BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH TRẦN THỊ THỦY THỰC TRẠNG KIẾN THỨC TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THANH HÓA NĂM 2019
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
TRẦN THỊ THỦY
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC TỰ CHĂM SÓC CỦA
NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THANH HÓA NĂM 2019
CHUYÊN NGÀNH: NỘI NGƯỜI LỚN
NAM ĐỊNH - 2019
Trang 2CHUYÊN NGÀNH: NỘI NGƯỜI LỚN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
ThS: HOÀNG THỊ MINH THÁI
NAM ĐỊNH - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới những người đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm chuyên đề cũng như trong suốt quãng thời gian học tập
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, Bộ môn Nội trường Đại học Điều dưỡng Nam Định; Ban Giám hiêu trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa, Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thanh Hóa đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất
tới ThS Hoàng Thị Minh Thái- Giảng viên khoa Điều dưỡng – Hộ sinh,Trường Đại
học Điều dưỡng Nam Định – Người thầy không chỉ đã trực tiếp hướng dẫn cho tôi trong quá trình làm chuyên đề, mà còn luôn tận tình dạy dỗ, chỉ bảo, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể các thầy, cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định các thầy, cô giáo Bộ môn Nội trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa; các bác sỹ, điều dưỡng khoa khám bệnhBệnh viện Đa khoa Tỉnh Thanh Hóa; các anh, chị và các bạn lớp chuyên khoa I – khóa 6 đã luôn giúp đỡ, động viên góp ý cho tôi trong quá trình học tập và làm báo cáo chuyên đề
Với thời gian thực hiện chuyên đề gần 3 tháng, do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên báo cáo không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp từ các quý thầy cô và các bạn cùng lớp để em sẽ hoàn thành tốt hơn bài báo cáo chuyên đề tốt nghiệp này
Xin trân trọng cảm ơn!
Nam Định, ngày tháng năm 2019
Học viên
Trần Thị Thủy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Trần Thị Thủy- học viên lớp Điều dưỡng chuyên khoa I khóa 6 của
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, chuyên ngành Nội người lớn, xin cam đoan:
1 Đây là báo cáo chuyên đề tốt nghiệp do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới
sự hướng dẫn của ThS Hoàng Thị Minh Thái
2 Các số liệu và thông tin trong báo cáo chuyên đề là hoàn toàn trung thực và khách quan
Tôi xin chịu trách nhiệm về những điều cam đoan trên
Học viên
Trần Thị Thủy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN……… ……… i
LỜI CAM ĐOAN……… ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… iii
DANH MỤC BẢNG……… iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ………v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
Chương 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN 21
2.1 Thực trạng về kiến thức tự chăm sóc của người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thanh Hóa 21
2.2 Công tác chăm sóc, điều trị cho người bệnh THA tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Thanh Hóa 24
2.3 Các ưu điểm và tồn tại 27
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 30
3.1 Về phía bệnh viện 30
3.2 Đối với người bệnh THA 30
3.3 Đối với chính quyền, cộng đồng 31
KẾT LUẬN 32
1 Thực trạng về kiến thức tự chăm sóc của người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Thanh Hóa năm 2019 32
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kiến thức tự chăm sóc của người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Thanh Hóa 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục
Trang 6HDL (High Density Lipoprotein
Cholesterol):
Lipoprotein cholesterol tỷ trọng cao
ISH (International Soiciety of
Hypertention):
Hiệp hội tăng huyết áp quốc tế
