1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thay đổi kiến thức và thực hành về dự phòng biến chứng cho người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện hữu nghị đa khoa tỉnh nghệ an năm 2021

98 66 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả thực trạng và đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành về dự phòng biến chứng của người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Hữu Nghị đa kh

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 TS.BS Nguyễn Văn Tuấn 2.TTND.TS.BS Ngô Huy Hoàng

NAM ĐỊNH, 2021

Trang 3

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả thực trạng và đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành về

dự phòng biến chứng của người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa tỉnh Nghệ An sau chương trình can thiệp giáo dục

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Can thiệp giáo dục sức khỏe được thực hiện trên 89 người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa tỉnh Nghệ An từ tháng 2 đến tháng 4/2021 Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ kiến thức, thực hành về dự phòng biến chứng cho người bệnh tăng huyết áp

độ đặc hiệu với CVI 0,82 và độ tin cậy cronback anpha 0,72

Kết quả: Trước can thiệp, điểm trung bình kiến thức của người bệnh tham gia nghiên cứu đạt 30,28±4,63 điểm trên tổng số 56 điểm của thang đo, điểm trung bình thực hành đạt 14,30±6,61 điểm trên tổng số 32 điểm của thang đo Tỷ lệ người bệnh

có kiến thức và thực hành ở mức đạt theo thứ tự là 69,7% và 44,9%

Sau can thiệp, điểm trung bình kiến thức của người bệnh tại thời điểm T1 và thời điểm T2 lần lượt là 55,30±4,36 điểm và 52,89±5,37 điểm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp (p<0,05) Tỷ lệ người bệnh có kiến thức ở mức độ đạt tại thời điểm T1 là 100% và giữ nguyên 100% ở thời điểm sau can thiệp 1 tháng (Thời điểm T2) Điểm trung bình thực hành sau can thiệp 1 tháng đạt 19,40±5,89 điểm cao hơn có ý nghĩa so với 14,30±6,61 điểm trước can thiệp (p<0,05) Tỷ lệ người bệnh thực hành ở mức độ đạt sau can thiệp một tháng đạt 75,3% cao hơn so với 44,9% trước can thiệp

Kết luận: Kiến thức và thực hành về dự phòng biến chứng do tăng huyết áp của người bệnh tham gia nghiên cứu còn hạn chế, trong đó hạn chế nhiều hơn về thực hành nhưng được cải thiện rõ rệt sau chương trình giáo dục sức khỏe

Từ khóa: Tăng huyết áp, biến chứng, giáo dục sức khỏe

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể Ban Giám hiệu, cô giáo chủ nhiệm cùng các thầy cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã nhiệt tình, trách nhiệm truyền thụ kiến thức và luôn hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Nhà trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS.BS Nguyễn Văn Tuấn

và TTND.TS.BS Ngô Huy Hoàng, những người thầy tâm huyết đã luôn động viên, khích lệ, dành thời gian trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn Ban giám đốc cùng tập thể cán bộ nhân viên Khoa khám bệnh, Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa tỉnh Nghệ An đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành việc thu thập số liệu cho luận văn của mình

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu nhà trường, các đồng nghiệp tại Trường Đại học Y khoa Vinh nơi tôi công tác, cùng tập thể lớp Cao học Điều dưỡng khóa 6 đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình tôi - những người

đã luôn ở bên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, chia sẻ những khó khăn, vướng mắc, động viên, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Nam Định, ngày 25 tháng 11 năm 2021

Nguyễn Thị Hương

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Nguyễn Thị Hương - Học viên lớp cao học khóa 6, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS.BS Nguyễn Văn Tuấn và TTND.TS.BS.Ngô Huy Hoàng

2 Công trình nghiên cứu này của tôi không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác

đã được công bố

3 Các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan đã được đồng ý thu thập và xác nhận của cơ sở nơi nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!

Nam Định, ngày 25 tháng 11 năm 2021

Nguyễn Thị Hương

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM TẮT i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

DANH MỤC CÁC BẢNG IV DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT V ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tăng huyết áp 4

1.2 Chăm sóc, phòng ngừa biến chứng tăng huyết áp 10

1.3 Các nghiên cứu liên quan đến THA và dự phòng biến chứng do THA 11

1.4 Phương pháp đánh giá kiến thức và thực hành về dự phòng biến chứng của người bệnh THA 17

1.5 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu 17

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19

2.3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp có đánh giá trước sau 20

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 20

2.5 Thu thập số liệu 21

2.6 Can thiệp GDSK 23

2.7 Các biến số trong nghiên cứu 25

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 27

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 28

2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 29

2.11 Sai số, biện pháp khắc phục 29

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thông tin chung của người bệnh tham gia nghiên cứu 30

Trang 7

3.2 Thực trạng kiến thức và thực hành về dự phòng biến chứng THA của ĐTNC

trước can thiệp GDSK 33

3.3 Thay đổi kiến thức và thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp của người bệnh tham gia nghiên cứu sau can thiệp giáo dục 39

Chương 4: BÀN LUẬN 43

4.1 Thông tin chung về người bệnh tham gia nghiên cứu 43

4.2 Kiến thức và thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp của ĐTNC 45

4.3 Thay đổi kiến thức và thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp của ĐTNC sau can thiệp 52

4.4 Hạn chế của nghiên cứu 54

KẾT LUẬN 55

KHUYẾN NGHỊ 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: BẢN ĐỒNG THUẬN THAM GIA NGHIÊN CỨU

Phụ lục 2: NỘI DUNGCHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHOẺ VỀ PHÒNG

NGỪA BIẾN CHỨNG CHO NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

Phụ lục 3: PHIẾU ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ DỰ PHÒNG

BIẾN CHỨNG CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

Phụ lục 4: TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ

Phụ lục 5: DANH SÁCH NGƯỜI BỆNH THAM GIA NGHIÊN CỨU

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CAN THIỆP GDSK

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Phân độ THA của Bộ Y tế Việt Nam 4

Bảng 2.1 Biến số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 25

Bảng 2.2 Biến số BMI, kiến thức, thực hành của đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC 30

Bảng 3.2 Đặc điểm về chỉ số khối cơ thể của ĐTNC 31

Bảng 3.3 Đặc điểm liên quan đến tăng huyết áp của ĐTNC 32

Bảng 3.4 Nguồn thông tin về tăng huyết áp mà người bệnh nhận được 32

Bảng 3.5 Kiến thức về chỉ số tăng huyết áp và nguyên tắc điều trị 33

Bảng 3.6 Kiến thức về biến chứng do tăng huyết áp 33

Bảng 3.7 Kiến thức dấu hiệu và xử trí biến chứng tăng huyết áp 34

Bảng 3.8 Kiến thức về dấu hiệu và xử trí cơn tăng huyết áp kịch phát 35

Bảng 3.9 Kiến thức về các yếu tố làm tăng nguy cơ biến chứng 35

Bảng 3.10 Kiến thức về lối sống phòng biến chứng do tăng huyết áp 36

Bảng 3.11 Phân loại kiến thức về phòng biến chứng do tăng huyết áp 36

Bảng 3.12 Thực hành về đo huyết áp của người bệnh 37

Bảng 3.13 Thực hành khi huyết áp tăng cao đột ngột của người bệnh 37

Bảng 3.14 Tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh 38

Bảng 3.15 Thực hành lối sống giảm nguy cơ biến chứng do THA 38

Bảng 3.16: Thực hành phòng cơn tăng huyết áp kịch phát 38

Bảng 3.17 Kết quả chung thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp 39

Bảng 3.18 Thay đổi điểm kiến thức của người bệnh về phòng biến chứng do tăng huyết áp 39

Bảng 3.19 Thay đổi điểm thực hành của người bệnh về phòng biến chứng do tăng huyết áp 41

