THA đã và đang gia tăng một cách đáng lo ngại -Theo Viện Tim mạch quốc gia, nếu cách đây hơn 50 năm, chỉ có 1% người trưởng thành ở nước ta bị THA thì nay đã tăng lên trên 25%.[5] Nhiều
Trang 1
BO Y TE TRUONG DAI HQC DIEU DUONG NAM ĐỊNH
TRAN THI HONG THAI
CHAM SOC NGUOI BENH TANG HUYET AP
Chuyén nganh: DIEU DUONG NOI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DIEU DƯƠNG
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi, do chính tôi
thực hiện, tất cả các số liệu trong báo cáo này chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Use
Trần Thị Hồng Thái
Trang 3
2.1.2 Thực trạng bệnh đó hiện nay trên thế giới và Việt Nam 3
2.3 Thực trạng vấn đề mà học viên chọn để báo cáo 17
Trang 5
DANH MỤC CÁC BẢNG
2.3 | Sự phân bô về nhóm tuổi của các đối tượng nghiên cứu 17
2.3 | Su phan bé vé giới của các đổi tượng nghiên cứu 17
2.3 | Sự phân bô về thâm niên công tác của các đối tượng nghiên cứu 17 2.3 | Sự phân bô về chức danh của các đôi tượng nghiên cứu 18 2.3 | Sự phân bỗ về trình độ chuyên môn của các đỗi tượng nghiên cứu 18
DANH MỤC CÁC ẢNH
2.1.2 se người mặc tăng huyết áp ngày càng gia tăng ( Ảnh minh họa: 3
KT)
2.1.2 | Tăng huyết áp- nguyên nhân chính gây tai biên mạch máu não 4
2.1.3 | Huyết áp cao dễ gây biên chứng tim mạch, nguyên nhân hàng đầu 5
Trang 6
1 Mở đầu:
1.1 Lý do chọn chủ đề:
Ngày nay, tăng huyết áp (THA) là một vấn đề lớn và phổ biến ở Việt Nam, là I
trong 10 nguyên nhân hàng đầu về tỷ lệ bệnh và cũng chiếm tỷ lệ cao nhất trong
bệnh lý tim mạch ( theo thống kê của thành phố Hồ Chí Minh năm 2002-2003), gây
ra số lượng tử vong lớn trong bệnh viện[2] THA đã và đang gia tăng một cách đáng
lo ngại -Theo Viện Tim mạch quốc gia, nếu cách đây hơn 50 năm, chỉ có 1% người
trưởng thành ở nước ta bị THA thì nay đã tăng lên trên 25%.[5]
Nhiều người nghĩ bệnh THA thường chỉ có ở người già mà quên rằng căn bệnh này đang tấn công cả giới trẻ với hàng triệu người mắc bệnh Nguy hiểm hơn, số
người bị THA đang có chiều hướng trẻ hóa Tại các cơ sở điều trị về tìm mạch đã ghi nhận không ít trường hợp bệnh nhân mới 20 tuổi đã bị tăng huyết áp, thậm chí
có những ca bệnh nhồi máu cơ tim, hay tai biến mạch máu não mới chỉ ở tuổi 30 do
biến chứng của bệnh THA Nguyên nhân của tình trạng THA đang trẻ hóa là do nhiều thanh niên sử dụng bia rượu tràn lan, ăn quá nhiều đạm động vật và gặp nhiều
áp lực trong cuộc sống Tuy nhiên qua các cuộc khảo sát cho thấy, chỉ khoảng 1⁄3
số người bị THA biết được tình trạng bệnh của mình và được điều trị liên tục
Kiểm tra huyết áp, sức khỏe để can thiệp tránh “kẻ giết người thâm lặng”[5]
Nhiều chuyên gia y tế cảnh báo, nếu như những căn bệnh khác thường gây tình trạng bệnh nặng ngay lập tức khiến người mắc bệnh lo lắng chữa trị ngay thi THA
Trang 7ùặắẶẮẮẮồŨùmt
lại diễn biến rất thầm lặng một cách từ từ Vì thế căn bệnh này được xem là “sát
thủ” thầm lặng khi gây ra rất nhiều biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe Trong đó
biến chứng lên tìm mạch với tình trạng nguy hiểm nhất là đột quy Ngoài ra THA