JNC (Join National Committee): Uỷ ban phòng chống tăng huyết áp Hoa Kỳ LDL (Low Density Lipoprotein
Cholesterol):
Lipoprotein cholesterol tỷ trọng thấp
TBMMN: Tai biến mạch máu não
WHO (World Heathly Organization): Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sự phân bổ về giới 21
Bảng 2.2 Kiến thức của NB về định nghĩa tăng huyết áp (n = 40) 21
Bảng 2.3 Kiến thức của người bệnh về các yếu tố nguy cơ về bệnh THA 21
Bảng 2.4 Kiến thức của người bệnh về các biến chứng của tăng huyết áp 22
Bảng 2.5 Kiến thức của người bệnh về tuân thủ dùng thuốc điều trị(n =40) 23
Bảng 2.6 Kiến thức của NB về thay đổi lối sống (n =40) 23
Bảng 2.7 Mong muốn của người bệnh ( n=40) 24
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình ảnh 1: Mô tả hình ảnh đo huyết áp 5
Hình ảnh 2: Minh họa sự ảnh hưởng thuốc lá đến THA 6
Hình ảnh 4: Mô tả cấu tạo máy đo huyết áp 9
Hình ảnh 5: Minh họa các biến chứng THA 11
Hình ảnh 6: Xu hướng THA tại Việt Nam 17
Hình ảnh 7: Khoa khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thanh Hóa 25
Hình ảnh 8: Bệnh nhân được tư vấn, hướng dẫn khi đến khám bệnh tại BVĐK 26
Hình ảnh 9: người bệnh đến khoa khám bệnh 26
Hình ảnh 10: Tư vấn khám bệnh cho người bệnh đến khám và điều trị ngoại trú 26
Trang 9
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp là một bệnh phổ biến trên thế giới và bệnh này gây gánh nặng cho gia đình và xã hội Ở các nước phát triển tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn ( ≥18 tuổi) khoảng gần 30% dân số và trên một nửa dân số ở tuổi > 60 tuổi có tăng huyết
áp [14] Theo ước tính của tổ chức Y tế thế giới (WHO) trên thế giới có 972 triệu người bị tăng huyết áp và con số này ước tính là 1,56 tỷ người vào năm 2025 Theo thống kê tại Hoa kỳ năm 2006 có khoảng 74,5 triệu người Mỹ bị tăng huyết áp cứ 3 người lớn có một người bị tăng huyết áp Trong tổng số bệnh nhân bị tăng huyết áp có 67,9% được điều trị , 44,1% là được khống chế tốt trong khi có tới 55,9% không được khống chế [4] Tại Việt Nam, theo thống kê trên toàn quốc năm 2015của Nguyễn Lân Việt trên 5454 người (THA chiếm 47,2% trong đó THA được phát hiện chiếm 60,9%,
tỷ lệ tăng huyết áp được kiểm soát là 31,3%) [2 ] [9 ] [14 ] Năm 2002 WHO đã nghi nhận trong báo sức khỏe hằng năm và liệt kê THA là “ Kẻ giết người thầm lặng”,
“Tăng huyết áp là một bệnh mạn tính phải điều trị liên tục, suốt đờivà để giữ được mức huyết áp ổn định, giảm tổn thương các cơ quan đích thì kiến thứcvà sự tự chăm sóc trong điều trị THA của người bệnh là vô cùng quan trọng”[15] Đây chính là yếu tố quyết định sự thành công trong điều trị Kiến thức về tự chăm sóc cho người bệnh là phải hiểu biết và thực hiện uống thuốc liên tục, đều đặn, duy trì thay đổi lối sống bao gồm điều chỉnh chế độ ăn uống, luyện tập, theo dõi HA, hạn chế rượu/bia, không hút thuốc lá/lào theo hướng dẫn của CBYT [14], [15].Việc bệnh nhân kém hiểu biết và không tuân thủ trong điều trị THA vẫn là một thách thức lớn trong điều trị Để
NB có kiến thức, hiểu biết về tự chăm sóc thì cần có sự giúp đỡ và giám sát chặt chẽ của cán bộ y tế, gia đình và xã hội
Bệnh viện đa khoa Tỉnh Thanh Hóa là một bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trong những năm qua được SởY Tế giao nhiệm vụ cùng dự án về quản lý và theo dõi điều trị đối với bệnh nhân THA thuộc thành phố Thanh Hóa Theo thống kê của Bệnh viện
đa khoa Tỉnh Thanh Hóa, năm 2018 có khoảng 1940 người THA đang tham gia quản
lý điều trị ngoại trú, trong đó tỷ lệ phải nhập viện vì các biến chứng do THA là 60,7% Qua khảo sát nhanh vẫn còn bệnh nhân chưa hiểu rõ về bệnh THA, ngay cả
Trang 10khi có những hiểu biết nhất định về bệnh THA thì việc thực hành điều trị tự chăm sóccủa bệnh nhân còn hạn chế