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH

Hình 2.1 Nghiên cứu can thiệp một nhóm, có so sánh trước – sau 20

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm giới tính của đối tượng nghiên cứu 30 Biểu đồ 3.2 Đặc điểm trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 31 Biểu đồ 3.3 Thay đổi phân loại kiến thức của người bệnh về phòng biến chứng do

tăng huyết áp 41 Biểu đồ 3.4 Thay đổi phân loại thực hành của người bệnh về phòng biến chứng do

tăng huyết áp 42

Trang 10

Người cao tuổi Nhồi máu cơ tim Tai biến mạch máu não Tăng huyết áp

Nhân viên y tế

Tổ chức Y tế Thế giới Giáo dục sức khỏe Truyền thông giáo dục sức khỏe

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp đã và đang là căn bệnh có xu hướng tăng nhanh trên toàn cầu cũng như ở Việt Nam trong thời gian gần đây Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, tăng huyết áp hiện tác động đến gần 1 tỷ người trên khắp thế giới và có thể tăng lên mức 1,5 tỷ người vào năm 2025 [35] Hiện nay, ở Châu Á, cứ 4 người trưởng thành thì có 1 người bị tăng huyết áp [30] Tại Việt Nam, nếu năm 1980 cho thấy có khoảng 10% người bệnh tăng huyết áp thì đến năm 2009 con số này đã tăng lên 25%

và năm 2015 là trên 40% ở người trưởng thành [16] Đây cũng là căn bệnh có tỷ lệ gây ra các bệnh lý về tim mạch nhiều nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu hiện nay

Tăng huyết áp được xem như là “kẻ giết người thầm lặng” vì bệnh thường không có triệu chứng, tiến triển theo thời gian và có thể gây ra những biến chứng nặng nề và nguy hiểm Tỷ lệ tử vong và tàn phế do tăng huyết áp là 20-30% và biến chứng xuất huyết não lên tới 45-50% [28] Các biến chứng của tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong các bệnh về tim mạch Theo

số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2013, trên toàn cầu bệnh tim mạch có

17 triệu ca tử vong mỗi năm và hơn một phần ba trong số đó có nguyên nhân là tăng huyết áp [30] Ở người cao tuổi, tử vong do tăng huyết áp chiếm đến 81% trong tổng

số ca tử vong [28] Trước thực tế này, từ năm 2000, Liên đoàn Tim mạch Thế giới (World Heart Federation – WHF) đã quyết định chọn ngày Chủ nhật cuối cùng của Tháng 9 là “Ngày Tim mạch Thế giới” (World Heart Day) nhằm nâng cao nhận thức trong cộng đồng về bệnh lý tim mạch, đặc biệt là bệnh tăng huyết áp [35]

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu về biến chứng của tăng huyết áp cũng đã cho kết quả tương tự và cho thấy tăng huyết áp thực sự là một gánh nặng về kinh tế - tinh thần đối với mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng [9] Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây suy tim ở người lớn, 46% người bệnh nhồi máu cơ tim cấp được điều trị tại Viện Tim Mạch Việt Nam có liên quan đến tăng huyết áp và hơn 1/3 số người bệnh tai biến mạch máu não điều trị tại Khoa Thần Kinh, Bệnh viện Bạch Mai có

Trang 12

nguyên nhân là tăng huyết áp [26] Nhiều nghiên cứu đã cho thấy cải thiện kiến thức

và thực hành dự phòng các biến chứng do tăng huyết áp cho người bệnh (NB) thông qua can thiệp giáo dục sức khoẻ là một trong các biện pháp có hiệu quả góp phần giảm tỷ lệ các biến chứng do tăng huyết áp [5], [20] Kiểm soát huyết áp hiệu quả làm giảm 40% nguy cơ đột qụy và 15% nguy cơ nhồi máu cơ tim [29] Tuy nhiên, từ kết quả của các nghiên cứu có sẵn lại cho thấy tỷ lệ kiểm soát tốt huyết áp bằng thuốc trên thế giới chỉ đạt từ 25 - 40% do tăng huyết áp thường đi kèm những yếu tố nguy

cơ như hút thuốc lá, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì, ít vận động thể lực,… Các yếu tố nguy cơ nếu không được phòng tránh một cách đầy đủ, kết quả lại làm trầm trọng thêm tình trạng tăng huyết áp và các biến chứng của nó [9] Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Hương Giang tại Ninh Bình (2015), cho thấy tỷ lệ thực hành phòng biến chứng của người bệnh tăng huyết áp chỉ đạt là 28,7% [5] Nghiên cứu của Đinh Thị Thu (2018), tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Quảng Ninh cũng cho thấy kết quả không cao về tỷ lệ (54,6%) người bệnh tăng huyết áp có kiến thức và thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp [22]

Nghệ An là tỉnh nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ - thuộc miền Trung Việt Nam, với số dân là 3.327.791 người Theo ước tính, tỷ lệ người dân bị tăng huyết áp tại Nghệ An vào khoảng 830.000 – 850.000 người, đây là một con số rất đáng “báo động đỏ” [18] Những người phát hiện THA đều được quản lý tại phòng khám ban đầu và được cấp sổ khám bệnh theo dõi định kỳ hàng tháng Tính đến thời điểm hiện nay, tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh Nghệ An, đã có một số nghiên cứu mô tả về tình hình tăng huyết áp được thực hiện nhưng chưa có một nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khoẻ về việc phòng ngừa các biến chứng do tăng huyết áp cho người bệnh được công bố Với mong muốn đóng góp vào công tác quản lý người bệnh tăng huyết áp, hạn chế các biến chứng do tăng huyết áp gây ra cho người bệnh; góp phần mở rộng

và cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế tại địa phương Chúng tôi tiến hành nghiên cứu: Thay đổi kiến thức và thực hành về dự phòng biến chứng cho người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh Nghệ An năm 2021 Với 2 mục tiêu như sau:

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tăng huyết áp

1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg [30]

Tăng huyết áp (THA) có thể là tăng cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương hoặc chỉ tăng một trong hai chỉ số Các chỉ số huyết áp 120-139/80-90mmHg, Theo JNC7 (Joint National Committee 7 - Uỷ ban Quốc gia lần thứ 7 của Hoa Kỳ) được coi là tiền THA, nghĩa là có nguy cơ bị THA thật sự cao gấp 2 lần so với người có huyết áp bình thường là < 120/80mmHg

Tại Việt Nam, theo Bộ Y tế (2010) một người trưởng thành (≥ 18 tuổi) được gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và/hoặc huyết

áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg [1]

1.1.2 Phân độ tăng huyết áp

Hiện nay có 3 phân loại THA thường được sử dụng trên lâm sàng là phân độ theo Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC - Join National Committee) lần thứ VII năm 2003 Phân độ theo European Society of Hypertension/European Society of Cardiology (ESH/ESC) Hội tăng huyết áp Châu

Âu / Hội Tim mạch Châu Âu năm 2007 và phân độ THA theo bộ y tế năm 2010 [1], [14], [35] Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phân độ tăng huyết áp của Bộ Y

tế Việt Nam [1]

Bảng 1.1: Phân độ THA của Bộ Y tế Việt Nam

Phân loại HA tâm thu (mmHg) HA tâm trương (mmHg)

Trang 15

THA độ 1 140 – 159 và/hoặc 90 – 99

1.1.3 Các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp

Ăn mặn

Nguy cơ mắc bệnh THA thường hay gặp ở người có thói quen ăn mặn Muối hiện được coi là một trong những nguy cơ quan trọng của THA Theo khuyến cáo của WHO, người trưởng thành mỗi ngày chỉ nên sử dụng ít hơn 6g muối (một thìa cà phê) Thực tế cũng cho thấy người dân ở vùng ven biển có tỷ lệ THA cao hơn so với người dân ở vùng đồng bằng và miền núi [30]

Hút thuốc lá, thuốc lào

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Triệu về thực trạng bệnh THA và một số yếu tố liên quan đến bệnh THA tại nhà máy nhiệt điện Phả Lại, số người mắc tiền THA, THA độ I và THA độ II ở những người hút thuốc lá cao hơn so với những người không hút thuốc lá (tương ứng 8,5; 13,4 và 5,5% với 6,8; 13,7 và 2,5%) [25] Đái tháo đường

Ở những người bị đái tháo đường tỷ lệ bị bệnh THA cao gấp đôi so với người không bị đái tháo đường (ĐTĐ) Khi NB có cả bệnh THA và ĐTĐ sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng ở các mạch máu lớn và nhỏ, làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong so với người bệnh THA đơn thuần Vì vậy khi bị ĐTĐ, cần phải điều trị tốt bệnh này để góp phần khống chế được bệnh THA kèm theo

Rối loạn Lipid máu

Cholesterol và triglycerid máu là các thành phần chất béo ở trong máu Chúng thường được gọi là các thành phần mỡ của máu hay chính xác hơn là lipid máu Nồng

độ cholesterol máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa động mạch và dần dần làm hẹp lòng các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác trong cơ thể Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi và cũng chính là yếu tố gây THA

