1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của khác biệt văn hóa đến sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường của công ty đa quốc gia tại việt nam

92 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 6,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, một nhánh lý thuyết khác của Brouthers & Brouthers 2001, cũng như Klein và ctg 1990 lại cho rằng mặc dù khoảng cách về văn hóa lớn sẽ phát sinh nhiều chi phí giao dịch tro

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

=======

PHẠM PHI ĐĂNG

ẢNH HƯỞNG CỦA KHÁC BIỆT VĂN HÓA

ĐẾN SỰ LỰA CHỌN PHƯƠNG THỨC GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

- -

PHẠM PHI ĐĂNG

ẢNH HƯỞNG CỦA KHÁC BIỆT VĂN HÓA

ĐẾN SỰ LỰA CHỌN PHƯƠNG THỨC GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

……… ……….……… ………

……….……….…… ………

……… ……….……… ………

……….……….…… ………

……… ……….……… ………

……….……….…… ………

……… ……….……… ………

……….……….…… ………

……… ……….……… ………

……….……….…… ………

……… ……….……… ………

……….……….…… ………

……… ……….……… ………

……….……….…… ………

……… ……….……… ………

……….……….…… ………

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 6 năm 2019

Người hướng dẫn khoa học

PGS TS Nguyễn Minh Hà

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Trên cơ sở nhận thức rõ vấn đề đạo đức trong nghiên cứu khoa học đã được học tập nên tôi đã chấp hành nghiêm túc tất cả các quy định, nguyên tắc, quy trình, chuẩn mực, trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi cam đoan rằng luận văn “Ảnh hưởng của khác biệt văn hóa đến sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường của Công ty đa quốc gia tại Việt Nam” là đề tài nghiên cứu khoa học của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này thì cả toàn phần hoặc những bộ phận, phần nhỏ, cũng như nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu, chưa từng được công bố hay sử dụng để nhận bằng cấp ở bất kỳ nơi nào khác

Trong luận văn này, không có bất kỳ sản phẩm hay nghiên cứu nào của người khác được sử dụng mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được sử dụng để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học và cơ sở đào tạo khác./

Phạm Phi Đăng

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Luận văn “Ảnh hưởng của khác biệt văn hóa đến sự lựa chọn phương

thức gia nhập thị trường của Công ty đa quốc gia tại Việt Nam” mang nhiều ý

nghĩa nhất đối với tôi

Để hoàn thành luận văn này, lời đầu tiên tôi xin trân trọng tri ân Thầy PGS.TS Nguyễn Minh Hà, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, giúp

đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian nghiên cứu, hoàn thành luận văn Cùng với đó, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn ủng hộ về tinh thần và vật chất cho tôi trong suốt chặn đường học, tạo mọi điều kiện để tôi có thể học hỏi và phát triển bản thân Đặc biệt, là vợ tôi, người luôn bên cạnh động viên tôi trong những lúc khó khăn, bế tắc nhất;

Tôi cũng xin được cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường Đại học

Mở thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp cho tôi môi trường học tập và rèn luyện tốt nhất, đặc biệt là các Thầy, cô Khoa đào tạo sau đại học đã tận tình giảng dạy cho tôi nhiều kiến thức môn học và cả kinh nghiệm thực tiễn trong suốt thời gian học;

Cuối cùng, Tôi xin cảm ơn Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cấp, các Sở, ngành

có liên quan ở tỉnh Bình Thuận: Cục Thống kê tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp hội doanh nghiệp cũng như Lãnh đạo của Sở Kế hoạch và Đầu tư và lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận đã quan tâm tạo điều kiện về số liệu, thời gian và kịp thời chia sẽ, động viên nên đã giúp tôi an tâm trong công tác, học tập và hoàn thành luận văn này./

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 6 năm 2019

Người thực hiện đề tài

Phạm Phi Đăng

Trang 8

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trong quá trình mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường quốc tế, sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường là một trong những chiến lược quan trọng của công ty đa quốc gia, vì nó sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của công ty trong tương lai; Và khoảng cách văn hóa giữa các quốc gia là một yếu tố then chốt để công

ty xem xét lựa chọn hình thức gia nhập thị trường Tuy nhiên cho tới nay, không có nhiều nghiên cứu xem xét về mối liên hệ giữa khoảng cách văn hóa và phương thức gia nhập thị trường của công ty đa quốc gia, đặc biệt là ở những thị trường đang phát triển

Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu tác động của khoảng cách văn hóa đến phương thức gia nhập thị trường của 5.236 doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam trong giai đoại 2005 - 2016

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về văn hóa giữa Việt Nam và quốc gia đầu tư càng lớn, khả năng công ty nước ngoài chọn hình thức 100% vốn nước ngoài so với liên doanh càng lớn Điều này được giải thích rằng khi khoảng cách văn hóa giữa quốc gia chủ nhà và quốc gia đi đầu tư trở nên lớn hơn thì các cam kết đầu tư ở nước sở tại trở nên rủi ro hơn, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài cho phép doanh nghiệp FDI hoạt động độc lập để tránh khỏi các hành vi lợi dụng của đối tác và giảm thiểu rủi ro của hoạt động liên doanh Kết quả nghiên cứu còn tìm thấy tiềm năng thị trường, định hướng dự án, ngành công nghiệp có tác động tích cực tới việc lựa chọn hình thức 100% vốn nước ngoài Đồng thời, qui mô dự án lớn, doanh nghiệp FDI sẽ có xu hướng lựa chọn hình thức liên doanh để chia sẻ rủi ro với đối tác trong nước

Nghiên cứu này đóng góp vào các công trình nghiên cứu về việc lựa chọn phương thức gia nhập thị trường của công ty đa quốc gia, trong bối cảnh của nền kinh tế chuyển đổi - trong trường hợp này là Việt Nam Nghiên cứu đồng thời cũng đưa ra các gợi ý chính sách liên quan đến phương thức gia nhập thị trường của công

ty đa quốc gia, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Trang 9

ABSTRACT

In the process of expanding the business to the international market, the choice of market entry mode is one of the important strategies of multinational companies, because it will affect the existence and future development of the company Cultural distance between countries is a key factor for the company to consider choosing the form of market entry mode However, so far, there have not been many studies looking at the relationship between the cultural distance and the entry mode of multinational companies, especially in developing markets The objective of this study is to explore the impact of cultural distance on market entry mode of 5,236 FDI enterprises who are investing in Vietnam during the 2005 - 2016 periods

The results of the study show that the greater the cultural difference between Vietnam and the investment country, the greater the possibility that foreign companies choose the form of 100% foreign capital compared to the joint venture The study also finds that the market potential, project orientation, and industry have

a positive impact on the selection of 100% foreign capital

This study contributes to empirical works on the choice of multinational companies to enter the market, in the context of the transition economy - in this case Vietnam The study also provides policy implications for multinational companies' market entry methods, contributing to the country's socio-economic development

Trang 10

MỤC LỤC

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iv

ABSTRACT v

DANH MỤC BẢNG, BIỂU viii

DANH MỤC HÌNH ix

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 4

1.7 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6

2.1 Một số định nghĩa 6

2.1.1 Định nghĩa FDI 6

2.1.2 Định nghĩa phương thức gia nhập thị trường 7

2.1.3 Định nghĩa khoảng cách văn hóa (cultural distances) 12

2.2 Lý thuyết lựa chọn phương thức gia nhập thị trường 16

2.2.1 Lợi thế OLI và phương thức gia nhập thị trường 17

2.2.2 Lý thuyết về các bước phát triển của đầu tư (Investment Development Path - IDP) 17

2.2.3 Lý thuyết khả năng thương lượng và phương thức gia nhập thị trường 19 2.2.4 Lý thuyết chi phí giao dịch và phương thức gia nhập thị trường 20

2.3 Khoảng cách văn hoá ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường 20

Trang 11

2.4 Các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương thức gia nhập thị

trường 23

2.4.1 Rủi ro quốc gia (Country risk) 22

2.4.2 Tiềm năng thị trường (Market potential) 23

2.4.3 Ngành nghề kinh doanh (Industry Sector) 23

2.4.4 Quy mô đầu tư (Investment amounts) 23

2.4.5 Thời hạn hoạt động (Duration) 24

2.4.6 Định hướng dự án (Project Orientation) 24

2.4.7 Năm đầu tư 25

2.5 Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan 25

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Quy trình nghiên cứu 30

3.2 Phương pháp nghiên cứu 31

3.3 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 32

3.4 Đo lường các biến 38

3.4.1 Biến phụ thuộc 38

3.4.2 Biến độc lập 38

3.5 Kỹ thuật hồi quy mô hình 42

3.6 Dữ liệu nghiên cứu 43

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45

4.1 Thống kê mô tả biến số trong mô hình nghiên cứu 45

4.2 Phân tích kết quả hồi quy 47

4.2.1 Biến về khoảng cách văn hoá 49

4.2.2 Các biến có ý nghĩa thống kê 48

4.2.3 Các biến không có ý nghĩa thống kê 52

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Kiến nghị 55

5.3 Hạn chế của nghiên cứu 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC 64

Trang 12

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 3.1 Đo lường các biến trong mô hình 40

Bảng 3.2 Số lượng mẫu dự án đăng ký phân theo năm 42

Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến số trong mô hình hồi quy 44