Xuất phát từ thực tế trên để có thêm bằng chứng tin cậy cho việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kiến thức tự chăm sóc của bệnh nhân THA hiệu quả, tôi tiến hành thực hiện chuyên đề:“Thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thanh Hóa năm 2019”
Trang 11MỤC TIÊU
1 Mô tả thực trạng về kiến thức tự chăm sóc của người bệnh tăng huyết áp
đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Thanh Hóa năm 2019
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kiến thức tự chăm sóc của người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Thanh Hóa
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm huyết áp
Huyết áp là áp lực của dòng máu lưu thông tác động lên thành mạch Huyết áp được biểu thị bằng hai chỉ số: Huyết áp tâm thu ( HATT) đó là áp lực động mạch lúc tim co bóp đạt mức cao nhất và huyết áp tâm trương là huyết áp thấp nhất cuối thì tâm trương [1], [2], [8]
1.1.2 Những thay đổi sinh lý của huyết áp [5],[8], [9]
Ở một người bình thường huyết áp không phải lúc nào cũng ổn định, mà nó luôn thay đổi do nhiều yếu tố
- Huyết áp thay đổi theo trạng thái tâm lý
Các trạng thái tâm lý như lo âu, bồn chồn, xúc động, thần kinh căng thẳng… đều ảnh hưởng tới huyết áp Sự có mặt của thầy thuốc có uy tín cũng có thể làm cho huyết áp tăng lên trong lúc đầu mới tiếp xúc Tất cả những yếu tố tác động tâm lý này nếu ở mức độ mạnh được coi như đả kích (stress)
Những stress này tác động lên vỏ tuyến thượng thận, làm tăng tiết catecholamin vào máu, chất gây co mạch và làm tăng huyết áp
- Huyết áp thay đổi theo hoạt động
Huyết áp tăng hay giảm tùy theo mức độvận động của cơ thể (kể cả10 lao động chân tay và trí óc …)
Khi cơ thể vận động, nhu cầu ôxy và chất dinh dưỡng tăng lên vì vậy tim phải làm việc nhiều bằng cách tăng tần số và tăng cường độ co bóp, do đó huyết áp tăng lên, khi nghỉ ngơi huyết áp trở lại bình thường
- Huyết áp thay đổi theo thời gian
Trong một ngày huyết áp tăng giảm theo thời gian Gần sáng, huyết áp tăng dần lên và tăng cao hơn cuối buổi chiều Ban đêm, huyết áp lại hạ xuống và thấp hơn
Huyết áp thay đổi theo khí hậu, thời tiết
Huyết áp cũng tăng giảm theo thời tiết Khi trời lạnh, mạch máu ngoại vi co lại
để giảm sự thải nhiệt, do đó huyết áp tăng lên Ngược lại khi trời nắng nóng, mạch ngoại vi giãn ra nhiều để tăng sự thải nhiệt thì huyết áp lại hạ xuống
Trang 131.1.3 Định nghĩa tăng huyết áp
Hình ảnh 1: Mô tả hình ảnh đo huyết áp
Theo quy ước của tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Hiệp hội tăng huyết áp
quốc tế đã thống nhất được gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tối đa ≥ 140mmHg và/
hoặc Huyết áp tối thiểu ≥ 90mmHg [4].[8 ] [9 ]
1.1.4 Nguyên nhân tăng huyết áp[1], [3], [5]
* THA nguyên phát: chiếm gần 90% trường hợp bị THA
-Thuốc: Các hormone tránh thai, cam thảo, carbenoxolone, A.C.T.H.Corticoides, các IMAO, chất chống trầm cảm vòng
- THA thai kỳ: Tăng huyết áp thường xuất hiện trên sản phụ mang thai ở tuần thứ
20 của thai kỳ
- Các nguyên nhân khác: Bệnh cường giáp, bệnh đa hồng cầu, toan hô hấp…
1.1.5 Các yếu tố nguy cơ làm tăng huyết áp
1.1.5.1 Nhóm yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được [3], [9] [14]
- Béo phì
Theo nghiên cứu của Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa bệnh cho thấy tăng cân lên đến 60% và hậu quả của béo phì là tăng huyết áp và rối loạn lipid máu, rối
Trang 14loạn chuyển hóa, bệnh mạch vành Tại Mỹ, béo phì chiếm 15% dân chúng và là nguyên nhân của 20-30% trường hợp tăng huyết áp
- Chỉ số BMI (chỉ số khối cơ thể)
Các nghiên cứu cho thấy nếu giảm 10% BMI, huyết áp sẽ giảm trung bình từ 8-12mmHg.Tesfaye F tiến hành nghiên cứu tại 3 nước Việt Nam, Ethiopia và Indonesia (2003-2004) và kết luận rằng chỉ số BMI có liên quan đến chỉ số huyết áp, đặc biệt người béo phì có BMI ≥25
Theo Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 7.610 người tại Hà Nội (4/1998 – 1999) thấy chỉ số BMI ≥22 có nguy cơ THA