Vì vậy cần ăn chế độ giảm lipid máu sẽ giúp phòng bệnh tim mạch nói chung và bệnh

Trang 16

THA nói riêng Nhóm tăng triglycerid có nguy cơ THA cao gấp 1,34 lần so với nhóm triglyceride bình thường theo nghiên cứu của Nguyễn Thái Hoàng và cộng sự trên

948 NCT, nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến huyết áp ở NCT năm

2012 [9]

Tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp

Tiền sử gia đình, nhất là trực hệ (bố, mẹ, anh, chị, em, ruột), có người mắc bệnh THA, béo phì, bệnh tim mạch, rối loạn lipid máu là nguy cơ cao cho thành viên trong gia đình mắc các bệnh mãn tính trên nói chung và THA nói riêng Vì vậy, những người mà tiền sử gia đình có người thân bị THA càng cần phải cố gắng loại bỏ các yếu tố nguy cơ để có thể phòng tránh được bệnh THA

Thừa cân, béo phì

Trọng lượng của cơ thể con người có mối quan hệ khá tương đồng với bệnh THA Có một công thức đơn giản để tính trạng thái thừa cân, đó là tính chỉ số khối

cơ thể (BMI)

BMI = cân nặng(kg)/{chiều cao(m)}2

Ở người bình thường, chỉ số BMI sẽ giao động trong khoảng 18,5-24,9

Tỷ lệ THA tăng dần theo chỉ số cơ thể Body Mass Index (BMI), BMI càng cao, khả năng bị THA càng nhiều với nguy cơ tương đối càng cao [22] Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Ngoạn tại Huế (2009) cho thấy rằng chỉ số BMI càng lớn thì mức

độ THA càng cao (p < 0,05) [25]

Uống nhiều bia, rượu

Người uống nhiều bia, rượu quá mức cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng Đối với những người phải dùng thuốc để

Trang 17

điều trị THA, việc uống bia, rượu quá mức hoặc người bị nghiện rượu sẽ làm mất tác dụng của thuốc hạ huyết áp, làm tăng tỷ lệ TBMMN ở người THA Ở nghiên cứu của Nguyễn Dung và cộng sự năm 2011 tại Thừa Thiên Huế, nhóm NB có thói quen uống rượu bia có tỷ lệ THA là 17,1% cao hơn nhóm không uống rượu bia có tỷ lệ THA là 16,7% [10]

Ít vận động thể lực

Hoạt động thể lực có liên quan đến THA Người ít vận động thể lực hay có lối sống tĩnh tại cũng được xem là một nguy cơ của bệnh THA Tỷ lệ THA tăng dần theo mức giảm hoạt động thể lực, ở nhóm ít hoạt động thể lực có tỷ lệ THA 17,6% cao hơn nhóm có vận động thể lực có tỷ lệ THA 16,7% theo nghiên cứu của Nguyễn Dung và cộng sự, nghiên cứu tình hình bệnh THA tại thành phố Huế và thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011 [3]

Căng thẳng, lo âu quá mức

Khi bị căng thẳng tâm thần kinh, hệ thần kinh giao cảm tăng cường hoạt động giải phóng ra Adrenalin và Noadrenalin làm cho tim tăng co bóp, nhịp tim đập nhanh hơn, động mạch nhỏ co lại và làm HA tăng Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được những người bị căng thẳng thần kinh, lo âu quá mức hay bị stress sẽ làm tăng nhịp tim Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình tính tự lập, kiên nhẫn và luôn luôn biết làm chủ bản thân trước mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống góp phần vào việc phòng THA Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Kim Kế năm 2012 đã chỉ ra người cao tuổi có cuộc sống tinh thần không thoải mái, hay căng thẳng có nguy cơ THA cao gấp 7,4 lần so với người cao tuổi có cuộc sống tinh thần thoải mái [12]

1.1.4 Nguyên nhân tăng huyết áp thứ phát

Đại đa số NB THA (trên 90%) thường không có các dấu hiệu cảnh báo nào trước Quan điểm trước đây cho rằng cứ THA là phải có các dấu hiệu như đau đầu, mặt đỏ bừng, người béo,… là hết sức sai lầm Ở nhiều trường hợp, sự xuất hiện triệu chứng đau đầu đã có thể là sự kết thúc của người bệnh THA do đã bị tai biến mạch máu não (TBMMN) Do vậy, việc kiểm tra huyết áp thường xuyên, đặc biệt đối với những người

có nguy cơ cao là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng [13], [19]

Trang 18

Khoảng 90 - 95 % các trường hợp bị THA là không có nguyên nhân trực tiếp (hay còn gọi THA nguyên phát) Các nhà khoa học nhận thấy có một số yếu tố tác động, phối hợp gây bệnh và liên quan đến sự hình thành, tiến triển của THA nguyên phát, còn được gọi là yếu tố nguy cơ như: Ăn mặn, béo phì, uống nhiều rượu/bia, hút thuốc lá/thuốc lào, ít hoạt động thể lực, tuổi, giới, chủng tộc các yếu tố di truyền, … các yếu tố trên có thể phối hợp với nhau ngay trên cùng một NB

Có khoảng dưới 10% số người bị THA là do một bệnh hoặc yếu tố nào đó gây

ra Đây gọi là THA thứ phát, hay THA có căn nguyên Một số bệnh có thể là nguyên nhân gây ra THA như [19]:

- Các bệnh về thận cấp hoặc mãn tính: viêm cầu thận cấp/mãn, viêm thận kẽ, sỏi thận, suy thận, thận đa nang…

- Hẹp động mạch thận

- Bệnh về nội tiết: U tủy thượng thận

- Cường Aldosterone tiên phát (hội chứng Conn)

- Hội chứng Cushing

- Bệnh lý tuyến giáp, cận giáp, tuyến yên

- Do thuốc, liên quan đến thuốc: Hormone, corticoid

- Hẹp eo động mạch chủ

- Tăng huyết áp do nhiễm độc thai nghén

1.1.5 Biến chứng tăng huyết áp

* Các biến chứng thường gặp:

Biến chứng ở tim: Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân tử vong cao nhất đối với THA: dày thất trái gây suy tim toàn bộ, suy mạch vành gây nhồi máu cơ tim, phù phổi cấp…[13] THA thường xuyên sẽ làm sức cản ngoại vi tăng dẫn đến tim phải làm việc nhiều để thắng sức cản đó theo thời gian dẫn đến suy tim trái, suy tim phải và suy tim toàn bộ Về lâm sàng, lúc đầu NB mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, về sau với gắng sức vừa cũng khó thở và đến giai đoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi đi ngủ Ngoài ra người bệnh còn có da xanh, phù, tím tái… Động mạch vành cũng dần dần bị xơ vữa do tăng huyết áp thúc đẩy, gây ra

Trang 19

thiếu máu cơ tim cục bộ làm xuất hiện những cơn đau thắt ngực, mức độ nặng có thể gây nhồi máu cơ tim Bệnh THA được coi là yếu tố đe dọa quan trọng trong bệnh mạch vành [27]

Biến chứng ở não: Là những biến chứng rất thường gặp và thường là nặng nề với người bệnh THA THA lâu ngày làm cho động mạch não mất độ đàn hồi, biến dạng, dễ hình thành những túi phồng nhỏ, rất dễ vỡ khi có cơn THA kịch phát THA cũng thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch não, lòng động mạch não hẹp lại, gây cản trở tuần hoàn, giảm lưu lượng máu tới nuôi tổ chức não gây ra tình trạng thiếu máu não, hoặc gây tắc mạch dẫn đến tình trạng nhồi máu não Các biến chứng não ở người bệnh THA rất đa dạng: Từ tai biến mạch máu não (TBMMN) đến xơ vữa mạch não.…có thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề [13] TBMMN có thể xảy ra đột ngột vào bất cứ thời điểm nào trong ngày nhưng chủ yếu là vào ban đêm hoặc khi thời tiết thay đổi