Bảng 4.2 Phân tích tương quan giữa các biến số 45

Bảng 4.3 Kết quả hồi quy các biến trong mô hình 46

Trang 13

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường 11

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 30

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu của đề tài 32

Hình 4.1 Số lượng dự án đăng ký phân theo ngành 44

Trang 14

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

EJV Liên doanh

FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

FII Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

FPI Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư

WOS Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương này chủ yếu trình bày các lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và kết cấu của luận văn

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến phương thức gia nhập thị trường, khoảng cách văn hóa giữa các quốc gia được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất (Kogut & Singh, 1988; Agarwal & Ramaswami, 1992; Brouther và ctg, 2002) Tuy nhiên, cách thức mà khoảng cách văn hóa ảnh hưởng đến phương thức gia nhập thị trường vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi giữa các học giả Lập luận của tác giả Kogut

& Singh (1988) cho rằng, khoảng cách văn hóa tác động tới nhận thức của nhà quản lý về chi phí và sự không chắc chắn Khoảng cách văn hóa càng lớn dẫn tới gia tăng chi phí quản lý Đối với hình thức liên doanh, việc kiểm soát và phối hợp có thể giao cho đối tác trong nước, vì thế sẽ giảm chi phí quản lý Do vậy, hình thức liên doanh thường được lựa chọn khi sự khác biệt văn hóa càng lớn Các nghiên cứu thực nghiệm của Kogut & Singh (1988); Erramilli & Rao (1993); Pak & Park (2004) đều mang đến bằng chứng rằng doanh nghiệp chọn hình thức liên doanh khi khoảng cách văn

Trang 16

hóa giữa nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư là lớn Tuy nhiên, một nhánh lý thuyết khác của Brouthers & Brouthers (2001), cũng như Klein và ctg (1990) lại cho rằng mặc dù khoảng cách về văn hóa lớn sẽ phát sinh nhiều chi phí giao dịch trong trường hợp đầu tư mới (100% vốn nước ngoài), tuy nhiên nếu sự phối hợp giữa nhà đầu tư và đối tác liên doanh diễn ra quá phức tạp, chi phí phát sinh còn cao hơn, chính

vì vậy phương thức đầu tư dưới hình thức 100% vốn nước ngoài thường được lựa chọn khi có sự khác biệt văn hóa lớn Thông qua việc kiểm soát doanh nghiệp của mình một cách trực tiếp, các công ty đa quốc gia có thể giảm được chi phí và sự không chắc chắn và giúp họ giảm các hành vi trục lợi của đối tác địa phương (Sutcliffe

& Zaheer, 1998) Các nghiên cứu thực nghiệm của Shane (1994); cũng như Chen &

Hu (2002) mang đến những bằng chứng ủng hộ giả thuyết rằng khi khoảng cách văn hóa giữa quốc gia đầu tư và quốc gia nhận đầu tư là lớn, hình thức đầu tư mới (100% vốn nước ngoài) được yêu thích hơn là liên doanh Cũng có một số nghiên cứu không tìm thấy mối liên hệ giữa khoảng cách văn hóa phương thức gia nhập thị trường (Erramilli, 1996; Vũ Mạnh Chiến & Phan Thanh Tú, 2012) Như vậy trong trường hợp khoảng cách văn hóa giữa Việt Nam và các nước đầu tư là lớn, đâu là hình thức gia nhập thị trường mà các công ty đa quốc gia lựa chọn? Đây là câu hỏi quan trọng

mà hầu như chưa có câu trả lời trong giai đoạn hiện nay Hiện nay, việc nghiên cứu

về FDI ở Việt Nam là nhiều, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về mối liên hệ giữa khoảng cách văn hóa và phương thức gia nhập thị trường theo gốc độ dữ liệu mới ở cấp vi mô và khía cạnh nghiên cứu mới, nên nghiên cứu này là mới và cần thiết hiện nay

Từ những lý do chính yếu nêu trên là cơ sở để đề xuất nghiên cứu đề tài “Ảnh

hưởng của khác biệt văn hóa đến sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường của công ty đa quốc gia tại Việt Nam”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu ảnh hưởng của khác biệt văn hóa (cultural distance) đến sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường của công ty đa

Trang 17

quốc gia tại Việt Nam Để làm sáng tỏ được mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu một số mục tiêu cụ thể sau đây

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để làm rõ các mục tiêu nghiên cứu trên, câu hỏi nghiên cứu cần trả lời, đó là:

(1) Các phương thức gia nhập thị trường chủ yếu của các công ty đa quốc gia trong thời gian qua là gì?

(2) Khi khoảng cách văn hóa giữa Việt Nam và nước đầu tư ngày càng tăng, hình thức gia nhập thị trường nào sẽ được các công ty đa quốc gia lựa chọn?

(3) Cần có những giải pháp chính sách nào liên quan đến phương thức gia nhập thị trường của công ty đa quốc gia?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Phương thức gia nhập thị trường của các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam từ giai đoạn 2005 – 2016

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Chỉ tập trung vào nghiên cứu các khía cạnh về phương thức

gia nhập thị trường và khoảng cách văn hóa của dự án FDI tại Việt Nam

Về không gian: Nghiên cứu về các doanh nghiệp FDI đầu tư vào các tỉnh,

thành phố trong lãnh thổ Việt Nam

Về thời gian: 12 năm, từ năm 2005 đến năm 2016

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được tiến hành thực hiện thông qua 02 bước: Nghiên cứu sơ

bộ và nghiên cứu chính thức

Trang 18

Quá trình nghiên cứu sơ bộ: Nghiên cứu định tính được thực hiện trong giai đoạn này nhằm giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thức gia nhập thị trường của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, cũng như tìm hiểu sơ bộ ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa tới phương thức gia nhập thị trường của doanh nghiệp, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài Quá trình nghiên cứu sơ bộ thực hành tiến hành khảo sát tại bàn và phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia liên quan trong lĩnh vực tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận và Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh, cũng như các chuyên gia liên quan đến đầu tư để có thể thiết kế các biến trong mô hình nghiên cứu phù hợp với bộ dữ liệu hiện có được lưu trữ tại Việt Nam

Sau khi có đầy đủ các thông tin, tiến hành nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng với việc phân tích hồi quy Logit và Probit Các dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Stata

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu có những đóng góp nhất định sau đây:

Thứ nhất, do số liệu về doanh nghiệp FDI ở cấp độ từng dự án là rất khó để

thu thập, nên hiện nay ở Việt Nam không có nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa khoảng cách văn hóa và phương thức gia nhập thị trường của doanh nghiệp FDI, luận văn này là một trong số ít các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam sử dụng cả mô hình logit và probit nhị phân để nghiên cứu

Thứ hai, để tính biến khoảng cách văn hóa giữa Việt Nam và các nước đầu tư

(đây là biến quan trọng nhất của mô hình), tác giả sử dụng số liệu 6 khía cạnh văn hóa của Hofstede (1980) và dựa trên phương pháp tính của Kogut và Singh (1988) để tính toán Hầu như các nghiên cứu trước đây về phương thức gia nhập thị trường ở Việt Nam chưa tính toán chỉ số khoảng cách văn hóa này

Thứ ba, đề tài là sự kết hợp giữa hàn lâm và thực nghiệm, được kiểm định về

độ tin cậy và góp phần bổ sung và phát triển phương pháp luận cho các nghiên cứu sau về khoảng cách văn hóa cũng như đề xuất các giải pháp mang tính thực tiễn

Trang 19

Thứ tư, kết quả nghiên cứu giúp các nhà hoạch định chính sách, các doanh

nghiệp FDI có một nguồn tham khảo cho các hướng tiếp cận có hiệu quả liên quan đến vấn đề gia nhập thị trường

Thứ năm, đề tài góp phần bổ sung vào cơ sở lý thuyết về mối liên hệ của

khoảng cách văn hóa và hình thức đầu tư ở một quốc gia đang chuyển đổi, cụ thể là

Việt Nam; vì hình thức đầu tư ở quốc gia đang chuyển đổi có thể khác với quốc gia phát triển do sự khác biệt về thể chế

1.7 Kết cấu luận văn

Ngoài mục lục, tài liệu tham khảo, các bảng biểu, danh mục viết tắt, kết cấu luận văn này được trình bày bao gồm 5 chương với bố cục như sau:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu bao gồm những nội dung như

lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu và những ý nghĩa thực tế của nghiên cứu

Chương 2: Cung cấp những kiến thức nền tảng cho nghiên cứu Trong chương

này sẽ trình bày sơ lược các cơ sở lý thuyết về phương thức gia nhập thị trường, khoảng cách văn hóa, mối liên hệ giữa khoảng cách văn hóa và phương thức gia nhập thị trường, cũng như trình bày các nghiên cứu thực nghiệm liên quan làm cơ sở xây dựng giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với đề tài

Chương 3: Chương này sẽ đưa ra các giả thuyết và xây dựng mô hình chi tiết

dựa trên cơ sở lý thuyết của chương 2 Ngoài ra, phương thức chọn mẫu, cách thức chọn biến, cũng như phương pháp đo lường các biến cũng sẽ được trình bày chi tiết trong chương này

Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu bao gồm việc phân tích dữ liệu và

trình bày kết quả

Chương 5: Kết luận và kiến nghị Nội dung chính của chương này bao gồm

tóm tắt kết quả nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn cũng như những đóng góp quan trọng của đề tài, từ đó đề xuất một số giải pháp để áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong nghiên cứu đề xuất cho những nghiên cứu tiếp theo