- Hút thuốc lá
Hình ảnh 2: Minh họa sự ảnh hưởng thuốc lá đến THA
Hút thuốc lá cũng là một yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp Trong thuốc lá có hàng ngàn chất hóa học khác nhau, gồm những chất gây nghiện, hỗn hợp chất màu nâu, chất độc dạng khí … đặc biệt Nicotine có khả năng gây co mạch và kích thích tăng tiết Cathecholamine, Carbonoxyd và các chất khác sẽ làm tổn thương nội mạc thành mạch Thực nghiệm của Maslova năm 1958 trên súc vật cho thấy Nicotine trong thuốc lá làm tăng huyết áp
Nguy cơ bệnh lý mạch vành ở những người tăng huyết áp hút thuốc lá cao hơn khoảng 50-60% ở những người không hút thuốc lá Tỷ lệ hút thuốc lá nhiều (>8 điếu/ ngày) ở người tăng huyết áp cao hơn người bình thường (theo nghiên cứu của Trần
Đỗ Trinh về dich tễ học tăng huyết áp 1989-1992)
Trang 15nước sẽ được giữ lại trong lòng mạch làm tăng thể tích máu lưu thông, làm tăng áp lực máu trong lòng mạch dẫn tới THA Một chế độ ăn giảm muối dưới 2,4 gram mỗi ngày có thể làm giảm huyết áp tối đa từ 2 – 8 mmHg
- Chế độ ăn ít Kali
Kali giúp duy trì cân bằng nồng độ muối trong tế bào, từ đó nó kiểm soát thể tích tuần hoàn trong cơ thể Nếu nồng độ K+ trong máu giảm thì lại làm tăng lượng
Na+ trong máu từ đó nó làm tăng thể tích tuần hoàn, gây ra tăng huyết áp
Ăn ít trái cây và rau có thể gây ra khoảng 14,0% tỷ lệ tử vong do ung thư đường tiêu hóa; 11,0% tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim và khoảng 9% tỷ lệ tử vong
do đột quỵ Hiệu quả của việc lựa chọn một chế độ ăn nhiều trái cây và rau quả có thể
để đảm bảo đủ kali, canxi và chất xơ, đồng thời với việc sử dụng các thực phẩm có ít chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa thì có thể làm giảm huyết áp tâm thu khoảng
8-14 mmHg trên người bệnh THA
- Uống nhiều rượu, bia
Cồn trong rượu bia chính là nguyên nhân làm THA Cứ hấp thu 10g cồn, huyết
áp tăng lên khoảng 1 mmHg Trên người bệnh THA khi uống rượu, bia quá nhiều làm rối loạn nhịp tim, đặc biệt là ngoại tâm thu trên thất và huyết áp tăng đột biến tạm thời, gây nhiều biến chứng nguy hiểm như đột quỵ, suy tim,… Nguy cơ tăng huyết
áp tăng gấp 2 lần khi uống rượu quá 3-4 ly một ngày Sự tiêu thụ vừa phải đồ uống có cồn được khuyên là có thể giảm tần suất mắc bệnh tăng huyết áp
Hình ảnh 3: Rượu, bia ảnh hưởng đến HA
- Ít vận động thể lực:
Ít vận động thể lực sẽ làm tăng nguy cơ thừa cân, béo phì Tập thể dục thường xuyên là liệu pháp nền tảng cho việc phòng ngừa, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp.Với những người có chế độ luyện tập thể chất thường xuyên thì có thể giảm được huyết áp tối đa từ 4-9 mmHg
Giãn mạch da
Co mạch nội tạng
Trang 16- Căng thẳng (stress tâm lý)
Căng thẳng tâm lý được cho là một yếu tố gây bệnh vữa xơ động mạch quan trọng Căng thẳng về tâm lý gây tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và do vậy gây ảnh hưởng xấu đến thành mạch, làm rối loạn tuần hoàn và tăng nguy cơ gây tổn thương các tế bào nội mạc, làm tăng tính thấm của tế bào nội mạc, làm tăng nguy cơ
lắng đọng LDL-C gây hình thành và phát triển vữa xơ động mạch từ đó làm THA
- Người bệnh đái tháo đường:
Trên người bênh đái tháo đường, khi đường huyết trong máu tăng cao, kéo dài
sẽ tạo ra sản phẩm glycate hoá (AGE) tích tụ ở thận và gây tổn thương tăng tính thấm mao mạch; tăng Proteinkinase C, chính chất này làm tăng yếu tố tăng trương nội mạc mạch máu và yếu tố tăng trưởng chuyển dạng Bêta → tăng chất đệm ngoại bào → mức độ lọc cầu thận tăng → tăng thể tích tuần hoàn → tăng huyết áp Mặt khác, khi lượng đường trong máu cao, độ nhớt của máu tăng, làm tăng sức cản ngoại vi → gây tăng huyết áp Ở những người tăng huyết áp có kèm theo bệnh đái tháo đường thì nguy cơ bị biến chứng nhồi máu cơ tim tăng lên gấp 4 lần; nguy cơ người bệnh bị đột quỵ chỉ là 2% nếu chỉ bị tăng huyết áp đơn thuần nhưng sẽ cao hơn nếu người bệnh