Biến chứng ở thận: THA gây tổn thương thận, tình trạng THA cao và kéo dài làm tổn thương và phá hủy các mạch máu trong cơ thể, làm giảm lượng máu cung cấp đến thận và các cơ quan khác, động mạch thận dần dần bị xơ hóa, ảnh hưởng đến chức năng lọc của cầu thận Do đó, THA là nguyên nhân chính dẫn đến suy thận mạn Triệu chứng lâm sàng của thận trong THA rất kín đáo Thường ở thời gian đầu thận

bù trừ tốt nên các biểu hiện thường nghèo nàn như thiếu máu nhẹ, chán ăn, mệt mỏi, tức 2 bên hố lưng Những xét nghiệm cần làm chẩn đoán tổn thương thận do THA dựa vào creatinin máu để đánh giá mức lọc máu cầu thận, lượng protein trong nước tiểu [2] Khi người bệnh (NB) đã bị bệnh thận mạn do THA đến giai đoạn không thể điều chỉnh bằng thuốc sẽ dẫn đến chi phí điều trị tăng lên rất nhiều do phải chạy thận nhân tạo định kỳ dẫn đến nhiều NB nghèo không có khả năng chi trả phải ngưng điều trị ảnh hưởng đến tính mạng

Biến chứng ở mắt: Các biến chứng về mắt tiến triển qua nhiều giai đoạn từ

mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết và phù gai thị Khi soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt Biến chứng này tuy ít gặp nhưng dễ nhầm với các bệnh về mắt hoặc biến chứng mắt do đái tháo đường

Trang 20

Biến chứng ở mạch máu: THA là yếu tố gây xơ vữa động mạch, phồng động mạch chủ Các biến chứng về mạch máu ngày càng gặp nhiều hơn trong thời gian gần đây và ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của NB

1.2 Chăm sóc, phòng ngừa biến chứng tăng huyết áp

1.2.1 Uống thuốc điều trị tăng huyết áp

THA là bệnh mạn tính, chính vì vậy việc uống thuốc điều trị THA hàng ngày

và liên tục là điều rất quan trọng giúp NB ổn định HA, cải thiện được tình trạng bệnh, hạn chế tối đa các biến chứng Nhưng mức độ tuân thủ dùng thuốc ở các nghiên cứu còn chưa cao Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm tại địa bàn nghiên cứu chỉ có 59,6% NB uống thuốc điều trị THA thường xuyên [21]

1.2.2 Tích cực thay đổi lối sống

Tại Việt Nam theo hướng dẫn chẩn đoán, điều trị THA của Bộ Y Tế áp dụng cho mọi NB để ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh và giảm nguy cơ mắc biến chứng do THA gây ra [1] Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống: áp dụng cho mọi NB để ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết áp, giảm số thuốc cần dùng …

+ Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:

+ Giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày)

+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi

+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no

Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI: body mass index) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2

Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ

Hạn chế uống rượu, bia: Số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ) 1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh

Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào

Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày

Trang 21

Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp

có thể có của biến chứng [1]

1.3 Các nghiên cứu liên quan đến THA và dự phòng biến chứng do THA

1.3.1 Trên thế giới

THA là một bệnh lý tim mạch phổ biến và mang tính chất xã hội Theo thống

kê tại Hoa Kỳ năm 2006, có khoảng 74,5 triệu người Mỹ bị THA, và cứ ba người lớn

có một người bị THA Trong tổng số người bị THA tại Hoa Kỳ có khoảng 77,6% là

đã biết bị THA Trong số người bệnh bị THA, chỉ có 67,9% được điều trị và chỉ có 44,1% là được khống chế tốt trong khi có tới 55,9% không được khống chế tốt Tại một số nước như Canada, Anh, Đức… tỷ lệ người bệnh THA được điều trị cũng chỉ

từ 27 - 47% [5] Theo Cẩm nang giáo dục sức khỏe về các bệnh không lây nhiềm của WHO cho thấy: tỷ lệ NB tử vong do các bệnh về tim mạch tăng khi HA tăng, cụ thể:

Trang 22

HA sẽ cắt giảm nguy cơ đột quỵ 30%, giảm 25% nguy cơ nhồi máu cơ tim, 23% bệnh thận mãn tính [29]

Nghiên cứu của của Rịjan J (2019): Một bảng câu hỏi sử dụng cho NB gồm

16 câu hỏi về: kiến thức (5), thái độ (5) và thực hành (6) Kết quả: Kiến thức về THA,

HA bình thường, các triệu chứng và biến chứng lần lượt là 74%, 54,5%, 41,5% và 37,5% Thái độ tích cực về việc dùng thuốc thường xuyên, vai trò của thuốc, kiểm soát chế độ ăn, hạn chế muối và hoạt động thể chất lần lượt là 94%, 40,5%, 74%, 76% và 67% NB thực hiện đo HA thường xuyên, theo dõi - hạn chế muối và tập thể dục lần lượt ở 77%, 77%, 72% Hầu hết NB đều có thái độ và thực hành tích cực trừ việc thực hành các bài tập thể dục thường xuyên Do đó, cần nâng cao nhận thức về các triệu chứng, biến chứng và tầm quan trọng của hoạt động thể chất, đặc biệt là ở các NB nam [36]

Nghiên cứu Pugie Tawanda Chimberengwa và cs (2019): Có 304 người được hỏi đã tham gia vào nghiên cứu, nữ giới chiếm 65,4% Trong đó, 25% người được hỏi về thuốc không biết tình trạng kiểm soát HA của họ Kiến thức về THA còn kém, với 64,8% NB cho rằng căng thẳng là nguyên nhân chính của THA, 85,9% cho rằng đánh trống ngực là triệu chứng của tăng huyết áp và 59,8% người được hỏi cho thêm muối vào bữa ăn Việc thiếu các kiến thức về bệnh THA góp phần làm giảm nhận thức và giảm tuân thủ điều trị ở NB Kiến thức về THA trong cộng đồng nên tập trung vào việc phòng ngừa ban đầu vì điều này có hiệu quả về chi phí ở những nơi có nguồn lực thấp [39]

Nghiên cứu của Cibele D Ribeiro (2014) cho thấy: THA là một tình trạng hầu như được quản lý hoàn toàn bởi nhóm chăm sóc chính bao gồm nhiều chuyên gia y

tế như bác sĩ, y tá, dược sĩ và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác như bác sĩ vật

lý trị liệu, những người thường xuyên làm việc trong lĩnh vực phục hồi chức năng tim [33]

Trong một nghiên cứu của Mazzaglia và cộng sự (2009): Tiến hành trên 18.000 NB THA mới được chẩn đoán, theo dõi trung bình 4,6 năm, kết quả cho thấy

Trang 23

giảm 38% nguy cơ biến cố tim mạch (p = 0,032) ở nhóm NB tuân thủ tốt (tỉ lệ ngày dùng thuốc ≥ 80%) so với nhóm NB tuân thủ kém (số ngày dùng thuốc ≤ 40%) [38]

Nghiên cứu của Dragomir A và cộng sự (2010) cho rằng những NB tuân thủ điều trị THA kém (số ngày dùng thuốc < 80%) sẽ dễ mắc các bệnh như bệnh mạch vành, đột quỵ hoặc suy thận mạn trong thời gian theo dõi 3 năm [34] Do đó, cải thiện tuân thủ sử dụng thuốc là tối quan trọng để NB đạt được và duy trì được sự kiểm soát

HA, về lâu dài giảm tình trạng bệnh tật và tử vong do bệnh tim mạch và cải thiện chất lượng cuộc sống cũng như giảm chi phí chăm sóc sức khỏe [34]

Ở Châu Á, trong một nghiên cứu tại Trung Quốc, người bệnh THA được quản

lý, điều trị chủ yếu là tại các cơ sở y tế, thuốc điều trị được cung ứng từ 2 nguồn (do chính phủ và NB tự túc) Trong số người bệnh THA, chỉ có 44,7% biết về HA cao của mình; 28,2% dùng thuốc chống THA và chỉ có 8,1% đạt được kiểm soát HA mục tiêu trong tổng 28,2% người bệnh THA được quản lý [25]