còn gây ra các biến chứng ở mắt làm đục thủy tinh thể hoặc mù vĩnh viễn, biến
chứng ở thận gây suy thận [4]
Các bác sĩ lưu ý điều trị THA phải toàn diện, bao gồm điều trị không dùng thuốc
và dùng thuốc Thông thường, khi điều trị không dùng thuốc mà không hiệu quả thì bác sĩ mới cho bệnh nhân dùng thuốc Điều trị không dùng thuốc là điều chỉnh lối
sống, làm việc khoa học, hạn chế rượu, bia, thuốc lá, thay đổi chế độ ăn, bổ sung
dinh dưỡng, thảo dược có nguồn gốc thiên nhiên, giảm cân, tăng cường vận động
(tối thiểu 30 phút/ngày) “Sức khỏe thì mỗi người tự biết và tự chăm sóc bản thân
Chất lượng sống nâng cao hay không phụ thuộc vào hành vi, ứng xử, thay đổi của mỗi người” - một chuyên gia nhắn mạnh
Chính vì vậy, chăm sóc người bệnh THA nhằm duy trì và ổn định HA ở mức độ
tối ưu, ngăn ngừa các biến chứng của THA đã và đang là một vấn đề được quan tâm hàng đầu của y học thế giới cũng như ở Việt Nam và cũng là ước muốn của người dân
Từ những thực tế trên, tôi tiến hành một cuộc điều tra đánh giá về “ chăm sóc
người bệnh tăng huyết áp ” đễ đánh giá thực trạng hiểu biết của điều dưỡng về bệnh
THA nhằm cung cấp thông tin cho các nhà quản lý và đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh THẢ
1.2 Mục tiêu:
- Thực trạng hiểu biết của điều dưỡng về bệnh THA
- Đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh THA
2 Nội dung:
2.1 Tổng quan tài liệu:
2.1.1 Dinh nghia:[1]
Theo Tổ chức y tế Thế giới và Hiệp hội quốc tế về tăng huyết áp, người trưởng
thành được coi là tăng huyết áp (THA) khi: HA tâm thu > 140 mmHg và/ hoặc HA
Trang 8Xếp loại huyết áp (HA - mmHg)
2.1.2 Thực trạng bệnh đó hiện nay trên thế giới và Việt Nam [6]
THA là một trong những bệnh thường gặp nhất trong số các bệnh tim mạch trên
toàn thế giới, là bệnh lý mạn tính âm thầm và nguy hiểm đang trở thành một vấn đề
sức khỏe trên toàn cầu do sự gia tăng tuổi thọ và tăng tần suất các yếu tố nguy cơ
Các dữ liệu gần đây của nghiên cứu Framingham cho thấy người có HA bình thường ở tuổi 55 sẽ có 90% nguy cơ phát triển THA trong tương lai Một thống kê
tại Mỹ (2007) cho thấy có khoảng 72 triệu người bị THA
Số người mắc tăng huyết úp ngày càng gia tăng (Ảnh mình họa: KT)J8]
Theo Tổ chức y tế Thế giới năm 1978, trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh THA chiếm
khoảng 10-15% dân số và ước tính đến 2025 là 29% Tại Hoa Kỳ, hàng năm chỉ phí
cho phòng, chống bệnh THA trên 259 tỷ đô la Mỹ
Tại Việt Nam, thống kê cũng cho thấy tần suất THA cũng gia tăng Phạm Gia
Khải và cộng sự nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh THA ở cộng đồng năm 1998 là 16,09%,
3
Trang 9tâm trương > 90 mmHg Về mặt chỉ số huyết áp, có thể phân chia như sau ( theo
Xếp loại huyết áp (HA - mmHE)
THA là một trong những bệnh thường gặp nhất trong số các bệnh tỉm mạch trên toàn thế giới, là bệnh lý mạn tính âm thầm và nguy hiểm đang trở thành một vấn đề
sức khỏe trên toàn cầu do sự gia tăng tuổi thọ và tăng tần suất các yêu tố nguy cơ Các dữ liệu gần đây của nghiên cứu Framingham cho thấy người có HA bình