đó kết hợp mắc bệnh đái tháo đường
1.1.5.2 Nhóm yếu tố nguy cơ không điều chỉnh được
Giới tính: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nam giới mắc THA cao hơn nữ giới Tuổi: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc huyết áp càng cao Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng NCT từ 70 tuổi trở lên có nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp cao hơn so với nhóm tuổi trưởng thành
Tiền sử gia đình: Tiền sử gia đình có người bị THA sẽ có nguy cơ mắc bệnh THA cao gấp 1,47 lần người không không có tiền sử THA
1.1.6 Phân độ huyết áp ở người lớn [1], [5][8]
Phân độ tăng huyết áp: dựa vào trị số huyết áp [1]
Bảng 1.1: Phân độ tăng huyết áp
Phân độ HATT (mmHg) HATTr (mmHg)
Trang 17THA độ 1 140-159 và/hoặc 90-99
- Tăng huyết áp thường không có triệu chứng cơ năng
Triệu chứng quan trọng nhất là đo huyết áp thấy tăng (phải đo đúng kỹ thuật)
- Các triệu chứng thực thể phụ thuộc vào giai đoạn bệnh (thực ra đây chính là các biến chứng hay do tăng huyết áp gây ra)
- Tăng huyết áp ác tính:
+ Chỉ số huyết áp rất cao Đau đầu dữ dội tổn thương đáy mắt nặng, khát nước, sụt cân, rối loạn tiêu hoá, tiến triển nhanh, nặng nề Hay gây biến chứng ở não và tim
* Đo huyết áp: Là động tác quan trọng, cần bảo đảm một số quy định :
Hình ảnh 4: Mô tả cấu tạo máy đo huyết áp
- Ngồi nghỉ trước khi đo, ít nhất 10-15 phút trong phòng yên tĩnh
- Không dùng chất kích thích ( cà phê, hút thuốc) trước đó 2 giờ
- Tư thế đo: Người bệnh ngồi ghế, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức với tim Có thể đo ở các tư thế nằm, đứng Đối với người cao tuổi hoặc người có bệnh tiểu đường: Đo thêm huyết áp tư thế đứng để xác định có “ hạ huyết áp
tư thế không” ?
- Sử dụng huyết áp kế thủy ngân, đồng hồ hoặc điện tử có bề dài bao đo tối thiểu bằng 80%, bề rộng tối thiểu 40% của chu vi cánh tay Quấn bao đủ chặt, bờ dưới của bao đo trên nếp gấp lằn khuỷu 2cm [8]
- Nên đo huyết áp 2 lần mỗi lần cách nhau 1-2 phút Nếu đo huyết áp giữa 2 lần đo chênh nhau >10mmHg thì cần đo lại lần thứ 3 sau khi đã nghỉ 5 phút
Trang 18- Trong lần đo đầu tiên cần đo huyết áp ở cả hai tay Không nói chuyện khi đang đo huyết áp
- Huyết áp tâm thu tươg ứng với lúc xuất hiện tiếng đập đầu tiên (Pha I của Krotkoff) và huyết áp tâm trương tương ứng với khi mất hẳn tiếng đập hoặc thay đổi
âm sắc ( pha V)
- Trường hợp nghi ngờ có thể theo dõi huyết áp liên tục bằng máy đo huyết áp
tự động trong 24 giờ (Holtor huyết áp) [8]
Dấu hiệu lâm sàng
Bệnh nhân có thể béo phì, mặt tròn trong hội chứng Cushing, cơ chi trên phát triển hơn cơ chi dưới trong bệnh hẹp eo động mạch chủ Tìm các biểu hiện xơ vữa động mạch trên da (u vàng, u mỡ, cung giác mạc )
Khám tim mạch có thể phát hiện sớm dày thất trái hay dấu suy tim trái, các động mạch gian sườn đập trong hẹp eo động mạch chủ Sờ và nghe động mạch để phát hiện các trường hợp nghẽn hay tắc động mạch cảnh trong động mạch chủ bụng
Cần lưu ý hiện tượng (huyết áp giả) gặp ở những người già đái đường, suy thận do sự xơ cứng vách động mạch làm cho trị số huyết áp đo được cao hơn trị số huyết áp nội mạch Có thể loại trừ bằng cách dùng “thủ thuật” Osler hay chính xác nhất là đo huyết áp trực tiếp Một hiện tượng khác cũng đang được cố gắng loại trừ là hiệu quả “áo choàng trắng” bằng cách sử dụng phương pháp đo liên tục huyết áp (Holter tensionnel) [1], [8]
Khám bụng có thể phát hiện tiếng thổi tâm thu hai bên rốn trong hẹp động mạch thận, phồng động mạch chủ hoặc khám phát hiện thận to, thận đa nang
Khám thần kinh có thể phát hiện các tai biến mạch não cũ hoặc nhẹ [8]
Cận lâm sàng
Cần đơn giản, mục đích để đánh giá nguy cơ tim mạch, tổn thương thận và tìm nguyên nhân
Billan tối thiểu (theo Tổ chức Y tế thế giới):