Bệnh THA là một bệnh rất nguy hiểm nhưng kiến thức, thái độ, thực hành của người dân nói chung và của người bị THA nói riêng về bệnh này còn nhiều hạn chế

và chưa được quan tâm đúng mức Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về kiến thức, thái độ và thực hành về bệnh THA cũng như điều trị THA nhưng chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về kiến thức, thực hành của những NB về dự phòng các biến chứng của bệnh THA Nghiên cứu của Piwonska A tại Ba Lan (2003 – 2005) tiến hành trên 6977 nam và 7792 nữ có tuổi từ 20 – 74 tuổi, cho thấy có 59% nam giới và 69% nữ giới nhận thức được bệnh của mình, các biến chứng của THA được biết đến nhiều nhất là TBMMN (58% nam, 69% nữ), nhồi máu cơ tim (60% nam, 65% nữ) và có tới 32% nam và 23% nữ không biết bất kỳ biến chứng nào của THA [17] Mặc dù có nhiều nghiên cứu đã cho thấy kiểm soát HA có hiệu quả cũng làm giảm biến chứng của các bệnh tim mạch và tỷ lệ tử vong Cụ thể, việc kiểm soát HA hiệu quả làm giảm 40% nguy cơ đột qụy và 15% nguy cơ nhồi máu cơ tim, nhưng tỷ

lệ kiểm soát tốt HA bằng thuốc trên thế giới chỉ đạt từ 25 – 40% [9] Đây là những kết quả còn rất hạn chế trong việc dự phòng các biến chứng và hậu quả do bệnh THA gây nên

Trang 24

1.3.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, THA là nguyên nhân hàng đầu gây suy tim tại cộng đồng ở người lớn, 46% NB nhồi máu cơ tim cấp được điều trị tại Viện Tim Mạch Việt Nam (2005) có liên quan đến THA và hơn 1/3 người bệnh TBMMN điều trị tại Khoa Thần Kinh, Bệnh viện Bạch Mai có nguyên nhân là THA [11] Hầu hết các nghiên cứu về THA tập trung vào đánh giá thực trạng THA và các yếu tố nguy cơ, hoặc các nghiên cứu về tuân thủ điều trị ở người bệnh Phần lớn các nghiên cứu về THA từ trước tới nay đều chỉ ra nhận thức của người dân trong cộng đồng về THA vẫn còn rất nhiều hạn chế và thái độ của họ với việc điều trị THA nói chung và điều trị để đạt được chỉ

số HA mục tiêu còn khá thờ ơ Một vài nghiên cứu gần đây cũng bắt đầu quan tâm đến việc phòng biến chứng và các khuyến cáo về lối sống trong sinh hoạt hàng ngày

để phòng biến chứng bên cạnh việc uống thuốc điều trị THA của người bệnh

Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Hương Giang năm 2015 tại Ninh Bình cho thấy tỷ lệ đạt kiến thức phòng biến chứng tương đối cao (82,2%) Hầu hết người bệnh biết rằng biến chứng của THA là TBMMN (98,2%) và suy tim (94,5%) Các biến chứng khác ít hơn như: Biến chứng về mạch máu (48,7%), mờ mắt (36,7%), suy thận (31,3%) Và có một NB cho rằng biến chứng của THA là gây đau nhức người (0,4%), nhưng tỷ lệ người bệnh có thực hành phòng biến chứng THA lại thấp (28,7%) [5]

Nghiên cứu khác của Nguyễn Phan Thạch năm 2015 tại Bình Định đánh giá chung về kiến thức của NB thì chỉ có 48,4% NB được trang bị kiến thức đúng về phòng biến chứng THA và vẫn còn đến hơn 50% NB là chưa đạt về kiến thức này Trong số này tỷ lệ đạt của nam là 49,7% và của nữ là 47,4% Đánh giá chung về thực hành của NB thì chỉ có 42% NB được trang bị kiến thức đúng về phòng biến chứng THA và vẫn còn đến 58% NB là chưa đạt về thực hành này Trong số này, tỷ lệ nam

có thực hành đạt là 43,4% và tỷ lệ này ở nữ là 40,6% [20] Nghiên cứu của Châu Văn Nga (2015) tại bệnh viện Sa Đéc – Đồng tháp, NB có kiến thức đúng về phòng tránh tai biến do bệnh THA gây ra chiếm tỉ lệ lớn 66,4%, kiến thức không đúng chiếm tỉ lệ thấp 33,6% Về thực hành NB có thực hành đúng về phòng biến chứng có tỉ lệ 56,6%, không đúng 43,4% [15] Nghiên cứu của Đinh Văn Sơn (2012) trên 205 đối tượng bị

Trang 25

THA tại huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc, NB có kiến thức về phòng tránh biến chứng của bệnh THA đạt là 38% trong đó ở nam là 48,5% và nữ là 27,5% Tỷ lệ người có thực hành về phòng tránh biến chứng đạt là 61%, trong đó nam là 61,2% và nữ là 61,8% [19] Nghiên cứu của Lê Đức Hạnh cùng cộng sự (2013) cũng cho kết quả tỷ

lệ người cao tuổi đạt kiến thức là 61,2% và thực hành dự phòng biến chứng THA chỉ đạt 55,3% [6]

Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Hồng năm 2015, tại Bắc Giang cho thấy,

tỷ lệ người bệnh có kiến thức đạt về phòng biến chứng của THA còn thấp (35,8%) trong đó biến chứng về não được NB biết đến nhiều nhất với tỷ lệ 80,4%; sau đó là biến chứng về tim 44,1%; biến chứng về thận 32,8%; biến chứng về mắt 33,3%; các biến chứng về mạch máu 9,3% và 9,8% NB không biết biến chứng nào của THA Tỷ

lệ NB có thực hành đạt về phòng biến chứng của THA là (29,4%) [5] Một nghiên cứu đơn thuần khác của tác giả Bùi Thị Thanh Hòa (2012) khảo sát kiến thức, thực hành phòng biến chứng của THA tiến hành trên 170 người bệnh THA đang được quản lý ngoại trú tại phòng khám Bệnh viện E, Hà Nội; cho kết quả 51,7% người bệnh có kiến thức chung về phòng biến chứng THA đạt trong đó ở nam là 53,1% và

ở nữ là 50,9%; tỷ lệ NB có kiến thức đạt về dùng thuốc hạ áp là 87,6%, tỷ lệ có kiến thức lối sống phòng biến chứng THA đạt là 57,6% Trong đó không có NB nào biết đến cả 5 biến chứng, chỉ có 14,2% NB biết đến 4 biến chứng và tỷ lệ NB biết hai biến chứng THA là nhiều nhất 40% [8]

Nghiên cứu của Trần Văn Long (2015), về tình hình sức khỏe người cao tuổi

và thử nghiệm can thiệp nâng cao kiến thức, thực hành phòng chống bệnh THA tại 2

xã huyện vụ bản, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 -2012 cho thấy: tỷ lệ NB mắc các bệnh THA là 52,8%; kiến thức của NCT về cách phòng bệnh THA còn hạn chế, biện pháp được nhiều NCT biết là không ăn mặn (67%), ít hoạt động thể lực (62,9%), thừa cân béo phì (58,3%), không hút thuốc lá (36,8%), không uống rượu (33,9%) Kiến thức của NB về biến chứng của bệnh THA rất thấp đặc biệt là các biến chứng về thận

và mắt Biến chứng được nhiều NB biết đến nhất đó là TBMMN nhưng cũng chỉ có 12,5% NB nhắc đến [14]

Trang 26

Gần đây nhất, theo nghiên cứu của Phạm Thế Xuyên (2019), tỷ lệ hiện mắc THA ở nhóm tuổi 45-64 tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, năm 2014 khá cao, chiếm 35,5% Trong đó tỷ lệ THA ở nam cao hơn nữ: 37,2% ở nam và 33,9% ở nữ

Tỷ lệ THA ở nhóm tuổi 55 - 64 là 66,9%, cao hơn ở nhóm tuổi 45-54 có tỷ lệ THA

là 4,7% Tỷ lệ mắc THA ở nhóm dân tộc Thái là 35,5%; nhóm người Kinh và các dân tộc khác là 35,6% THA giai đoạn I là chủ yếu (65%), THA giai đoạn II là 35% Trong số những người mắc THA có 31,3% số đối tượng THA không biết mình bị THA [26]

Khảo sát kiến thức về bệnh tăng huyết áp của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị nội trú tại Bệnh viện Quân y 103 năm 2017 Nguyễn Thị Thủy và Lê Khắc Đức (2017):