Trang 20

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Chương này tập trung trình bày bốn nội dung chính

Thứ nhất, trình bày các định nghĩa liên quan tới đề tài như đầu tư trực tiếp

nước ngoài (FDI), phương thức gia nhập thị trường, khoảng cách văn hóa;

Thứ hai, trình bày các lý thuyết liên quan đến lựa chọn phương thức gia nhập

thị trường;

Thứ ba, trình bày mối liên hệ giữa khoảng cách văn hóa và phương thức gia

nhập thị trường;

Cuối cùng là tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm trước và những bài học

được rút ra từ những nghiên cứu này để làm cơ sở thực hiện đề tài

2.1 Một số định nghĩa

2.1.1 Định nghĩa FDI

FDI là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Foreign Direct Investment” và được dịch sang tiếng Việt là đầu tư trực tiếp nước ngoài Có nhiều khái niệm về FDI như sau:

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1993) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là

hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO, 1996)1 đưa ra định nghĩa như sau về

FDI “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước

chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công

cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu

1 Thông tin tham khảo từ https://www.wto.org/English/news_e/pres96_e/pr057_e.htm

Trang 21

tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay

"chi nhánh công ty" ”

Tại Việt Nam, đầu tư nước ngoài đã được đề cập trong các văn bản pháp luật

về đầu tư và đã được sửa đổi một số lần (Điều lệ đầu tư nước ngoài ban hành kèm theo Nghị định số 115/1997/NĐ-CP của Chính phủ; Luật đầu tư nước ngoài năm

1987, năm 1996, năm 2000) Theo Luật đầu tư năm 2005, có quy định “Đầu tư trực

tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư tự bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” (Điều 3, khoản 2) và “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu

tư tại Việt Nam” (Điều 3, khoản 12) Từ hai khái niệm trên có thể hiểu FDI theo tinh

thần của Luật Đầu tư 2005 là “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ

vốn và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này

và các quy định khác của pháp luật có liên quan”

2.1.2 Định nghĩa phương thức gia nhập thị trường

Shen và ctg (2017, tr 2) định nghĩa phương thức gia nhập thị trường là “một

thỏa thuận về cấu trúc cho phép một công ty thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình ở thị trường nước ngoài với các nguồn lực và chiến lược thị trường của họ”

Tương tự, Sharma và Erramilli (2004) định nghĩa về phương thức gia nhập thị

trường của công ty đa quốc gia là “một sự đồng ý về cấu trúc doanh nghiệp (thành

lập mới hoàn toàn hay mua bán sáp nhập M&A) giữa đơn vị nhận đầu tư và công ty

đa quốc gia, mà ở đó cho phép một công ty (mới) thực hiện những chiến lược sản phẩm, những hoạt động bán hàng, quảng bá tại thị trường nước nhận đầu tư với các doanh nghiệp trong nước hoặc các doanh nghiệp nước ngoài tại nước nhận đầu tư”

Việc lựa chọn phương thức gia nhập thị trường có vai trò quan trọng và có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai (Porter, 1987) Trong hai thập kỷ vừa qua, các nhà nghiên cứu đã xác định một số phương thức gia nhập thị trường khác nhau, các phương thức này chủ yếu phân thành 02 nhóm: Nhóm không có vốn chủ sở hữu (non-equity mode) và nhóm có vốn chủ sở hữu (equity mode) Nhóm phương thức gia nhập thị trường không có vốn chủ sở hữu như: xuất

Trang 22

khẩu (exporting), hợp đồng cấp phép (licensing/contractual agreement), hợp đồng nghiên cứu phát triển (R&D contracts), nhượng quyền (franchising), liên minh chiến lược (strategic alliance) Nhóm phương thức gia nhập thị trường có vốn chủ sở hữu như: Liên doanh (joint venture) và 100% vốn nước ngoài (wholly owned subsidiary) (Root, 1994) Mỗi phương thức gia nhập thị trường này mức độ kiểm soát, cam kết tài nguyên và phổ biến rủi ro khác nhau (Hill và ctg, 1990)

2.1.2.1 Nhóm không có vốn chủ sở hữu

a) Xuất khẩu (Exporting)

Xuất khẩu là hình thức truyền thống khi doanh nghiệp tiến hành hoạt động ở thị trường nước ngoài Hình thức xuất khẩu bao gồm xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp Phương thức xuất khẩu trực tiếp liên quan đến việc lựa chọn một đại lý hoặc nhà phân phối, hoặc thành lập chi nhánh hoặc công ty con để đại diện cho công

ty ở thị trường nước ngoài Phương thức xuất khẩu gián tiếp là việc tạo lập các thỏa thuận mà theo đó doanh nghiệp ủy quyền theo các mức độ khác nhau để bán hàng cho nước ngoài và giao phó trách nhiệm phân phối cho một bên thứ ba nào đó; Bên thứ ba này có thể là người mua độc lập để xuất khẩu ra thị trường nước ngoài hoặc công ty quản lý xuất khẩu (Cateora và Graham, 2002)

b) Hợp đồng cấp phép hoặc hợp đồng thỏa thuận (Licensing/Contractual Agreement)

Hợp đồng cấp phép/hợp đồng thỏa thuận là một sự sắp xếp theo đó người cấp phép cấp quyền sử dụng đối với tài sản vô hình cho một pháp nhân khác (người được cấp phép) trong một khoảng thời gian cụ thể, và người cấp phép sẽ nhận được phí bản quyền từ người được cấp phép Tài sản vô hình bao gồm bằng phát minh, sáng chế, công thức sản xuất, quy trình sản xuất, thiết kế, bản quyền và nhãn hiệu Ưu điểm chính của việc cấp phép là công ty được cấp phép không phải chịu chi phí phát triển

và rủi ro liên quan đến hoạt động ở thị trường nước ngoài Nhưng việc cấp phép không cho phép công ty có một sự kiểm soát chặt chẽ về sản xuất, tiếp thị và chiến lược cần thiết để có được đường cong kinh nghiệm (experience curve) và lợi thế kinh

tế (location economies) (Czinkota và Ronkainen, 1996; Rajan và Pangarkar, 2000)

Trang 23

c) Hợp đồng nghiên cứu phát triển (R&D Contracts)

Các hợp đồng nghiên cứu phát triển (R&D Contracts) là những thỏa thuận tương tự hợp đồng cấp phép Hợp đồng này diễn ra khi một công ty chuyển nhượng cho một tổ chức nước ngoài quyền sử dụng tài sản cá nhân của mình (bằng sáng chế, kiến thức kỹ thuật hoặc thương hiệu) và những hợp đồng lắp ráp sản phẩm của công

ty bởi các nhà sản xuất được thành lập tại một thị trường nước ngoài, với doanh thu mục tiêu ở đó hoặc ở nơi khác, trong khi vẫn duy trì trách nhiệm tiếp thị và phân phối sản phẩm của mình Hợp đồng này có lợi thế liên quan đến yêu cầu đầu tư tiền mặt tối thiểu, thời gian và khả năng điều hành và cho phép công ty gia nhập nhanh chóng vào một thị trường mới (Cateora và Graham, 2002)

d) Liên minh chiến lược (Strategic Alliance)

Liên minh chiến lược là mối quan hệ chính thức lâu dài mang lại lợi ích được hình thành giữa hai hoặc nhiều bên để cùng theo đuổi một loạt các mục tiêu đã thỏa thuận hoặc để đáp ứng nhu cầu kinh doanh quan trọng trong khi vẫn duy trì các tổ chức độc lập Đây là một sự sắp xếp hiệp đồng, theo đó hai hoặc nhiều tổ chức đồng

ý hợp tác trong việc thực hiện một hoạt động kinh doanh, mang lại những thế mạnh

và khả năng cho tổ chức (Czinkota, 1996; Pan và ctg, 1997)

e) Nhượng quyền thương mại (Franchising)

Nhượng quyền thương mại về cơ bản là một hình thức cấp phép đặc biệt mà bên nhượng quyền không chỉ bán tài sản vô hình cho bên nhận nhượng quyền mà còn khẳng định rằng bên nhận nhượng quyền đồng ý tuân thủ các quy định nghiêm ngặt

về cách thức hoạt động kinh doanh Những lợi thế của nhượng quyền thương mại rất giống với việc cấp phép Cụ thể, công ty được nhượng quyền đã giảm được nhiều chi phí và rủi ro khi hoạt động ở thị trường nước ngoài (Cateora và Graham, 2002)

2.1.2.2 Nhóm có vốn chủ sở hữu

a) Liên doanh (Joint Ventures)

Hoạt động liên doanh đòi hỏi phải thành lập một công ty do hai hoặc nhiều công ty độc lập khác cùng sở hữu Công ty nước ngoài tiến hành liên doanh có thể hưởng lợi từ kiến thức của đối tác địa phương về điều kiện cạnh tranh, văn hóa, ngôn

Trang 24

ngữ, hệ thống chính trị và hệ thống kinh doanh của nước sở tại Nhưng công ty nước ngoài cũng gặp nhiều rủi ro liên quan đến việc chia sẻ công nghệ của mình cho đối tác liên doanh (Chung và Enderwick, 2001) Liên doanh có thể phân thành nhiều hình thức khác nhau, bao gồm hình thức liên doanh dựa trên vốn chủ sở hữu (equity based operations) (50% cổ phần của liên doanh) và liên doanh không dựa trên vốn chủ sở hữu (non-equity joint ventures) (liên doanh thiểu số và liên doanh đa số)

b) 100% vốn nước ngoài (Wholly Owned Subsidiary)