- Máu: Kali máu, Creatinine máu, Cholesterol máu, Đường máu, Hematocrite, Acide - Uric máu Nước tiểu: Hồng cầu, Protein
- Nếu có điều kiện nên làm thêm, soi đáy mắt, điện tim, X quang tim, siêu âm
Trang 19Các xét nghiệm hay trắc nghiệm đặc biệt:
- Đối với tăng huyết áp thứ phát hay tăng huyết áp khó xác định.Ví dụ: Bệnh mạch thận:cần chụp U,I,V nhanh, thận đồ, trắc nghiệm Saralasin U tủy thượng thận (Pheochromocytome): định lượng Catecholamine nước tiểu trong 24 giờ, trắc nghiệm Régitine [1]
Tăng huyết áp gây ít nhất 5 biến chứng nguy hiểm sau:
Hình ảnh 5: Minh họa các biến chứng THA
Biến chứng trên tim:
Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và nguyên nhân gây tử vong cao nhất đối với tăng huyết áp Dày thất trái là biến chứng sớm do dày cơ tim trái Để đối phó sức cản ngoại biên nên gia tăng sức co bóp làm công tim tăng lên và vách cơ tim dày ra Dần dần suy tim trái và với khó thở khi gắng sức, hen tim hoặc phù phổi cấp sau đó chuyển sang suy tim toàn bộ với phù, gan to, tĩnh mạch cổ nổi Xquang và điện tim có dấu dày thất phải [1]
Suy mạch vành biểu hiện bằng các cơn đau thắt ngực điển hình hay chỉ có loạn nhịp Điện tim có ST chênh xuống dưới đường thẳng điện ở các chuyển đạo tim trái,
rõ hơn ở chuyển đạo Pescador khi biến chứng nhồi máu sẽ xuất hiện sóng Q hoại tử [2]
Biến chứng trên não:
Tai biến mạch não, thường gặp như nhũn não, xuất huyết não, tai biến mạch não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú chỉ kéo dài, không quá 24giờ
Trang 20hoặc bệnh não do tăng huyết áp với lú lẫn, hôn mê kèm theo co giật, nôn mữa, nhức đầu dữ dội
Biến chứng trên thận:
Vữa xơ động mạch thận sớm và nhanh
Xơ thận gây tình trạng suy thận dần dần
Hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây tăng huyết áp ác tính
Ở giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ Renin và Angiotensine II trong máu gây cường aldosterone thứ phát
Biến chứng trên mạch máu:
Tăng huyết áp là yếu tố sinh vữa xơ động mạch, tạo điều kiện cho sự hình thành vữa xơ động mạch, phồng động mạch chủ, bóc tách Hiếm gặp nhưng bệnh cảnh rất nặng nề dễ đưa đến tử vong
lượng Theo Keith- Wagener-Barker có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt
Giai đoạn 1: Tiểu động mạch cứng và bóng
Giai đoạn 2: Tiểu động mạch hẹp có dấu bắt chéo (dấu Gunn)
Giai đoạn 3: Xuất huyết và xuất tiết võng mạc
Giai đoạn 4: Phù lan tỏa gai thị
1.1.9 Điều trị tăng huyết áp[3 ], [6 ], [8]
1.1.9.1 Các biện pháp ngoài thuốc: Người bệnh THA tích cực thay đổi lối sống để ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết áp, giảm số thuốc cần dùng
– Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:
+ Giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày)
+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi
+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no
– Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI: body mass index) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2
– Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ
– Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc
Trang 21chuẩn/tuần (nữ) 1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh
– Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào
– Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày
– Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp
lý
– Tránh bị lạnh đột ngột
1.1.9.2 Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc tại tuyến cơ sở:
+ Tăng huyết áp độ 1: có thể lựa chọn một thuốc trong số các nhóm: lợi tiểu thiazide liều thấp; ức chế men chuyển; chẹn kênh canxi loại tác dụng kéo dài; chẹn beta giao cảm (nếu không có chống chỉ định)
+ Tăng huyết áp từ độ 2 trở lên: nên phối hợp 2 loại thuốc (lợi tiểu, chẹn kênh canxi, ức chế men chuyển, ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II, chẹn bêta giao cảm + Từng bước phối hợp các thuốc hạ huyến áp cơ bản, bắt đầu từ liều thấp như lợi tiểu thiazide (hydrochlorothiazide 12.5mg/ngày), chẹn kênh canxi dạng phóng thích chậm (nifedipine chậm (retard) 10-20mg/ngày), ức chế men chuyển (enalapril 5mg/ngày; perindopril 2,5-5 mg/ngày …)