thường ở tuổi 55 sẽ có 90% nguy cơ phát triển THA trong tương lai Một thống kê
tại Mỹ (2007) cho thấy có khoảng 72 triệu người bị THA
Số người mắc tăng huyết áp ngày càng gia tang (Anh nã hoa: KT)[8]
Theo Tổ chức y tế Thế giới năm 1978, trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh THA chiếm khoảng 10-15% dân số và ước tính đến 2025 là 29% Tại Hoa Kỳ, hàng năm chỉ phí cho phòng, chống bệnh THA trên 259 tỷ đô la Mỹ
Tại Việt Nam, thống kê cũng cho thấy tần suất THA cũng gia tăng Phạm Gia Khải và cộng sự nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh THA ở cộng đồng năm 1998 là 16,09%,
3
Trang 10
năm 2001-2002 là 16,32%, Tô Văn Hải và cộng sự năm 2002 tỷ lệ mắc bệnh THA
ở cộng đồng là 18,69% Tại Huế, thống kê cho thấy tỷ lệ THA tại bệnh viện Trung
ương Huế năm 1980 là 1%, năm 1990 là 10%, 2007 là 21% Theo kết quả nghiên
cứu của Hồ Thanh Tùng, tỷ lệ THA của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là
20,5% Ngược lại với tình trạng THA ngày càng gia tăng, sự nhận thức, điều trị dự phòng và kiểm soát của nhiều người bệnh ở nhiều nước và ở Việt Nam còn chưa đầy đủ Điều đó dẫn đến biến chứng của bệnh đang ngày càng gia tăng, như trong
nghiên cứu của Đào Duy An chỉ có 17,8% bệnh nhân biết THA nhờ khám định kỳ
Về hậu quả của THA là tai biến mạch máu não, Hoàng Khánh ghi nhận trong 1179
bệnh nhân tai biến mạch máu não có đến 805 trường hợp do THA (68,28%), nhận
thấy tỷ lệ không biết THA ở thể xuất huyết và thể nhồi máu não tương ứng là 80,32% và 64.4%, biết nhưng không điều trị đúng cách tương ứng là 90,16% và
75%
Tăng huyết áp-nguyên nhân chính gây tai biến mach mau nao[9]
2.1.3 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng:
* Đặc điểm lâm sàng:[1]
Đa số người bệnh THA không có biểu hiện lâm sàng, trừ khi đo HA thấy tăng
Nhiều trường hợp chỉ được phát hiện THA khi đã có một biến chứng nào do
THA như: đột quy, nhồi máu cơ tim
Trang 11Một số người có thể bị nhức đầu, mặt đỏ bừng, cảm giác có mây mù trước mắt, ruồi bay trước mắt, tê tay nhất thời
Huyết áp cao dễ gây biến chứng lên tìm mạch, nguyên nhân hàng đầu gây tử vong
tai Viét Nam.[4]
Như vay, THA chi cé thể khẳng định được bằng đo huyết áp Da số trường THA được phát hiện qua đo HA thường quy, tuy nhiên với một số trường hợp cần đo HA liên tục trong 24 giờ
*Cận lâm sàngJ6J: Mục đích của cận lâm sàng là để đánh giá nguy cơ tỉm mạch, tổn thương thận và tìm nguyên nhân của THA
+ Những xét nghiệm tối thiểu:
e_ Máu: Công thức máu Ure, cretein, điện giải đồ, cholesterol toàn phan, HDL-
C, LDL-C, glucose, acid uric trong mau
e Nước tiểu, protein, hồng cầu
e Soi đáy mắt, điện tâm đồ, X quang tim, siêu âm tim
+ Những xét nghiệm hay trắc nghiệm đặc biệt
e_ Đối với THA hay THA khó xác định nghi ngờ có bệnh mạch thận: Chụp
UIV nhanh, thận đồ
e©.U tủy thượng thận định lượng catecholamin nước tiểu 24h
2.1.4 Nguyên nhân:[1]
* Tăng huyết áp thứ phát:
Trang 12Còồn gọi là tăng huyết áp triệu trứng hay tăng huyết áp có nguyên nhân chiếm
