hình 2: Diễn biến doanh thu của Metro Việt Nam trong 12 năm gia nhập thị trường Việt Nam1 - TÀI CHÍNH TIỀN TỆĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM
Hình 2 Diễn biến doanh thu của Metro Việt Nam trong 12 năm gia nhập thị trường Việt Nam1 (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w