– Quản lý người bệnh ngay tại tuyến cơ sở để đảm bảo bệnh nhân được uống thuốc đúng, đủ và đều; đồng thời giám sát quá trình điều trị, tái khám, phát hiện sớm các biến chứng và tác dụng phụ của thuốc
1.1.10 Kiến thức về tự chăm sóc
1.1.10.1 Khái niệm tự chăm sóc
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1983) đã đưa ra khái niệm về tự chăm sóc sức khỏe như sau: “Tự chăm sóc sức khỏe liên quan đến các hành vi cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện với mục đích tăng cường sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật, hạn chế
ốm đau và hồi phục sức khỏe Những hành vi này được bắt nguồn từ những vốn kiến thức và kỹ năng của cả kinh nghiệm chuyên môn và không có chuyên môn Chúng được những người không có chuyên môn vì bản thân thực hiện một cách riêng rẽ hoặc có sự tham gia phối hợp với các chuyên gia” [23]
Trang 22Hành vi tự chăm sóc sức khỏe là hành động của cá nhân tăng cường hoặc hồi phục lại sức khỏe của mình với tư cách là chủ thể (Kickbusch 1989, Engberg và cs
1995, Clark 1998) Các hành động của công cuộc tự chăm sóc sức khỏe thường nhật, chẳng hạn như tập thể dục, chế độ dinh dưỡng và thư giãn, thường được sử dụng để
đo lường hành vi tự chăm sóc Một số tác giả đã nhấn mạnh “tự chăm sóc là việc chăm sóc được thực hiện bởi chính mình cho chính mình ở một người đã 23 đạt đến một mức độ trưởng thành có thể có hành động thích hợp, có kiểm soát, hiệu quả, và
có mục đích Mục đích của tự chăm sóc có ý thức như vậy là để duy trì sức khỏe" (DeFriece & Gordon năm 1993, Metler & Kemper 1993)
Dựa trên quan điểm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng như phân tích các quan điểm của các tác giả, chúng tôi thấy rằng tự chăm sóc có nghĩa là chăm sóc cho chính bản thân mình Tự chăm sóc liên quan đến các hoạt động cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện với mục đích tăng cường sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật, hạn chế
ốm đau, và hồi phục sức khỏe Chúng được thực hiện bởi những người không chuyên nhân danh chính mình, hoặc riêng rẽ hoặc có sự tham gia phối hợp với các chuyên gia Tự chăm sóc là một phần của một lối sống cá nhân, mà được định hình bởi các giá trị và niềm tin tiếp thu từ các nền văn hóa cụ thể [23]
1.1.10.2 Các nội dung kiến thức tự chăm sóc của người bệnh THA
* Kiến thức cơ bản về bệnh THA
Người bệnh cần nắm được một số kiến thức cơ bản:
*Kiến thức về định nghĩa: Tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg
và/ hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg
* Kiến thức về biến chứng tăng huyết áp
- Biến chứng về tim: Cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim…
- Biến chứng về não: Xuất huyết não, nhũn não, bệnh não do THA…
- Biến chứng về thận: Đái ra protein, phù, suy thận…
- Biến chứng về mắt: Mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết và phù gai thị
- Biến chứng về mạch máu: Phình hoặc phình tách thành động mạch
* Kiến thức về tuân thủ dùng thuốc
Người bệnh tuân thủ sử dụng thuốc khi:
- Người bệnh uống thuốc đúng và đủ theo chỉ định của bác sĩ
Trang 23- Người bệnh không tự ngừng sử dụng thuốc khi chưa hết đợt điều trị
- Người bệnh không tự bớt thuốc
- Người bệnh không tự uống thêm thuốc
* Kiến thức về điều chỉnh lối sống
Người bệnh tăng huyết áp cần phải điều chỉnh lối sống phù hợp:
- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:
+ Giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày)
+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi
+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no
- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI: body mass index) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2 Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ
- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày
- Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ) 1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh
- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào
- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý
Trang 24nhất 2 loại thuốc chống THA, và khoảng 30% cần 3 loại thuốc hay nhiều hơn Một nửa số người bệnh bỏ điều trị trong vòng một năm sau chẩn đoán Chỉ một nửa người bệnh tuân thủ điều trị, sự tuân thủ điều trị này cũng bị ảnh hưởng rõ bởi sự chọn lựa thuốc, bệnh kết hợp và sử dụng dịch vụ sức khoẻ Nhiều khảo sát đã cho thấy khoảng 3/4 số người bệnh THA không đạt được HA tối ưu Lý do thất bại phức tạp bao gồm không phát hiện sớm THA, sự tuân thủ điều trị không hoàn toàn của người bệnh , thiếu hướng dẫn của thầy thuốc và những liệu pháp đầy đủ[17]
Một phân tích tổng quan của Cibele D Ribeiro và cộng sự (2015) về vai trò của can thiệp giáo dục sức khỏe để cải thiện kiểm soát huyết áp ở người bệnh tăng huyết
áp cho thấy can thiệp giáo dục làm thay đổi niềm tin của người bệnh theo hướng tích cực, nâng cao nhận thức về bệnh, dẫn đến có những thay đổi hành vi như tuân thủ dùng thuốc, điều chỉnh lối sống để từ đó kiểm soát huyết áp và phòng ngừa các biến chứng do tăng huyết áp [22]
Nghiên cứu của Magadza C và cộng sự (2009) về hiệu quả của can thiệp giáo dục về kiến thức vủa người bệnh về tăng huyết áp, niềm tin của người bệnh về thuốc điều trị và sự tuân thủ của họ đã chỉ ra rằng can thiệp giáo dục sức khỏe làm tăng kiến thức về bệnh và có ảnh hưởng tích cực vào niềm tin của họ với thuốc điều trị [20]
Ho TM Và cộng sự năm 2016 nhận định về tác động của can thiệp giáo dục ở người bệnh tăng huyết áp cho thấy kiến thức về định nghĩa tăng huyết áp tăng 48% lên 99% sau can thiệp; kiến thức đúng về biến chứng thận và mắt từ 54% và 58 % đều tăng lên 100 % sau can thiệp và kiến thức về thuốc điều trị từ 51% tăng lên 8% sau
can thiệp giáo dục [19]
Trang 25Estrada D và cộng sự (2012) đã tiến hành một nghiên cứu thử nghiệm về can thiệp giáo dục sức khỏe trên người cao tuổi tăng huyết áp cho thấy ở nhóm người cao tuổi tăng huyết áp nhận được bài viết về tăng huyết áp và can thiệp bằng miệng về bệnh và các biến chứng về bệnh thì có tỷ lệ trả lời đúng về kiến thức bệnh, biến chứng liên quan đến cao huyết áp và thuốc điều trị cao hơn so với nhóm không can thiệp[18]
EL Ozoemena và cộng sự (2019) trong một nghiên cứu bán thử nghiệm về tác động của can thiệp giáo dục sức khỏe đối với kiến thức liên quan đến huyết áp, phòng ngừa và thực hành tự chăm sóc ở Nigeria cho thấy điểm trung bình chung kiến thức của người bệnh tăng lên có ý nghĩa thống kê sau can thiệp; đặc biệt trong thực hành tự chăm sóc chất lượng giấc ngủ, thay đổi chế độ ăn uống, tuân thủ dùng thuốc ở nhóm
có can thiệp có sự thay đổi đáng kể so với nhóm chứng sau can thiệp tháng thứ 4 [21]
1.2.2 Thực trạng về kiến thức tự chăm sóc của người bệnh tăng huyết tại Việt Nam
Tại Việt Nam tần suất tăng huyết áp ở người lớn ngày càng gia tăng Trong những năm 1960 tỷ lệ tăng huyết áp khoảng 1%, năm 1992 11,2%, Năm 2001 16,3%, năm 2005 là 18,3%, năm 2008 là 25,1% ( cứ 4 người lớn nước ta thì có 1 người bị tăng huyết áp) [9],[13]
Hình ảnh 6: Xu hướng THA tại Việt Nam
Trong số những người bị tăng huyết áp có tới 52% ( khoảng 5,7 triệu người) là không biết mình có bị tăng huyết áp, 30% ( khoảng 1,6tr người) của những người đã biết bị tăng huyết áp vẫn không có một biện pháp điều trị nào và 64% những người đó ( khoảng 2,4 triệu người) [ 8], [15] tăng huyết áp được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp về huyết áp mục tiêu Như vậy hiện nay có khoảng 9,7 triệu người dân