Ăn mặn, tuổi cao, căng thẳng, uống nhiều rượu bia là những yếu tố nguy cơ gây THA được biết đến nhiều nhất 69,4% NB THA có kiến thức đúng về chỉ số THA Biến chứng về não và tim được những NB này biết đến nhiều nhất, biến chứng thận, mắt

và mạch máu ngoại vi được biết ít hơn 51,9% NB THA cho rằng cần đo huyết áp khi

có các dấu hiệu đau đầu, chóng mặt; 46,3% biết cần đo huyết áp thường xuyên/hàng ngày 96,2% NB đồng ý phải tái khám định kỳ khi bị THA Phần lớn NB THA có kiến thức đúng về biện pháp điều trị đó là dùng thuốc kết hợp thay đổi lối sống và dùng thuốc hạ áp liên tục, lâu dài theo chỉ định của bác sỹ Biện pháp tích cực thay đổi lối sống được biết đến nhiều nhất là chế độ ăn giảm muối, hạn chế mỡ động vật [24] Kiến thức, thực hành tuân thủ điều trị tăng huyết áp của hội viên câu lạc bộ bệnh nhân tăng huyết áp bệnh viện Bạch Mai của Nguyễn Hữu Đức, Phạm Vân Anh, Hồ Thị Hiền (2017): Kết quả cho thấy tỷ lệ NB đạt kiến thức về chế độ ăn, tập luyện thể lực, dùng thuốc huyết áp là trên 90% Tỷ lệ NB tuân thủ điều trị THA chung là 85,6%, trong đó tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc, tuân thủ thực hiện chế độ ăn nhạt và tuân thủ không hút thuốc lá lần lượt là 75,8%, 92,8% và 97,4% [4]

Như vậy, trên thế giới và ở trong nước đều đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thực hành và điều trị bệnh tăng huyết áp nói chung Tuy nhiên có rất ít nghiên cứu về sự thay đổi kiến thức, thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp cũng như hiệu quả của chương trình giáo dục sức khoẻ Việc có thêm các nghiên cứu về vấn đề

Trang 27

này sẽ tạo ra các bằng chứng khoa học khẳng định được lợi ích và hiệu quả của chương trình can thiệp giáo dục sức khoẻ mang lại cho người bệnh, góp phần làm giảm bớt những biến chứng và hậu quả mà bệnh tăng huyết áp có thể gây ra

1.4 Phương pháp đánh giá kiến thức và thực hành về dự phòng biến chứng của người bệnh THA

Việc đánh giá đúng kiến thức và thực hành dự phòng THA là vô cùng cần thiết, nó giúp cho chúng ta nhận ra được thực trạng những kiến thức và thực hành mà

NB đã có, cái gì cần phải bổ sung và nhấn mạnh; cũng như qua đó có thể tìm ra được nguyên nhân vì sao NB có thể gặp phải những biến chứng trên thực tế Kiến thức và thực hành về phòng ngừa biến chứng do THA của NB có thể được đánh giá qua hai cách sau:

Đánh giá trực tiếp: là phương pháp thông qua việc quan sát những hoạt động hàng ngày của NB liên quan đến kiến thức và thực hành dự phòng biến chứng THA Cách này thường cho độ chính xác và tin cậy cao nhưng lại khó thực hiện và tốn kém hoặc phải phụ thuộc vào người khác (người nhà, người chăm sóc quan sát hàng ngày)

Đánh giá gián tiếp: chủ yếu dựa vào câu trả lời của NB về các kiến thức và thực hành liên quan đến dự phòng biến chứng THA như: chế độ uống thuốc, chế độ tái khám, việc theo dõi HA hàng ngày, cách phát hiện các dấu hiệu của biến chứng, cách xử trí khi có cơn THA kịch phát xảy ra, chế độ ăn uống, tập luyện Phương pháp này thì dễ thực hiện và đỡ tốn kém hơn nhưng lại phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của

NB

Lựa chọn phương pháp đánh giá nào còn tùy thuộc vào hoàn cảnh và mục đích thực hiện của nghiên cứu Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn phương pháp đánh giá gián tiếp thông qua bộ câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn

1.5 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An được hình thành từ những năm thời kỳ Pháp thuộc cùng với sự phát triển của lịch sử dân tộc Đã thay đổi nhiều địa điểm khác nhau Đến 10/2014 thì được chuyển tới địa điểm mới tại Km5, đại lộ Lê Nin, xã

Trang 28

Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Với quy mô rộng lớn có 900 giường bệnh, thực kê là 1.300 giường; là Bệnh viện lớn nhất của tỉnh Nghệ An Đây cũng là cơ sở khám chữa bệnh có uy tín hàng đầu cho người dân trong toàn tỉnh, các tỉnh lân cận

và cả nước bạn Lào Hiện nay, Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An đã được Bộ y

tế công nhận là bệnh viện tuyến cuối của khu vực Bắc Trung bộ

Báo cáo kết quả hoạt động 9 tháng cuối năm 2020 của Khoa khám bệnh – Bệnh viện cho thấy có 211.997 lượt người bệnh đến khám, số NB được khám và quản

lý ngoại trú là 8.535 người Hiện nay, Khoa khám Bệnh đang trực tiếp quản lý 528

hồ sơ của người bệnh THA trong đó chủ yếu tập trung ở phòng khám Nội A Ước tính lưu lượng người bệnh THA đến khám mỗi ngày tại Khoa khám bệnh từ 15-25 người bệnh THA Người bệnh chủ yếu đến khám tập trung vào đầu giờ các buổi sáng

Vì vậy quá trình nghiên cứu chủ yếu được tiến hành tại phòng khám Nội A, vào buổi sáng các ngày từ thứ 2 đến thứ 6 trong tuần theo thời gian dự kiến

Trang 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là người bệnh THA đang được điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh, Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh Nghệ An

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

NB có thời gian điều trị ngoại trú từ 1 tháng trở lên tính đến thời điểm bắt đầu nghiên cứu (có thời gian trải nghiệm về điều trị ngoại trú THA),

NB từ đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng tham gia chương trình giáo dục sức khoẻ

và trả lời các câu hỏi phỏng vấn,

NB đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

NB trong tình trạng phải chuyển vào điều trị nội trú

NB đã từng tham gia một chương trình giáo dục sức khoẻ có nội dung tương

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Địa điểm: Tại Khoa khám bệnh, Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh Nghệ An Thời gian: Thời gian thu thập số liệu và can thiệp giáo dục sức khoẻ từ tháng 02/2021 đến tháng 04/2021

Trang 30

2.3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp có đánh giá trước sau

Hình 2 1 Nghiên cứu can thiệp một nhóm, có so sánh trước – sau

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

n: Là số người bệnh THA tham gia nghiên cứu

Mức ý nghĩa thống kê là 95% (α= 0,05), lực mẫu 90% (β=0,1) Tương đương với z2(α,β) = 10,5

P0: Là tỷ lệ người bệnh THA thực hành phòng biến chứng đúng trước can thiệp

P1: Là tỷ lệ người bệnh THA thực hành phòng biến chứng đúng sau can thiệp

Theo nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh (2017): Tỷ lệ người bệnh có tuân thủ điều trị thuốc trước can thiệp là 11,9% và tỷ lệ người bệnh có tuân thủ điều trị sau can thiệp là 49,8% Do đó P0 = 11,9%; P1 = 49,8% [7]

Đối tượng nghiên cứu

NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT

ÁP ĐANG ĐIỀU TRỊ NGOẠI

TRÚ

Đánh giá ngay sau can thiệp [Kiến thức]

T1

Đánh giá sau can thiệp 1 tháng [Kiến thức và thực hành T2

Can thiệp giáo dục

KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH

VỀ PHÒNG NGỪA BIẾN CHỨNG DO THA

So sánh, bàn luận và kết luận

Trang 31

Thay vào công thức trên, tính ra n = 83 Trong khoảng thời gian thu thập số liệu và can thiệp giáo dục từ đầu tháng 02 đến hết tháng 04 năm 2021, có 89 người bệnh đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu, đồng ý tham gia nghiên cứu và tham gia đầy đủ các hoạt động của nghiên cứu Do vậy, cỡ mẫu thực

tế của nghiên cứu là 89 người bệnh

Phương pháp chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu thuận tiện

2.5 Thu thập số liệu

2.5.1 Trước khi tiến hành thu thập số liệu

Hoàn thiện công cụ thu thập số liệu, các điều kiện cần thiết cho chương trình giáo dục sức khỏe của nghiên cứu

Tập huấn thống nhất nội dung, cách thức triển khai thu thập số liệu và tổ chức giáo dục sức khỏe trong nhóm nghiên cứu

2.5.2 Phương pháp và các bước thu thập số liệu:

* Kỹ thuật thu thập số liệu:

Nghiên cứu viên kết hợp cùng với 3 cộng tác viên là các sinh viên năm thứ 4, thuộc Trường ĐH Y khoa Vinh, được phân công thực tập tại Phòng khám Nội A của Khoa khám bệnh – Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An để phỏng vấn và thu thập

số liệu kết hợp với các Bác sỹ và điều dưỡng viên tại các phòng khám của Bệnh viện