Công ty nước ngoài sở hữu 100% vốn cổ phần trong trường hợp này Việc đầu

tư 100% vốn nước ngoài có thể thực hiện theo 2 cách Một là, tiến hành đầu tư mới (Greenfield Investment) đây là việc các chủ đầu tư thực hiện đầu tư mới ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư các nước phát triển đầu tư vào nước đang phát triển Hai là, mua lại và sát nhập (Mergers and Accquistions) đây là hình thức khi các chủ đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có

ở nước ngoài Kênh này chủ yếu ở các nước phát triển NICs (các nước công nghiệp mới) Hình thức 100% vốn nước ngoài cho phép công ty kiểm soát chặt chẽ các hoạt động ở một quốc gia và điều này là cần thiết để tham gia vào sự phối hợp chiến lược toàn cầu của công ty Nhưng phương pháp 100% vốn nước ngoài thường là phương pháp tốn kém nhất khi mở rộng thị trường (Czinkota, 1996; Chung và Enderwick, 2001)

Dựa trên thảo luận về các phương thức gia nhập thị trường khác nhau, điều quan trọng cần lưu ý là sự khác biệt trong chiến lược gia nhập thị trường cũng có thể được giải thích một phần bởi nước xuất xứ đầu tư và việc lựa chọn thị trường nước ngoài tốt nhất để hoạt động sao cho phù hợp với nhu cầu và định hướng chiến lược của công ty (Papadopoulos, 1988) Trong bối cảnh này, Sanjeev và Sridhar (1998) đã xác định bốn thuộc tính chính cho các lựa chọn phương thức gia nhập thị trường

Thứ nhất, chế độ xuất khẩu là một hoạt động mà nguồn lực đầu tư ở mức thấp

và do đó rủi ro cũng như lợi nhuận là thấp

Trang 25

Thứ hai, hình thức 100% vốn là hình thức đầu tư lớn và do đó có rủi ro và lợi nhuận cũng lớn, hình thức này cũng cung cấp mức độ kiểm soát doanh nghiệp cao đối với doanh nghiệp đầu tư

Thứ ba, chế độ liên doanh liên quan đến đầu tư tương đối thấp hơn và do đó rủi ro, lợi nhuận và mức độ kiểm soát sẽ tương xứng với mức độ tham gia cổ phần của công ty đầu tư.

Cuối cùng, chế độ cấp phép là hình thức đầu tư thấp, rủi ro và lợi nhuận thấp,

và công ty cấp phép có sự kiểm soát ít

Hình 2.1 Sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường

Nguồn: Pan và Tse (2000)

Xuất khẩu

trực tiếp

Xuất khẩu

gián tiếp

Phương thức gia nhập thị trường

Cấp phép

Hợp đồng R&D

Liên minh chiến lược Nhượng quyền

Liên doanh

Liên doanh thiểu số

50% cổ phần

Liên doanh đa số

100% vốn nước ngoài Đầu tư mới

Mua bán sát nhập

Trang 26

2.1.3 Định nghĩa khoảng cách văn hóa (cultural distances)

Văn hóa là một khái niệm rất khó để định nghĩa

Định nghĩa về văn hóa của Hofstede (1980) là một trong những định nghĩa

được sử dụng rộng rãi “Văn hóa là các chương trình tập hợp trong tiềm thức con

người để điều khiển hoạt động nhận thức và lý giải, được hình thành từ cộng đồng, giúp cho chúng ta có thể phân biệt được thành viên của một nhóm này với nhóm khác”

Geert Hofstede (1980), nhà nhân chủng học nổi tiếng người Hà Lan, đã tiến hành một trong những nghiên cứu đầu tiên dựa trên quan sát thực nghiệm về các đặc điểm văn hoá quốc gia Trong quá trình tuyển dụng nhân viên cho IBM, ông đã có điều kiện thu thập dữ liệu về các giá trị đạo đức và các quan điểm từ 116.000 nhân viên của Tập đoàn IBM, những người có quốc tịch, tuổi tác và giới tính khác nhau Hofstede đã tiến hành hai cuộc khảo sát vào năm 1968 và 1972 Kết quả điều tra đã giúp ông đưa ra bốn khía cạnh (dimension) của văn hoá quốc gia Chúng ta sẽ nghiên cứu về phần này sau đây

a) Tính cá nhân/ tính tập thể (Individualism/collectivism)

Tính cá nhân và tính tập thể có nghĩa là văn hóa của quốc gia đó đánh giá một

cá thể theo cá nhân người đó hay theo việc anh ta thuộc nhóm người nào (ví dụ như thành phần gia đình, nghề nghiệp…) Trong các xã hội theo chủ nghĩa cá nhân, mối quan hệ giữa con người tương đối lỏng lẻo, mỗi người có xu hướng chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân mình Những xã hội này ưa thích tính cá nhân hơn sự đoàn kết tập thể (Smith, Peterson, Leung, 1998) Cạnh tranh là tiêu chuẩn và ai cạnh tranh tốt nhất sẽ giành được phần thưởng Australia, Canada, Anh và Hoa Kỳ là những đất nước theo chủ nghĩa cá nhân Ngược lại, trong các xã hội theo chủ nghĩa tập thể, mối quan hệ giữa các cá nhân đóng vai trò quan trọng hơn trong ý muốn cá nhân Hoạt động kinh doanh được tiến hành dựa trên cơ sở làm việc nhóm trong đó ý kiến tập thể luôn được coi trọng Tập thể là quan trọng hơn tất cả, vì cơ bản, cuộc sống là một mối quan hệ hợp tác Sự đoàn kết và đồng tình giúp giữ vững mối quan hệ hoà hợp trong tập thể Trung Quốc, Panama và Hàn Quốc là những ví dụ tiêu biểu cho một xã hội theo chủ nghĩa tập thể (Chen và ctg, 1998)

Trang 27

b) Khoảng cách quyền lực (Power distance)

Khoảng cách quyền lực là từ để miêu tả cách một xã hội ứng xử với sự bất bình đẳng về quyền lực giữa con người trong xã hội (Erramilli, 1996) Một xã hội có

sự chênh lệch về quyền lực lớn có nghĩa là mức độ bất bình đẳng tương đối cao và luôn tăng lên theo thời gian Tại các quốc gia này, có khoảng cách rất lớn giữa những người có quyền lực và những người thấp cổ bé họng Guatemala, Malaysia, Philippines và một vài nước Trung Đông là các quốc gia điển hình về khoảng cách quyền lực lớn Ngược lại, trong các xã hội với khoảng cách quyền lực thấp, sự chênh lệch giữa kẻ mạnh và kẻ yếu rất nhỏ Ví dụ, ở các nước như Đan Mạch và Thuỵ Điển, các chính phủ xây dựng hệ thống thuế và phúc lợi xã hội nhằm đảm bảo đất nước của

họ giữ được sự bình đẳng tương đối trong thu nhập và quyền lực Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng là đất nước có khoảng cách về quyền lực tương đối thấp

Sự phân cấp xã hội (social stratification) là yếu tố có ảnh hưởng đến khoảng cách quyền lực Ở Nhật, hầu hết tất cả mọi người thuộc tầng lớp trung lưu, trong khi đó ở Ấn Độ, đẳng cấp trên nắm hầu hết quyền kiểm soát đối với việc ra quyết định

và sức mua Trong các công ty, mức độ phân tầng quản lý và chuyên quyền trong lãnh đạo sẽ quyết định khoảng cách quyền lực Trong các doanh nghiệp, sự chênh lệch lớn về quyền lực cùng cách quản lý chuyên quyền làm cho quyền lực tâp trung vào các nhà lãnh đạo cấp cao và nhân viên không có quyền tự quyết Còn trong các công ty có chênh lệch về quyền lực thấp, những nhà quản lý và nhân viên của họ thường bình đẳng hơn, hợp tác với nhau nhiều hơn để đạt được mục tiêu của công ty (Usunier, 2005)

c) Mức độ e ngại rủi ro (Uncertainty Avoidance)

E ngại rủi ro thể hiện chừng mực mà con người có thể chấp nhận rủi ro và sự không chắc chắn trong cuộc sống của họ (Usunier, 2005) Trong xã hội có mức độ e ngại rủi ro cao, con người thường thiết lập nên các tổ chức để tối thiểu hoá rủi ro và đảm bảo an toàn tài chính Các công ty tập trung tạo ra việc làm ổn định và thiết lập các quy định để điều chỉnh các hoạt động của nhân viên cũng như tối thiểu hoá sự không minh bạch Các nhà lãnh đạo thường phải mất nhiều thời gian để ra quyết định

vì phải xem xét hết mọi khả năng xảy ra rủi ro Bỉ, Pháp và Nhật Bản là những nước

có mức độ e ngại rủi ro tương đối cao Những xã hội có mức độ e ngại rủi ro thấp

Trang 28

thường giúp các thành viên làm quen và chấp nhận sự không chắc chắn (Usunier, 2005) Các nhà quản lý rất nhanh nhạy và tương đối thoải mái khi chấp nhận rủi ro nên họ ra quyết định khá nhanh Con người chấp nhận cuộc sống mỗi ngày xảy đến

và làm việc bình thường vì họ không lo lắng về tương lai Họ có xu hướng dung hòa được các hành động và quan điểm khác biệt so với bản thân họ vì họ không cảm thấy

sợ sệt Ấn Độ, Ireland, Jamaica và Hoa Kỳ là những ví dụ tiêu biểu nhất cho các quốc gia có mức độ e ngại rủi ro thấp

d) Nam tính/nữ tính (Masculinity/Femininity)

Nam tính/ Nữ tính là khái niệm chỉ một định hướng của xã hội dựa trên giá trị của nam tính và nữ tính Các nền văn hoá nam tính có xu hướng coi trọng cạnh tranh,

sự quyết đoán, tham vọng, và sự tích luỹ của cải (Usunier, 2005) Xã hội được tạo nên bởi những người đàn ông và phụ nữ quyết đoán, chú trọng đến sự nghiệp, kiếm tiền và hầu như không quan tâm đến những thứ khác Có thể kể đến các ví dụ điển hình là Australia, Nhật Bản Hoa Kỳ cũng là một đất nước có nam tính tương đối cao Các nền văn hoá nói tiếng Tây Ban Nha cũng khá nam tính và thể hiện sự say mê lao động, sự táo bạo và cạnh tranh Trong kinh doanh, tính chất nam tính thể hiện ở sự thích hành động, tự tin, năng động Ngược lại, trong các nền văn hoá nữ tính, như ở các nước như Đan Mạch và Thuỵ Điển, cả Nam giới và Nữ giới đều chú trọng vào việc duy trì vai trò, sự phụ thuộc lẫn nhau và quan tâm đến những người kém may mắn hơn Hệ thống phúc lợi phát triển cao và nhà nước thường có chế độ trợ cấp cho giáo dục

e) Định hướng ngắn hạn và dài hạn (Long term/ Short term Orientation)

Bốn khía cạnh định hướng văn hoá mà Hofstede đề xuất phía trên đã và đang được chấp nhận rộng rãi Chúng là một công cụ giúp chúng ta hiểu được sự khác biệt

về văn hoá và là một cơ sở để phân loại văn hóa quốc gia Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng đã tìm ra những mối quan hệ giữa bốn định hướng văn hoá và địa lí, cho thấy rằng các nước có thể giống nhau (có sự tương đồng văn hoá) hoặc không giống nhau (có khoảng cách văn hoá) về một trong bốn định hướng đó

Tuy vậy, nghiên cứu của Hofstede vẫn có một số hạn chế Thứ nhất, như đã lưu ý, công trình nghiên cứu này dựa trên các dữ liệu thu thập được trong khoảng thời gian từ năm 1968 đến năm 1972 Từ đó đến nay nhiều thứ đã thay đổi, bao gồm tiến

Trang 29

trình toàn cầu hoá liên tiếp, sự phát triển của các phương tiện truyền thông xuyên quốc gia, tiến bộ công nghệ và vai trò của phụ nữ trong lực lượng lao động Công trình này đã không thể lý giải được sự hội tụ các giá trị văn hóa đã xuất hiện trong suốt vài thập kỉ qua Thứ hai, những phát hiện của Hofstede đều dựa trên ý kiến của những nhân viên của một công ty đơn lẻ – công ty IBM – trong một ngành công nghiệp đơn lẻ, do đó rất khó để khái quát hoá vấn đề Thứ ba, ông đã sử dụng bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu, phương pháp này không hiệu quả khi điều tra một số vấn

đề sâu xa xung quanh phương diện văn hoá Cuối cùng, Hofstede vẫn không nắm bắt được tất cả các khía cạnh tiềm ẩn của văn hoá (Barkema & Vermeulen, 1997)

Để phản ứng lại với phê phán này, Hofstede cuối cùng đã bổ sung khía cạnh thứ năm vào nghiên cứu của mình: định hướng dài hạn hoặc ngắn hạn Khía cạnh này thể hiện mức độ ở đó con người và các tổ chức trì hoãn sự thoả mãn để đạt được thành công trong dài hạn Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp và con người trong các nền văn hoá định hướng dài hạn có xu hướng nhìn về lâu dài khi lập kế hoạch và cuộc sống Họ chú trọng đến khoảng thời gian trong nhiều năm và nhiều thập kỷ Khía cạnh dài hạn được thể hiện rõ nhất trong các giá trị đạo đức của người châu Á - các định hướng văn hoá truyền thống của một số nước châu Á, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Singapore Một phần, những giá trị này dựa trên các học thuyết của triết gia nổi tiếng của Trung Quốc là Khổng Tử Ông sống vào khoảng năm 500 trước công nguyên Ngoài định hướng dài hạn, Khổng Tử cũng tán thành các giá trị văn hoá khác mà cho đến bây giờ các giá trị đó vẫn là nền tảng cho nhiều nền văn hoá của châu Á Những giá trị đó bao gồm tính kỷ luật, sự trung thành, sự siêng năng, quan tâm đến giáo dục, sự tôn trọng gia đình, chú trọng đoàn kết cộng đồng và kiểm soát ham muốn cá nhân Các học giả thường công nhận các giá trị này là điều làm nên sự

kì diệu của Á Đông, làm nên tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kể và quá trình hiện đại hoá của các nước Đông Á trong suốt vài thập kỉ qua Ngược lại, Hoa Kỳ và hầu hết các nước phương Tây đều chú trọng đến định hướng ngắn hạn

f) Tự thỏa mãn và tự kiềm chế (Indulgence/Restraint)

Năm 2010, Hofstede đưa ra khía cạnh thứ sáu để so sánh sự tự thỏa mãn (các nhu cầu bản thân) so với sự tự kiềm chế của con người Khái niệm này chính là thước

đo mức độ hạnh phúc, liệu có hay không sự tự thỏa mãn những niềm vui đơn giản

Trang 30

Tự thỏa mãn được định nghĩa như “sự cho phép của xã hội trong việc tự thỏa mãn

một cách tự do các nhu cầu cơ bản và tự nhiên của con người, ví dụ như hưởng thụ cuộc sống” (Hofstede, 2011) Trong khi khái niệm “tự kiềm chế” lại thể hiện “sự kiểm soát của xã hội, bởi những định kiến, chuẩn mực nghiêm ngặt, trong việc hưởng thụ của cá nhân” (Hofstede, 1991; Hofstede, 2011) Một xã hội cho phép hưởng thụ

thường tạo niềm tin cho cá nhân rằng chính họ, quản lý cuộc sống và cảm xúc của mình, trong khi đó xã hội đề cao tính kiềm chế tin rằng có những yếu tố khác, ngoài bản thân họ, điều khiển cuộc sống và cảm xúc của chính họ Lý thuyết của Hofstede

đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như làm mô hình cho nghiên cứu về tâm lý học đa sắc tộc, quản lý quốc tế, giao tiếp đa văn hóa và kinh tế học Bằng việc chấm điểm từng quốc gia (với thang điểm từ 1 đến 120), mô hình sáu khía cạnh văn hóa của Hofstede cho phép sự so sánh quốc tế giữa các nền văn hóa về khoảng cách văn hóa giữa các quốc gia Nghiên cứu này sẽ sử dụng chỉ số văn hóa của Hofstede để nghiên cứu liệu rằng sự khác biệt về văn hóa giữa Việt Nam và các nước đầu tư có ảnh hưởng đến phương thức gia nhập thị trường của họ không Tiếp theo, lý thuyết về khoảng cách văn hóa và sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường sẽ được trình bày

2.2 Lý thuyết lựa chọn phương thức gia nhập thị trường

Lựa chọn phương thức gia nhập thị trường là một quyết định quan trọng trong việc mở rộng kinh doanh ra thị trường quốc tế vì nó gắn liền với năng lực cốt lõi của công ty đa quốc gia, khả năng kiểm soát công ty con cũng như thích nghi với sự thay đổi trong môi trường kinh doanh để tồn tại và phát triển (Gomes-Casseres, 1990; Root, 1994) Bằng cách chọn lựa phương thức gia nhập thị trường phù hợp với khả năng nội bộ, mục tiêu chiến lược và môi trường kinh doanh, các công ty đa quốc gia cũng có thể ngăn chặn việc tiết lộ công nghệ sản xuất, giảm thiểu nguy cơ xảy ra giao dịch bất lợi trong quá đầu tư, và gia tăng lợi nhuận (Gatignon và Anderson, 1988)

Trong những năm gần đây, mô hình OLI của Dunning (Dunning’s OLI paradigm), lý thuyết về các bước phát triển đầu tư IDP, lý thuyết chi phí giao dịch (transaction cost theory), lý thuyết khả năng thương lượng (bargaining power theory),

đã nổi lên như là lý thuyết giải thích sự lựa chọn của phương thức gia nhập thị trường của công ty đa quốc gia trong quá trình mở rộng quốc tế

Trang 31

2.2.1 Lợi thế OLI và phương thức gia nhập thị trường

Theo Dunning một công ty dự định tham gia vào các hoạt động FDI cần có 3 lợi thế: (1) Lợi thế về sở hữu (Ownership advantages - viết tắt là lợi thế O - bao gồm lợi thế về tài sản, lợi thế về tối thiểu hoá chi phí giao dịch); (2) Lợi thế về khu vực (Locational advantages - viết tắt là lợi thế L - bao gồm: tài nguyên của đất nước, quy

mô và sự tăng trưởng của thị trường, sự phát triển của cơ sở hạ tầng, chính sách của Chính phủ) và (3) Lợi thế về nội hoá (Internalisation advantages - viết tắt là lợi thế I

- bao gồm: giảm chi phí ký kết, kiểm soát và thực hiện hợp đồng; tránh được sự thiếu thông tin dẫn đến chi phí cao cho các công ty; tránh được chi phí thực hiện các bản quyền phát minh, sáng chế)

Theo lý thuyết chiết trung thì cả 3 điều kiện kể trên đều phải được thoả mãn trước khi có FDI Lý thuyết cho rằng: những nhân tố “đẩy” bắt nguồn từ lợi thế O và

I, còn lợi thế L tạo ra nhân tố “kéo” đối với FDI Những lợi thế này không cố định

mà biến đổi theo thời gian, không gian và sự phát triển nên luồng vào FDI ở từng nước, từng khu vực, từng thời kỳ khác nhau Sự khác nhau này còn bắt nguồn từ việc các nước này đang ở bước nào của quá trình phát triển và được Dunning phát hiện vào năm 1979

Lý thuyết này được sử dụng trong đề tài nhằm xác định các lợi thế sở hữu của công ty, lợi thế địa điểm và lợi thế nội bộ khi doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam

2.2.2 Lý thuyết về các bước phát triển của đầu tư (Investment Development Path - IDP)

Mô hình OLI giải thích hiện tượng FDI theo trạng thái tĩnh, trong khi lý thuyết IDP lại xem xét hiện tượng FDI trong trạng thái động với sự thay đổi các lợi thế này trong từng bước phát triển Lý thuyết này cũng được phát triển bởi Dunning (1981)

Do vậy, lý thuyết này cùng với mô hình OLI là thích hợp nhất để giải thích hiện tượng FDI trên toàn thế giới, tất nhiên trong đó có Việt Nam

Theo lý thuyết này, quá trình phát triển của các nước được chia ra thành 5 giai đoạn (Dunning, 1981):

Trang 32

Giai đoạn 1: lợi thế L của một nước ít hấp dẫn, luồng vào FDI không đáng kể

do hạn chế của thị trường trong nước: thu nhập thấp, cơ sở hạ tầng lạc hậu, giáo dục yếu kém, lao động không có kỹ năng… và hiếm khi thấy luồng ra FDI

Giai đoạn 2: luồng vào của FDI bắt đầu tăng do lợi thế L đã hấp dẫn các nhà đầu tư: sức mua trong nước bắt đầu tăng, cơ sở hạ tầng đã được cải thiện … FDI trong bước này chủ yếu là đầu tư vào sản xuất để thay thế nhập khẩu và những ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc sản xuất ra nguyên vật liệu, sản phẩm sơ chế Luồng

ra của FDI trong giai đoạn này không đáng kể

Giai đoạn 3: luồng vào của FDI bắt đầu giảm và luồng ra lại bắt đầu tăng Khả năng kỹ thuật của nước sở tại đã tiến tới sản xuất sản phẩm được tiêu chuẩn hoá Mặt khác lợi thế về lao động giảm dần, nên phải chuyển đầu tư sang những nước có lợi thế tương đương đối về lao động nhằm tìm kiếm thị trường hoặc giành những tài sản chiến lược để bảo vệ lợi thế O Trong giai đoạn này, luồng vào của FDI tập trung vào những ngành thay thế nhập khẩu có hiệu quả

Giai đoạn 4: lợi thế O của các công ty trong nước tăng lên Những công nghệ

sử dụng nhiều lao động dần dần được thay thế bởi công nghệ sử dụng nhiều vốn Mặt khác chi phí vốn trở nên rẻ hơn chi phí lao động Kết quả là, lợi thế L của đất nước

sẽ chuyển sang các tài sản FDI từ các nước đang phát triển ở bước 4 sẽ vào nước này

để tìm kiếm những tài sản trên hoặc từ các nước kém phát triển hơn nhằm tìm kiếm thị trường và đặt quan hệ thương mại Trong bước này các công ty trong nước vẫn thích thực hiện FDI ra nước ngoài hơn là xuất khẩu sản phẩm, bởi vì họ có thể khai thác lợi thế I của mình Do vậy, luồng vào và luồng ra của FDI vẫn tăng, nhưng luồng

ra sẽ nhanh hơn

Giai đoạn 5: luồng ra và luồng vào của FDI tiếp tục và khối lượng tương tự nhau Luồng vào từ các nước có mức độ phát triển thấp hơn với mục đích tìm kiếm thị trường và kiến thức; hoặc từ các nước đang phát triển ở bước 4 và 5 để tìm kiếm sản xuất có hiệu quả Do vậy luồng ra và luồng vào là tương tự

Lý thuyết này cũng như lý thuyết OLI được sử dụng trong đề tài nhằm xác định các lợi thế sở hữu của công ty, lợi thế địa điểm và lợi thế nội bộ khi doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam

Trang 33

2.2.3 Lý thuyết khả năng thương lượng và phương thức gia nhập thị trường

Lý thuyết khả năng thương lượng cho rằng việc lựa chọn phương thức gia nhập thị trường của công ty đa quốc gia phụ thuộc vào khả năng thương lượng tương đối của công ty và của chính phủ (Boddewyn và Brewer, 1994) Việc tiếp cận thị trường nước ngoài thường được kiểm soát bởi luật pháp và chính phủ trong và ngoài nước,

vì vậy các quyết định gia nhập vào thị trường ban đầu của công ty đa quốc gia phải luôn tính đến các yếu tố liên quan đến luật pháp và chính trị (Gomes Casseres, 1990)

Vì thế, các tập đoàn đa quốc gia thường phải thương lượng với nhiều cơ quan chính phủ khác nhau để hoàn thành tất cả hoặc một số mục tiêu của họ (Boddewyn và Brewer, 1994) Do đó, sức mạnh thương lượng của công ty là một sự xem xét quan trọng khi đầu tư Lý thuyết khả năng thương lượng cho rằng các công ty đa quốc gia thường đàm phán với chính phủ nước ngoài về phương thức gia nhập thị trường mà mức độ kiểm soát cao (high-control mode of entry), ví dụ như 100% vốn nước ngoài

vì đây là những thỏa thuận hấp dẫn nhất về khả năng thống trị thị trường và bảo vệ công nghệ độc quyền Ngược lại, chính phủ của quốc gia tiếp nhận đầu tư thường thích các nhà đầu tư sử dụng phương thức gia nhập thị trường với mức độ kiểm soát thấp (low-control mode) khi thâm nhập vào quốc gia của họ vì các phương thức này giúp chuyển giao công nghệ và bí quyết cho các công ty địa phương và cho phép chia sẻ lợi nhuận của các dự án FDI thành công cho các công ty địa phương (Gomes Casseres, 1990)

Các công ty đa quốc gia sẽ có khả năng thương lượng về phương thức gia nhập thị trường với mức độ kiểm soát cao khi: (1) Chính phủ nước chủ nhà mong muốn thu hút FDI mạnh mẽ; (2) Công ty đa quốc gia nhận thấy nhu cầu thâm nhập thị trường nước ngoài của họ thấp; (3) Mức độ cạnh tranh giữa các công ty cho các cơ hội đầu tư ưu tiên ở nước sở tại thấp; (4) Hạn chế của chính phủ chủ nhà đối với FDI

là rất ít; (5) MNE có rất ít nhu cầu về tài nguyên địa phương; (6) Cam kết nguồn lực của MNE thấp và (7) Rủi ro (chính trị và kinh tế) là cao (Luo, 2001)

Lý thuyết này là cơ sở để đưa các biến như rủi ro kinh tế và chính trị vào mô hình

Trang 34

2.2.4 Lý thuyết chi phí giao dịch và phương thức gia nhập thị trường

Lý thuyết chi phí giao dịch cho thấy rằng cấu trúc quản trị mà các công ty đa quốc gia lựa chọn được thúc đẩy bởi mong muốn giảm thiểu chi phí giao dịch (Anderson và Gatignon, 1986; Hennart, 1989; Williamson, 1985) Chi phí giao dịch liên quan tới việc giao dịch với những đối tác khác nhau, đó là các chi phí soạn thảo

và đàm phán hợp đồng và chi phí giám sát hành vi của những bên tham gia vào hợp đồng Nếu chi phí giao dịch là thấp, các công ty sẽ thích lựa chọn hình thức liên doanh Tuy nhiên, nếu chi phí đàm phán, giám sát hoạt động của đối tác cũng như chi phí chống lại hành vi cơ hội của đối tác là cao, công ty sẽ thích cấu trúc quản trị nội

bộ hơn, ví dụ như hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài

Theo lý thuyết chi phí giao dịch, phương thức gia nhập thị trường với mức độ kiểm soát thấp (low-control entry mode) có khả năng được chọn nếu chi phí giao dịch thấp (Hill và cộng sự, 1990; Madhok, 1997) Nếu chi phí giao dịch cao, công ty đa quốc gia có thể chọn chế độ kiểm soát cao (high-control mode) Đặc biệt, chế độ kiểm soát cao có thể được chọn nếu: (1) Công ty đa quốc gia không chắc chắn về nhu cầu đối với sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ cung cấp cho thị trường nước ngoài; (2) Tiềm năng tăng trưởng của thị trường nước ngoài là lớn; (3) Khoảng cách văn hóa giữa nước nhận đầu tư và nước đầu tư là lớn; (4) Tính đặc thù của các tài sản mà công ty

đa quốc gia đầu tư ở thị trường nước ngoài là cao và (5) Nhu cầu đóng góp của địa phương như vốn bản địa, công nghệ và nhân lực có tay nghề là thấp (Luo, 2001)

Lý thuyết này đã được ứng dụng trong đề tài như sau: Lý thuyết đã chỉ ra doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương thức gia nhập thị trường với mức độ kiểm soát thấp (như hình thức liên doanh) khi khoảng cách văn hoá giữa nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư lớn Đây là cơ sở để tác giả đưa biến khoảng cách văn hoá vào mô hình

2.3 Khoảng cách văn hoá ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường

Theo Shenkar (2001), các nghiên cứu về khoảng cách văn hóa và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI thường liên quan tới 3 lĩnh vực, đó là (1) Nghiên cứu về sự lựa chọn thị trường nước ngoài để đầu tư và kết quả của hoạt động đầu tư; (2) Nghiên cứu về phương thức gia nhập thị trường; (3) Nghiên cứu về hoạt động của các công

Trang 35

ty con ở nước ngoài (foreign subsidiaries) hoặc liên doanh (joint ventures) Trong luận văn này chỉ tập trung vào nghiên cứu về mối liên hệ giữa khác biệt văn hóa và hình thức gia nhập thị trường, bởi vì nhánh nghiên cứu này hầu như chưa được nghiên cứu ở Việt Nam

Các khía cạnh văn hoá tạo điều kiện để hình thành các chiến lược gia nhập thị trường của công ty đa quốc gia (Peng và ctg, 2009) Đồng thời, các khía cạnh văn hoá cũng liên quan đến chi phí quản lý cao hơn cho các công ty đa quốc gia hoạt động ở nước ngoài Các nhà quản lý từ nước đi đầu tư trải nghiệm sự khác biệt về văn hóa từ các nhân viên trong các công ty con của họ ở nước ngoài Theo nghĩa này, khi khoảng cách văn hoá giữa nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư tăng lên, công ty đa quốc gia ít có khả năng chọn hình thức liên doanh vì các nguyên nhân sau Thứ nhất, để có được tính hợp pháp để gia nhập vào một tổ chức ở nước ngoài là trách nhiệm rất quan trọng của các MNE Để hiểu được các giá trị, chuẩn mực và nhận thức của nước sở tại đòi hỏi phải có sự tiếp xúc xuyên văn hóa lâu dài Vì vậy, đòi hỏi các nhà quản lý cần có được kiến thức sâu rộng về văn hóa của những nước khác (Boyacigiller và ctg, 2014) Không giống hình thức đầu tư mới, hình thức liên doanh có thể được xem là

dễ dàng hơn cho MNE khi họ có thể tiếp xúc với doanh nghiệp trong nước dễ dàng Khi đó, họ có khả năng có được kiến thức về các tổ chức địa phương, giúp việc gia nhập thị trường của MNE dễ dàng hơn Ngược lại, hình thức thành lập doanh nghiệp mới sẽ có ít kiến thức văn hóa hơn khi giao tiếp với các đồng nghiệp địa phương, do đó, ngăn cản các nỗ lực của MNE trong việc đạt được tính hợp pháp để gia nhập thị trường (Meyer, 2001) Dựa trên điều này, chúng ta có thể suy luận rằng khi khoảng cách văn hoá là cao, sự tương tác với các tác nhân địa phương sẽ đặc biệt quan trọng

vì nó tăng cường tầm quan trọng của việc tạo liên kết với các đối tác địa phương để đạt được tính hợp pháp của địa phương (Meyer, 2001)

Ở nghiên cứu khác Shenkar (2001) lập luận rằng, khoảng cách văn hóa có mối tương quan âm với sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường Khi khoảng cách văn hóa giữa quốc gia đầu tư và quốc gia nhận đầu tư càng lớn, các công ty đa quốc gia sẽ không có đủ kiến thức để hoạt động độc lập, và họ sẽ dựa vào kiến thức của các đối tác kinh doanh trong nước (local partner), và họ thường sẽ chọn phương thức gia nhập thị trường mà họ có quyền kiểm soát thấp (low-control entry mode) như hợp

Trang 36

đồng hợp tác kinh doanh (business cooperation contract) hoặc liên doanh (joint venture) Mặc khác, các công ty đa quốc gia sẽ chọn phương thức gia nhập thị trường với quyền kiểm soát cao (high-control mode) như là một cách để giảm sự phụ thuộc vào đối tác kinh doanh trong nước khi công ty đa quốc gia không thể hiểu được hành động của đối tác này (Tsang, 2005)

Có thể nói, khoảng cách văn hóa là một trong những nhân tố rất thường được nghiên cứu trong các nghiên cứu về phương thức gia nhập thị trường, nhưng kết quả nghiên cứu vẫn gây nhiều tranh cãi giữa các học giả Nghiên cứu của Brouthers và Brouthers (2001) nghiên cứu các công ty của Anh, Hà Lan, Đức và Mỹ đầu tư vào Trung và Đông Âu cho thấy kết quả rằng các công ty đầu tư thích hình thức liên doanh hơn so với đầu tư mới khi khoảng cách văn hóa giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư tăng lên Nghiên cứu của Brouthers và Brouthers (2001) sử dụng chỉ số khoảng cách văn hóa tổng hợp và 04 khía cạnh văn hóa được phát triển bởi Hofstede (2001)

để đo lường khoảng cách văn hóa Tuy nhiên, nghiên cứu của Taylor, Zou, và Osland (1998) lại mang đến bằng chứng thực nghiệm rằng các công ty đa quốc gia của Mỹ chọn lựa phương thức gia nhập thị trường với quyền kiểm soát ít (low control entry mode), ví dụ như liên doanh, khi đầu tư vào những quốc gia có môi trường văn hóa tương tự Và khi khoảng cách văn hóa gia tăng, doanh nghiệp đa quốc gia sẽ lựa chọn hình thức 100% vốn nước ngoài

2.4 Các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường 2.4.1 Rủi ro quốc gia (Country risk)

Theo Anderson và Gatignon (1986), rủi ro quốc gia được định nghĩa là môi trường không thể dự đoán được ở một quốc gia cụ thể, và rủi ro này sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp khi tiến hành việc kinh doanh ở quốc gia đó Khi nước chủ nhà có rủi ro là cao, các nhà đầu tư nước ngoài thường tránh cam kết đầu tư một lượng lớn tài sản để giảm thiểu tổn thất trong trường hợp họ cần phải rút khỏi nước này (Kim & Hwang, 1992) Các nghiên cứu trước đây dự đoán và kết luận rằng trong một môi trường kinh doanh không thể đoán trước, các công ty đa quốc gia thích hình thức liên doanh (EJV) hơn là 100% vốn nước ngoài (WOS) (Agarwal và Ramaswami, 1992; Slangen và Van Tulder, 2009) Điều này bởi vì khi rủi ro đầu tư tăng lên, các

Trang 37

tập đoàn đa quốc gia có khuynh hướng tìm kiếm các nguồn thông tin và kiến thức từ địa phương thông qua việc liên doanh với công ty địa phương Beamish và Banks (1987) chỉ ra rằng hình thức liên doanh cho phép các công ty tận hưởng chi phí dài hạn thấp hơn do có đầy đủ thông tin tổng hợp Tuy nhiên, theo ''lý thuyết khả năng thương lượng'' (bargaining power theory) lại cho rằng công ty đa quốc gia thích lựa chọn hình thức 100% vốn nước ngoài khi rủi ro quốc gia càng lớn (rủi ro ở đây bao gồm cả rủi ro chính trị và rủi ro kinh tế) (Taylor, Zou, & Osland, 2000)

2.4.2 Tiềm năng thị trường (Market potential)

Tiềm năng tăng trưởng thị trường là một yếu tố quan trọng để công ty đa quốc gia quyết định sử dụng phương thức gia nhập thị trường nào Nếu quy mô kinh tế của một quốc gia càng lớn với tốc độ tăng trưởng nhanh, ổn định, công ty đa quốc gia càng có nhiều khả năng sẽ cam kết toàn bộ nguồn lực của họ cho sự phát triển và sẽ xem xét việc thành lập công ty dưới hình thức 100% vốn nước ngoài (Agarwal & Ramaswami, 1992)

2.4.3 Ngành nghề kinh doanh (Industry Sector)

Việc đầu tư vào các ngành khác nhau dẫn đến nhà đầu tư cũng lựa chọn các hình thức gia nhập thị trường khác nhau, điều này là do lượng vốn cần thiết ở mỗi ngành là khác nhau Trong nghiên cứu này, tác giả theo nghiên cứu của Brouthers & Brouthers (2003) đưa vào biến giả ngành để phân biệt giữa các ngành công nghiệp (được mã hóa là 1) và ngành nông nghiệp, dịch vụ (mã hóa là 0) Theo nghiên cứu của Võ Văn Dứt và cộng sự (2015) các doanh nghiệp đầu tư vào ngành công nghiệp thường là doanh nghiệp sẽ tập trung vào khai thác lợi thế của Việt Nam, còn doanh nghiệp đầu tư vào ngành dịch vụ hoặc nông nghiệp thường tập trung khai thác thế mạnh thị trường Vì vậy, đầu tư vào ngành công nghiệp thường sẽ chọn hình thức 100% vốn nước ngoài, còn dịch vụ và nông nghiệp sẽ thành lập dưới dạng liên doanh

2.4.4 Quy mô đầu tư (Investment amounts)

Quy mô đầu tư thể hiện cam kết tài chính của công ty mẹ đối với công ty con (Wei và cộng sự, 2005) Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài (WOS) đại diện cho mức cam kết tài chính cao nhất của doanh nghiệp Theo lý thuyết chi phí giao dịch,

Trang 38

cam kết tài chính có tác động đáng kể đến phương thức gia nhập thị trường của doanh nghiệp FDI Khi một khoản tiền tương đối nhỏ đang được đầu tư, hình thức 100% vốn nước ngoài (WOS) là một lựa chọn ưu tiên vì điều này cho phép công ty mẹ thực hiện toàn quyền kiểm soát công ty con và giữ lại toàn bộ lợi nhuận (Luo, 2001) Tuy nhiên, khi công ty tham gia vào một dự án lớn và đòi hỏi đầu tư một lượng vốn rất lớn, phương thức liên doanh (EJV) có thể cung cấp những hỗ trợ tài chính vững chắc

và giúp chia sẻ rủi ro với đối tác địa phương (Luo, 2001)

2.4.5 Thời hạn hoạt động (Duration)

Thời hạn hoạt động là thời gian mà một công ty nước ngoài cam kết đầu tư vào nước sở tại, đây là một nguồn sức mạnh thương lượng của công ty nước ngoài (Pan, 1996) Khi thời gian hoạt động là ngắn, công ty nước ngoài sẽ không thể thu được lợi nhuận cần thiết cho hoạt động kinh doanh và không thể khai thác hết tiềm năng của việc kinh doanh Vì vậy, công ty nước ngoài sẽ ít khi lựa chọn hình thức 100% vốn nước ngoài nếu thời gian hoạt động ngắn (Shan, 1991) Mặt khác, đối với công ty nước ngoài sẵn sàng cam kết hoạt động trong dài hạn, họ sẵn sàng lựa chọn phương thức 100% vốn nước ngoài (vốn đòi hỏi lượng vốn cao hơn) vì điều này cho phép họ khai thác toàn bộ tiềm năng của việc đầu tư (Tsang, 2005)

2.4.6 Định hướng dự án (Project Orientation)

Định hướng dự án (dự án sẽ xuất khẩu hoặc phục vụ thị trường trong nước) sẽ ảnh hưởng đến chiến lược phân phối, khả năng tiếp thị và định hướng chiến lược của công ty đa quốc gia, và điều này ảnh hưởng đến hành vi của công ty về cơ cấu quản trị và phương thức gia nhập thị trường (Luo, 2001) Nếu một dự án thiết lập với định hướng là phục vụ thị trường trong nước chắc chắn sẽ tương tác sâu rộng hơn với môi trường trong nước so với một dự án xuất khẩu Hợp tác với các công ty địa phương

có thể giúp giảm bớt những rủi ro khi có sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong nước Ngoài ra, ở một số quốc gia các kênh phân phối và tiếp thị phần lớn do chính quyền trung ương và địa phương quản lý và điều hành, các công ty đa quốc gia cần phải dựa vào các thỏa thuận phân phối và kênh tiếp thị được thành lập trước đó của các doanh nghiệp nhà nước, để giúp họ tận dụng các cơ hội thị trường và khám phá tiềm năng kinh doanh ở các thị trường mới nổi (Luo, 2001) Đáng chú ý hơn, các giao

Trang 39

dịch kinh doanh ở các nền kinh tế mới nổi thường dựa trên các mối quan hệ giữa cá nhân hoặc quan hệ giữa các tổ chức, và người tiêu dùng có xu hướng trung thành với các doanh nghiệp có kinh nghiệm lâu năm (Xin và Pearce, 1996), vì thế công ty đa quốc gia cần có thời gian dài để thiết lập sức mạnh thị trường và một vị thế cạnh tranh trong bối cảnh này (Luo, 1997) Hợp tác với các công ty địa phương sẽ trở nên cần thiết cho các công ty đa quốc gia trong việc tìm kiếm mở rộng thị trường ở địa phương Tuy nhiên, khi một dự án được định hướng xuất khẩu, những đóng góp được thực hiện bởi các công ty địa phương sẽ trở nên ít quan trọng hơn Thay vào đó, công

ty đa quốc gia có thể chọn hình thức 100% vốn nước ngoài để tạo điều kiện thuận lợi

trong quá trình kinh doanh

2.4.7 Năm đầu tư

Thời điểm đầu tư là một yếu tố rất quan trọng, có ảnh hưởng đáng kể tới phương thức đầu tư của doanh nghiệp Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy đầu

tư vào thời điểm khác nhau, doanh nghiệp FDI sẽ lựa chọn hình thức đầu tư khác nhau (Luo, 1997; Xin và Pearce, 1996)

Có thể thấy rõ, sau khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn về kinh tế xã hội và cũng đã và đang tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, những cơ hội đầu tư mới cho các nhà đầu tư trong và đầu tư nước ngoài (Phan Hữu Thắng, 2008)2 Điều đó đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư lâu dài ở Việt Nam, và nhà đầu tư yên tâm hơn trong việc chọn lựa hình thức 100% vốn nước ngoài

2.5 Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan

Nghiên cứu “Tác động của văn hóa quốc gia đến sự lựa chọn phương thức gia

nhập thị trường” của Kogut và Singh (1988) được xem là một trong những công trình

đầu tiên phát triển lý thuyết giải thích vì sao văn hóa khác biệt có thể tác động đến phương thức gia nhập thị trường, đây cũng là một trong những nghiên cứu đầu tiên trình bày về công thức tính khoảng cách văn hóa dựa trên các khía cạnh trong nghiên cứu của Hofstede (1980) Tác giả sử dụng mô hình hồi quy logit đa thức (Multinomial

2 Thông tin tham khảo từ http://agro.gov.vn/vn/tID7085_FDI-va-hieu-ung-tu-gia-nhap-WTO.html

Trang 40

Logit Model) cùng với số liệu của 228 dự án đầu tư nước ngoài vào Hoa Kỳ thông qua hình thức mua bán sát nhập (merger and acquisition), đầu tư mới hoàn toàn (wholly owned greenfield) và liên doanh (joint venture) Các biến được đưa vào mô hình hồi quy bao gồm đặc tính văn hóa (khoảng cách văn hóa, mức độ e ngại rủi ro), biến liên quan đặc điểm doanh nghiệp (mức độ đa dạng hóa, kinh nghiệm doanh nghiệp, kinh nghiệp ở quốc gia, quy mô tài sản), và các biến ở cấp độ ngành (hoạt động R&D và quảng cáo, biến giả của ngành) Tác giả đưa ra 02 giả thuyết; một là, khi khoảng cách văn hóa giữa quốc gia đầu tư và Hoa Kỳ càng lớn thì các công ty này có xu hướng chọn hình thức liên doanh hoặc đầu tư mới hơn là sát nhập Giả thuyết thứ hai là khoảng cách văn hóa của nước đi đầu tư được đặc trưng bởi mức độ

e ngại rủi ro (uncertainty avoidance) càng lớn thì nhà đầu tư sẽ lựa chọn hình thức liên doanh hoặc đầu tư mới hơn là mua bán sát nhập Kết quả hồi quy đã khẳng định giả thuyết trên và mở đường cho các nghiên cứu tiếp theo về khoảng cách văn hóa

Luo (2001) xem xét yếu tố ảnh hưởng đến phương thức gia nhập thị trường ở

4 cấp độ: Quốc gia (nation), ngành (industry), doanh nghiệp (firm) và dự án (project) Các biến đại diện cho sự lựa chọn phương thức gia nhập thị trường ở cấp độ quốc gia bao gồm: Sự can thiệp chính phủ (governmental intervention), quy định về quyền sở hữu (property rights systems), sự không chắc chắn về môi trường (environmental uncertainty) Các yếu tố liên quan cấp độ ngành bao gồm: Sự tăng trưởng về doanh số bán (sales growth), tài sản (asset intensity), tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp trong ngành (Growth in the number of firms) Các yếu tố ở cấp độ doanh nghiệp bao gồm: Bảo vệ kiến thức kinh doanh (knowledge protection), khả năng hội nhập toàn cầu (global integration), kinh nghiệm đầu tư (experience) Yếu tố liên quan dự án bao gồm: định hướng dự án (project orientation), quy mô dự án (project size), địa điểm đầu tư (location) Bằng việc phân tích dữ liệu khảo sát từ Trung Quốc cho thấy rằng hình thức liên doanh được ưu thích khi nhận thức của doanh nghiệp FDI về sự can thiệp của chính phủ là lớn hoặc sự không chắc chắn về môi trường là cao hoặc kinh nghiệm của doanh nghiệp ở nước sở tại cao hoặc thấp Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài được ưu tiên khi quyền sở hữu trí tuệ không được bảo vệ tốt, số lượng doanh nghiệp trong ngành đang phát triển nhanh, nhu cầu hội nhập toàn cầu cao, hoặc

Ngày đăng: 16/11/2020, 18:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w