khoảng 5-10 % các trường hợp THA, thường gặp ở người trẻ tuổi các nguyên nhân
có thể là:
- Bệnh thận: viêm cầu thận cấp, mạn; viêm thận mạn, bệnh thận bẩm sinh, than da nang, ứ nước bề thận, u tăng tiết renin, hẹp động mạch thận, suy thận
- Bệnh nội tiết: Cường aldosteron tiên phát (hội chứng Conn), Hội chứng Cushing,
phì đại tuyến thượng thận bẩm sinh, u tuỷ thượng thận, tăng calci máu, cường tuyến giáp, bệnh to các đầu chỉ
- Bệnh mạch máu: Hẹp eo động mạch chủ ( THA chi trên, giảm HA chỉ dưới), Hở
van động mạch chủ (THA tâm thu, giảm HA tâm trương), rò động tĩnh mạch
- Một số nguyên nhân khác: Nhiễm độc thai nghén, Bệnh đa hồng cầu, Nhiễm toan
hô hấp ( nguyên nhân thần kinh)
* Tăng huyết áp nguyên phát:
Khi không tìm thấy nguyên nhân người ta gọi là tăng huyết áp nguyên phát hay tăng huyết áp vô căn Chiếm trên 90-95% các trường hợp THA, thường gặp ở người trung niên và người cao tuôi
* Tăng huyết úp ở phụ nữ mang thai:
Bình thường ở phụ nữ mang thai HA không thay đổi 3 tháng đầu thai kỳ, giảm nhẹ 3 tháng giữa và trở về chỉ số ban đầu hoặc tăng nhẹ 3 tháng cuối
Phụ nữ mang thai cần được theo dõi định kỳ huyết áp, khi phát hiện có THA cần
làm thêm các xét nghiệm và được xếp vào 1 trong nam loai theo Bang 1 Tùy theo
từng loại chẩn đoán mà tiên lượng và kế hoạch theo dõi điều trị có khác nhau Tat
cả các trường hợp THA ở phụ nữ có thai đều có nguy cơ tiến triển thành tiền sản giật
Bảng 1- Phân loại bệnh nhân THA có thai
1.THA mãntính | THA được phát hiện trước khi có thai hoặc trước 20 tuần
mang thai, tồn tại >12 tuần sau đẻ
đoạn đầu của tiền sản giật Nếu nặng có thể dẫn đến đẻ non
Trang 13
3 Tiên sản giật THA kèm theo có Protein/ niệu (>300 mg /24h) sau 20 tuân
mang thai, có thể tiến triển thành sản giật Thường gặp ở phụ
nữ vô sinh, mang thai nhiều lần, tiền sử trong gia đình bị tiền
sản giật THA ở các lần mang thai trước, người có bệnh thận
4 THA mãn tính Mới xuất hiện Protein niệu sau 20 tuân thai ở phụ nữ có THA
biến chuyển thành | từ trước, THA và Protein niệu trước 20 tuần thai, Protein niệu
tiền sản giật tăng đột ngột gấp 2- 3 lần, HA tăng cao đột biến, Tăng men
gan
5 THA thoáng Chân đoán hồi cứu, HA trở về bình thường trong vòng 12h sau
qua đẻ, là yếu tố tiên lượng THA trong tương lai
THA ở phụ nữ có thai, đặc biệt là tình trạng tiền sản giật thường làm tăng biên
cố với cả mẹ và con
2.1.5 Yếu tố nguy cơ: Tuy không tìm thấy nguyên nhân nhưng một số yếu tố đã
được chứng minh là yếu tố nguy cơ gây THA
2.1.5.1 Nhóm yếu tố về hành vi:
*Hút thuốc lá: Thí nghiệm trên súc vật thấy thuốc lá gây THA Trong thuốc lá
có nicotin mà nicotin kích thích thần kinh giao cảm làm co mạch ngoại vi gây THA Oxytcarbon có trong khói thuốc làm máu giảm cung cấp oxy cho các tế bào và cùng với áp lực đã tăng sẵn của dòng máu khi bị THA càng gây tổn thương thêm các tế bào nội mạc của các động mạch và tạo điều kiện cho bệnh xơ vữa động mạch
phát triển [12]
* Chế độ ăn: Chế độ ăn có thể tác động đến HA động mạch qua nhiều khâu,
đặc biệt là các chất như natri, kali, canxi, protein, chất béo và glucid
- Muối Trong các nguyên nhân gây THA, trước hết người ta thường kể đến lượng muối ăn (muối natri) trong khẩu phần Theo Hội đồng nghiên cứu quốc gia, lượng natri cơ thể người lớn cần hàng ngày an toàn và thích hợp vào khoảng 100 tới
300 mg Nhưng trên thực tế bao nhiêu là đủ? Rất khó xác định chính xác số lượng tối thiểu natri hàng ngày Hiện nay WHO khuyến cáo chế độ ăn muối chỉ có 6g/ngày là giới hạn để phòng chống THA [11], [18], [20] Các nghiên cứu cũng cho
thấy nhiều trường hợp còn chưa biết chế độ ăn nhạt Chế độ ăn giảm muối vừa phải
(1-2,5g muối/mỗi ngày) áp dụng cho các trường hợp THA hoặc đang dùng thuốc lợi
7
Trang 14tiểu, trong chế độ ăn này chỉ cần có ý thức giảm bớt muối cho vào thức ăn hơn
trước Mặt khác, một số người biết cần phải ăn nhạt nhưng lại khó từ bỏ được thói
quen ăn mặn [16]
- Chất béo: Các chất béo là nguồn năng lượng cao có chứa nhiều vitamin tan
trong chất béo cần thiết, là thành phần cấu trúc của nhiều tổ chức quan trọng trong
cơ thể Hiện nay chưa biết rõ ràng về nhu cầu chất béo nhưng một lượng chất béo
hàng ngày từ 15-25% năng lượng khẩu phần có thể đáp ứng được nhu cầu [10],[20]
Theo Phạm Khuê, nên ăn uống điều độ, phù hợp vì chế độ ăn quá dư thừa sẽ gây béo phì và phát triển bệnh lý vữa xơ động mạch, đái tháo đường Chế độ ăn để giảm
cân ở người béo phì trong đó trước tiên và chủ yếu là: giảm các chat gluxit (bánh trái, đồ ngọt, chất bột) và bù đắp bằng rau quả Ăn giảm mỡ động vật và thay bằng
dầu thực vật và hạn chế uống nhiều nước kèm theo tăng cường vận động thể lực
Nhưng trong thực tế, phần lớn các trường hợp béo phì chưa biết chế độ ăn để giảm
cân Vì vậy, để giảm cân ở người béo phì, cũng là một việc nhiều khi khó thực hiện [14], [15]
- Chất xơ: Vai trò sinh học của chất xơ là giúp đây nhanh chất thải ra khỏi ống
tiêu hoá, phòng táo bón Về vai trò đối với THA, đã có nhiều công trình nêu lên tác
dụng của chất xơ trong điều hoà HA cả ở người lớn và trẻ em Tuy nhiên tác dụng độc lập của chất xơ còn đang là vấn đề cần nghiên cứu Trong chế độ ăn của người
bệnh THA cần thiết phải tăng nhiều chất xơ [21], [22]
*Rượu: WHO đã khuyến cáo: “Rượu làm THA và đó là yếu tố nguy cơ của tai biến mạch não, thường thấy phối hợp với bệnh tim, loạn nhịp tim, tăng xuất huyết não Nếu uống rượu điều độ chỉ ở mức 10g ethanol x 1-3 lần/ngày thì có thể chấp nhận được, ở mức trên 3 lần/ngày (30g ethanol) có bằng chứng hại cả về sinh học
lẫn xã hội ”[11] Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh và cộng sự (1989
- 1992) cho thấy ở những người THA tỷ lệ uống rượu cao hơn ở những người bình thường (p < 0,01) [19]
* Thói quen sinh hoạt (lỗi sông): Các thói quen hàng ngày không có lợi cho
sức khỏe gần đây đã được nhiều tác giả nghiên cứu hiện nay vì nó liên quan đến
bệnh lý THA Các yếu tố thuân lợi dễ gây ra THA đã được nghiên cứu như chế độ
ăn uống quá nhiều calo, nhiều mỡ động vật, nhiều chất ngọt, ăn mặn, uống nhiều
rượu, hút thuốc lá, ít vận động .