để khám và hướng dẫn qua phòng tư vấn Những thành viên tham gia vào quá trình thu thập số liệu được tập huấn và hướng dẫn cụ thể về cách thức thực hiện trước khi tiến hành Để tránh sai số, nhóm nghiên cứu phân công 3 nghiên cứu viên đánh giá kiến thức thực hành phòng biến chứng của người bệnh độc lập ở 3 thời điểm khác nhau: 01 cộng tác viên thực hiện việc thu thập số liệu tại thời điểm trước khi thực hiện can thiệp; 01 cộng tác viên chuyên phụ trách thu thập số liệu tại thời điểm ngay sau khi can thiệp; 01 cộng tác viên chuyên phụ trách thu thập số liệu tại thời điểm 4 tuần sau can thiệp

Số liệu sẽ được thu thập trực tiếp dựa trên bộ công cụ được thiết kế sẵn với các nội dung đo lường về kiến thức và thực hành về phòng ngừa các biến chứng do THA (Phụ lục 3)

Trang 32

*Các bước thu thập số liệu:

Bước 1: Lập danh sách và lựa chọn NB đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu

Bước 2: Tiếp cận NB, giải thích mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu; trình tự

và các bước tham gia (tránh tình trạng NB từ chối PV sau 1 tháng) trước khi tiến hành phỏng vấn Thông báo với NB về các thông tin cá nhân sẽ được bảo mật và câu trả lời của NB sẽ không ảnh hưởng tới quá trình khám và điều trị Nếu người bệnh đồng

ý tham gia ngiên cứu thì ký vào bản đồng thuận (Phụ lục 1) Hoạt động này được thực hiện vào khoảng thời gian NB đã nộp sổ khám bệnh và chờ đến lượt khám của mình Bước 3: Đánh giá kiến thức và thực hành trước can thiệp GDSK (Thời điểm T0) bằng phiếu điều tra là bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn (Phụ lục 3) Thời gian phỏng vấn khoảng 10 phút trong khi NB chờ đến lượt khám

Bước 4: Thực hiện GDSK trực tiếp cho nhóm nhỏ người bệnh về các biện pháp

dự phòng biến chứng do THA, kèm các tài liệu phát tay, hình ảnh minh họa, … (Phụ lục 2) Do số lượng NB đến tái khám đáp ứng tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu mỗi ngày khác nhau và số lượng người bệnh thực tế tại một buổi giáo dục sức khỏe trung bình là 5 người bệnh, ngày ít nhất là 1 người bệnh, ngày nhiều nhất là 7 người bệnh Thời gian một buổi GDSK kéo dài khoảng 30 đến 40 phút trong lúc NB ngồi chờ kết quả xét nghiệm sau khi đã được các Bác sỹ khám và làm các xét nghiệm theo chỉ định tại phòng tư vấn của Khoa Sau khi tiến hành GDSK, nghiên cứu viên sẽ hỏi lại NB xem có điều gì chưa rõ, cần hỏi để giải đáp

+ Bước 5: Đánh giá lại kiến thức về phòng ngừa biến chứng do THA của NB ngay sau can thiệp GDSK (Thời điểm T1) Sử dụng cùng bộ câu hỏi đánh giá kiến thức phòng biến chứng do THA như đã đánh giá trước can thiệp (Thời điểm T0) trong lúc NB chờ kết quả của mình Sau khi người bệnh trả lời xong phiếu khảo sát, thực hiện tư vấn bổ sung những nội dung kiến thức mà người bệnh trả lời không đúng; chưa rõ hoặc có thắc mắc để đảm bảo người bệnh nhận thức đúng trước khi về nhà (không tính vào kết quả nghiên cứu) Cảm ơn và đặt lịch hẹn đánh giá lại sau 1 tháng (Thời điểm T2) khi người bệnh đến tái khám (Phụ lục 3)

+ Bước 6: Đánh giá lại kiến thức và thực hành về dự phòng biến chứng do

Trang 33

THA của NB sau 01 tháng kể từ khi kết thúc can thiệp giáo dục sức khoẻ sử dụng cùng bộ câu hỏi đã sử dụng trong lần đánh giá trước can thiệp trong thời gian người bệnh chờ khám Trong trường hợp người bệnh không đến tái khám đúng hẹn, nghiên cứu viên sẽ gọi điện thoại trực tiếp để đánh giá lại kiến thức, thực hành phòng biến chứng do THA cho người bệnh Thực hiện giáo dục bổ sung với những nội dung kiến thức và thực hành chưa đạt (nếu có) trong lúc người bệnh chờ kết quả khám của mình (không tính vào kết quả nghiên cứu) Cảm ơn người bệnh và kết thúc khảo sát 2.6 Can thiệp GDSK

2.6.1 Can thiệp giáo dục sức khoẻ liên quan đến dự phòng biến chứng do THA

Việc dự phòng biến chứng do THA phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức và thái

độ cũng như chế độ tuân thủ điều trị của NB Muốn có hành vi tốt thì đầu tiên NB phải có kiến thức tốt về bệnh Vì thế NB cần phải được trang bị những kiến thức đúng

và đầy đủ về bệnh THA cũng như các biến chứng do THA gây ra; đồng thời phải nâng cao ý thức thực hành các biện pháp nhằm góp phần phòng ngừa các biến chứng

do THA Muốn đạt được điều đó thì cần thiết phải xây dựng chương trình GDSK cho

NB Các nghiên cứu đã cho thấy, NB có mức kiến thức về bệnh càng cao thì khả năng thực hành phòng ngừa biến chứng do THA càng cao [20], [14]

Nhân viên y tế (NVYT) chính là một trong những đầu mối quan trọng góp phần vào việc nâng cao kiến thức và thái độ thực hành của NB về phòng ngừa biến chứng do THA Do đó, NVYT cần được nâng cao kiến thức của mình về dự phòng biến chứng do THA Khoa phòng và Bệnh viện cần tổ chức thường xuyên các hoạt động đào tạo và thực hành về truyền thông GDSK phòng ngừa biễn chứng do THA nói riêng và các bệnh khác nói chung Ngoài ra, cán bộ NVYT cũng cần phải thường xuyên cập nhật những kiến thức mới nhất về điều trị, chăm sóc và phòng ngừa biến chứng do THA Tăng cường hoạt động giao tiếp và GDSK nhằm góp phần nâng cao kiến thức và thực hành cho NB

Để đánh giá được sự thay đổi về kiến thức và thực hành phòng ngừa biến chứng do THA cho NB chúng tôi sẽ tiến hành chương trình can thiệp GDSK cho những NB được chọn làm ĐTNC có so sánh trước sau Các ĐTNC sẽ được tham gia

Trang 34

vào một chương trình GDSK liên quan đến kiến thức và thực hành về dự phòng biến chứng do THA thông qua bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên các khuyến cáo trên thế giới và ở trong nước về bệnh THA Tại các thời điểm đánh giá trước can thiệp, ngay sau khi can thiệp và sau can thiệp 1 tháng những kiến thức và thực hành mà NB chưa đạt sẽ được nhắc lại và tư vấn thêm

2.6.2 Tiêu chí và nguyên tắc xây dựng mô hình can thiệp

Để phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn và thực hiện thuận lợi, chương trình GDSK cho NB được xây dựng phù hợp và dễ thực hiện dựa trên các nguyên tắc:

- Giao tiếp thân thiện và cởi mở

- Hướng dẫn trực tiếp kết hợp giải thích và minh họa hợp lý

- Nội dung nhất quán cho tất cả các buổi GDSK

- Sử dựng ngôn từ ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu

- Thể hiện thái độ tôn trọng, phù hợp nhu cầu và đặc điểm của NB

- Tiết kiệm chi phí

2.6.3 Nội dung can thiệp

Nội dung can thiệp GDSK (Phụ lục 2) được xây dựng dựa trên các tài liệu hướng dẫn NB về kiến thức và thực hành phòng ngừa biến chứng do THA của WHO, khuyến cáo của Ủy ban Quốc gia Hoa Kỳ và khuyến cáo của khuyến cáo thực hành phòng ngừa biến chứng THA của Bộ y tế Có ý kiến đóng góp của các Giáo viên hướng dẫn là các Tiến sỹ, bác sỹ chuyên ngành Nội khoa và Nội tim mạch và được tiến hành thử nghiệm trên 15 NB trước đó Bao gồm:

- Kiến thức nền về bệnh THA

- Các biến chứng có thể có do THA, dấu hiệu, cách phát hiện và xử trí ban đầu khi gặp biến chứng,

- Các yếu tố nguy cơ có thể làm tăng nguy cơ biến chứng do THA,

- Lý do cần tuân thủ về thực hành phòng ngừa biến chứng do THA,

- Những nội dung về kiến thức và thực hành phòng ngừa biến chứng của THA

NB cần nắm được

Trang 35

2.6.4 Quy trình can thiệp

- Tiếp xúc, ổn định và giới thiệu

- Giải thích kết quả đánh giá lần 1

- Phát tài liệu (là nội dung GDSK đã chuẩn bị sẵn) cho NB

- Giải thích các nội dung can thiệp

- Trao đổi, thảo luận và giải đáp các thắc mắc

- Tóm tắt và kết thúc buổi tư vấn

2.7 Các biến số trong nghiên cứu

Bảng 2 1 Biến số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Tên

biến Định nghĩa

Loại biến Cách tính

Phương pháp thu thập Giới

Tỷ lệ người bệnh phân 2 nhóm: Nam và nữ

Phỏng vấn

Tuổi

Thời gian đã qua kể từ

khi sinh đến thời

điểm hiện tại (năm)

Rời rạc = 2021 - năm sinh

Phỏng vấn Thời

đến thời gian người bệnh

tham gia nghiên cứu

Định lượng

= Thời điểm phỏng thời điểm lần đầu người bệnh được chẩn đoán bệnh THA

vấn-Phỏng vấn

Không biết chữ; Tiểu học,THCS, THPT, TS, CĐ,ĐH, SĐH

Phỏng vấn

Trang 36

Tên

biến Định nghĩa

Loại biến Cách tính

Phương pháp thu thập Nghề

Tỷ lệ người bệnh phân:

Nông dân, Công nhân, Cán bộ, viên chức

Lao động tự do Hưu trí mất sức

Phỏng vấn

Phương tiện truyền thông (TV, Internet ), cán bộ y

tế, qua sổ khám bệnh, qua gia đình, bạn bè, nguồn khác

Phỏng vấn

Bảng 2 2 Biến số BMI, kiến thức, thực hành của đối tượng nghiên cứu Tên biến Định nghĩa Loại biến Cách tính

Phương pháp thu thập

BMI

Chỉ số khối cơ thể tính

theo chiều cao (m)/ bình

phương cân nặng cơ thể

Rời rạc

Tỷ lệ NB: gầy, bình thường, thừa cân, tiền béo phì, béo phì

Đo trực tiếp

và tính theo công thức

Trang 37

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá

2.8.1 Căn cứ khoa học để thiết kế bộ công cụ đánh giá

Để đánh giá kiến thức và thực hành về phòng ngừa biến chứng, nhóm nghiên cứu sử dụng bộ công cụ của tác giả Đinh Thị Thu, 2018 [22] Bộ công cụ được tác giả đánh giá độ đặc hiệu với CVI 0,82 và độ tin cậy cronback anpha 0,72 và đã được tác giả xây dựng dựa vào:

Khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về chẩn đoán và điều trị THA Khuyến cáo của Liên ủy quốc gia (SJC - Join National Committee) lần thứ VII năm 2003 về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA

Dựa theo European Society of Hypertension/European Society of Cardiology (ESH/ESC) Hội tăng huyết áp Châu Âu / Hội Tim mạch Châu Âu năm 2007

Hướng dẫn về chẩn đoán và điều trị THA của Bộ Y tế Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 3192/QĐ - BYT về việc ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị Tăng huyết áp, ngày 31/9/2017

2.8.2 Tiêu chí bộ công cụ đánh giá kiến thức và thực hành phòng ngừa biến chứng

do tăng huyết áp dựa trên nội dung giáo dục sức khoẻ đã xây dựng

Bộ câu hỏi phỏng vấn gồm 3 phần (Phụ lục 4):

Phần A: Thông tin chung gồm: Tuổi, giới tính, trình độ học vấn, công việc hiện tại, BMI, hoàn cảnh phát hiện bệnh THA, thời gian điều trị bệnh THA, nguồn thông tin nhận được

Phần B: Kiến thức phòng biến chứng tăng huyết áp gồm 16 câu (B1-B16) [23]: Kiến thức về phát hiện bệnh và cách điều trị bệnh: Từ câu B1 đến câu B5 Kiến thức về biến chứng, dấu hiệu các biến chứng và cách xử trí: Từ câu B6 đến câu B11

Kiến thức dấu hiệu và cách xử trí cơn THA kịch phát: Gồm câu B12, câu B13 Kiến thức về yếu tố nguy cơ gây biến chứng tăng huyết áp: câu B14, câu B15 Kiến thức về lối sống phòng biến chứng tăng huyết áp: câu B16

Trong đó: B1, B6,B7, B8, B9, B10, B12, B14, B15, B16: Là câu hỏi nhiều lựa chọn, mỗi ý đúng của câu được 1 điểm, trả lời sai 0 điểm

Trang 38

Câu: B2, B3, B4, B5, B11, B13 là câu hỏi 1 lựa chọn, mỗi câu người bệnh trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai/không biết 0 điểm

Phần C: Thực hành phòng biến chứng THA: 20 câu từ câu C1 đến câu C20 [23], gồm:

Thực hành đo huyết áp: C1, C2, C3, C4

Thực hành khi huyết áp cao đột ngột: C5, C6

Tuân thủ điều trị thuốc: C7, C8, C9, C10

Tuân thủ chế độ ăn: C11, C12, C13, C14, C15, C16, C17, C18

Tuân thủ phòng cơn THA kịch phát: C19, C20

Trong đó, câu C1, C2, C3, C4, C20 là câu hỏi nhiều lựa chọn, mỗi ý đúng của câu được 1 điểm, trả lời sai 0 điểm Câu: C5, C6, C7, C8, C9, C10, C11, C12, C13, C14, C15, C16, C17, C18, C19 là câu hỏi 1 lựa chọn, mỗi câu người bệnh trả lời đúng tính 1 điểm, trả lời sai/không biết tính 0 điểm

Trang 39

thuật thống kê t-test để so sánh 2 biến nghiên cứu

2.10 Đạo đức trong nghiên cứu

Đề cương nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng khoa học và Hội đồng đạo đức nghiên cứu Y sinh học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và được sự đồng

ý của Bệnh viện đa khoa tỉnh Nghệ An trước khi tiến hành nghiên cứu

Tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung của nghiên cứu tự nguyện đồng ý tham gia và hợp tác trong quá trình nghiên cứu Các đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu hoặc có thể chấm dứt nghiên cứu trong bất cứ giai đoạn nào của nghiên cứu

Mọi thông tin của đối tượng đều được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu Tất cả các thông tin chỉ có người nghiên cứu mới được phép tiếp cận

Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu khoa học, không dùng vào mục đích nào khác

Tại những thời điểm đánh giá sau chương trình can thiệp GDSK về phòng biến chứng do THA, kết quả đánh giá được ghi nhận để nhập và phân tích số liệu, những nội dung kiến thức chưa đúng và thực hành chưa đạt sẽ được hướng dẫn thêm để củng

cố nhưng không nhập liệu để phân tích kết quả

2.11 Sai số, biện pháp khắc phục

a Sai số

Việc thu thập số liệu dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn, phụ thuộc vào kỹ năng phỏng vấn của người hỏi và khả năng nhớ kiến thức và những trải nghiệm thực hành trước đây của người bệnh tham gia nghiên cứu nên có thể ảnh hưởng đến kết quả trả lời

b Biện pháp khắc phục

Để khắc phục hạn chế chúng tôi sẽ tiến hành một số biện pháp sau:

Bộ câu hỏi được thiết kế logic với những ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu để đối tượng nghiên cứu có thể dễ dàng trả lời

Tập huấn kỹ năng phỏng vấn, thống nhất cách thức phỏng vấn trong nhóm nghiên cứu và điều tra viên trước khi tiến hành thu thập số liệu

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung của người bệnh tham gia nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC (n=89)

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm giới tính của đối tượng nghiên cứu (n=89)

Nhận xét: Người bệnh nam chiếm 51,7%

51.700%

48.300%

Ngày đăng: 28/01/2022, 11:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm