TIẾT 3: VĂN BẢN: ĐẬP ĐÁ Ở CÔN LÔN
I. Hệ thống kiến thức cần nhớ
2. Tác phẩm a) Hoàn cảnh ra đời
- PCT bị kết tội xúi giục nhân dân nổi dậy trong phong trào chống thuế ở Trung Kì, bị bắt đày
ra Côn Đảo
- Đập đá ở Côn Lôn ra đời khi PCT lao động khổ sai ở Côn Đảo
b) Thể thơ
- Thất ngôn bát cú Đường luật c) Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm d) Nội dụng, nghệ thuật
- Nội dung: Vẻ đẹp lẫm liệt, ngang tang của người anh hùng cứu nước, dù gặp phải bước nguy nan cũng không sờn lòng, đổi chí - Nghệ thuật: Bút pháp lãng mạn, biện pháp
khoa trương, phóng đại. Giọng điệu hào hùng, giàu sức biểu cảm
HS làm bài tập cá nhân Bài tập 1: Cho câu thơ sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn…
a) Chép các câu thơ còn lại để hoàn thiện 4 câu thơ đầu b) Khái quát nội dung
chính của 4 câu thơ đầu bằng một câu c) Tìm một trường từ
vựng có trong khổ thơ và chỉ ra tác dụng của trường từ vựng đó.
II. Luyện tập
GV Hướng dẫn HS làm bài tập a) HS tự hoàn thiện khổ thơ
b) Khổ thơ khắc họa hình ảnh hiên ngang, khí phách bất khuất của người anh hùng trong cảnh tù đày
c) Trường từ vựng: Hoạt động của con người:
đứng, xách, đánh, đập…
Tác dụng: Tô đậm sức mạnh, tư thế hiên ngang, khí phách phi phàm của người hùng trong cảnh tù đày
d) Giáo viên hướng dẫn HS viết đoạn - Đoạn văn phải có câu chủ đề
- Nêu được những cảm nhận chung về nội dung và nghệ thuật của khổ thơ
- Bài viết tham khảo
"Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn
d) Viết một đoạn văn nêu cảm nhận của em về khổ thơ
Lừng lẫy làm cho lở núi non Xách búa đánh tan năm bảy đống Ra tay đập bể mấy trăm hòn"
Hai câu đề thể hiện một quan niệm quen thuộc của con người thời xưa về “chí làm trai" hay "chí nam nhi". Ca dao thời xưa cũng nói:
"Làm trai cho đáng nên trai
Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên,"
Nguyễn Công Trứ, người rất gần với thời đại của Phan Châu Trinh
Cũng từng giãy bày:
“Chỉ làm trai Nam Bắc Đông Tây Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể"
Tuy cách nói khác nhau nhưng đều thể hiện quan niệm chung về “chí làm trai”: Sinh ra là nam nhi trong đời tức là gánh lấy một trách nhiệm lớn lao, số phận định sẵn phải làm những điều phi thường. Cùng thời với Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu cũng nói
"Sinh vi nam tử yếu hi kì", cũng là ý ấy. Sự khác biệt trong ý thơ của Phan Châu Trinh chính là ở chỗ này:
người nam nhi ở đây mang một tầm vóc phi thường, với tầm vóc ấy, sức lực ấy, thì chuyện phi thường gì cũng có thể làm được:
"Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn Lừng lẫy làm cho lỏ núi non"
Người tù bị giam cầm ở Côn Lôn hiện lên với một tư thế thật đẹp. Đó không phải là bóng đáng một tù nhân đang lầm lụi với công việc khổ sai của mình, mà là hình ảnh con người trong tư thế tự do tự tại, tư thế của kẻ nam nhi đầu đội trời chân đạp đất. Tính từ
"lừng lẫy" được đảo lên đầu câu, nhấn mạnh tiếng tăm vang dội của kẻ làm trai kia. Giữa biển trời mênh mông, núi non hùng vĩ của đất Côn Lôn, con người được đặt vào vị trí trung tâm với uy thế và sức mạnh khác thường giống như hình ảnh một vị thần viễn cổ trong thần thoại đang dời non lấp bể. Hai lớp nghĩa song song tồn tại trong một bài thơ. "Làm cho lở núi non” hiển nhiên là công việc đập đá, nhưng cũng giống như người anh hùng đang thực hiện một hành
động phi thường sẽ làm rung chuyển thiên hạ, thay đổi thời cuộc.
"Xách búa đánh tan năm bảy đống Ra tay đập bể mấy trăm hòn”
Hai câu thực có kết cấu đăng đối chặt chẽ nhịp nhàng: “xách búa - ra tay", "đánh tan - đập bê", "năm bảy đổng – mấy trăm hòn". Những từ như “xách búa”, “ra tay” được sử dụng để mô tả tính chất công việc đập đá rất chính xác, song cũng oai hùng quyết đoán như thế đang mô tả cách một vị dũng sĩ, một mãnh tướng thời xưa chuẩn bị xung trận. "Năm bảy đồng" và “mấy trăm hòn" là cách nói ước lệ để chỉ số nhiều, kèm theo đó là thái độ ngạo nghễ của con người. Cuối cùng là những động từ mạnh nhur "đánh tan","đập bể" diễn tả động tác dứt khoát, mạnh mẽ.
Câu thơ nhiều thanh trắc với nhịp điệu mạnh mẽ chắc nịch, như động tác nâng lên hạ xuống rồi đập tan, chẳng có vẻ chi nặng nhọc mệt mỏi. Câu thơ miêu tả công việc đập chân thực và thú vị nhưng đồng thời tô đậm sức mạnh của kẻ “làm trai đứng giữa đất Côn Lôn", sức mạnh sánh ngang tầm thiên nhiên vũ trụ.
Bài tập 2: Cho đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
"Tháng ngày bao quản thân sành sỏi
Mưa nắng càng bên dạ sắt son
Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Gian nan chi kể việc con con".
a) Đoạn thơ trên trích trong tác phẩm nào?
Do ai sáng tác?
b) Nêu hoàn cảnh ra đời bài thơ
c) Chỉ ra biện pháp nghệ thuật sử dụng
GV hướng dẫn HS làm bài
a) Tác phẩm: Đập đá ở Côn Lôn; Tác giả: Phan Châu Trinh
b) PCT bị kết tội xúi giục nhân dân nổi dậy trong phong trào chống thuế ở Trung Kì, bị bắt đày ra Côn Đảo
Đập đá ở Côn Lôn ra đời khi PCT lao động khổ sai ở Côn Đảo
c) “Mưa nắng” – biện pháp ẩn dụ; hình ảnh “mưa nắng” tượng trưng cho những khó khăn, gian khổ, trở ngại trong cuộc đời.
d) Giáo viên hướng dẫn HS viết đoạn - Đoạn văn phải có câu chủ đề
- Nêu được những cảm nhận chung về nội dung
trong câu thơ: Mưa nắng càng bên dạ sắt son
d) Viết đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của em về khổ thơ
và nghệ thuật của khổ thơ - Bài viết tham khảo
"Tháng ngày bao quản thân sành sỏi Mưa nắng càng bên dạ sắt son
Những kẻ vá trời khi lỡ bước Gian nan chi kể việc con con".
Hai câu 5 - 6 tiếp tục xây dựng dựa trên kết cấu đối với hàng loạt hình ảnh đối lập: “Tháng ngày" - "Mưa nắng", “thân sành sỏi" - "dạ sắt son". “Thần sành sỏi”
là thân phận người tù như mảnh sành, hòn sỏi, bị giày xéo, bị đày đọa vẫn bền bỉ, dẻo dai, nhưng hoàn cảnh khắc nghiệt nơi này được thể xác chứ không thể quật đổ ý chí kiên cường của con người (dạ sắt son).
Thân thể bị đày đọa bao nhiêu thì tâm hồn càng được mài sắc bấy nhiêu. Hai câu thơ vừa tả thực cái gian khổ của thân phận người tù, vừa nêu bật được tâm niệm rằng gian nan chi là công cụ tôi luyện, trui rèn ý chí của con người. Lời thơ mang khẩu khí đặc trưng của một chỉ sĩ yêu nước, một nhà Nho với tấc lòng
"mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen" (Nguyễn Trãi).
Để rồi, hai câu thơ cuối kết lại cũng bằng một ý đối lập:
"Những kẻ vá trời khi lỡ bước Gian nan chỉ kể việc con con”.
Thần thoại Trung Hoa xưa có điển tích Nữ Oa đội đá vá trời, cứu cho nhân gian khỏi một tai kiếp lớn. Nay thời cuộc đến, lại yêu cầu có những người gánh lấy trách nhiệm "vá trời" - hàn gắn lại xã tắc, giúp nước cứu đời. Tự nhận mình là kẻ vá trời, cũng tức là tự nhận gánh lấy trách nhiệm ấy, sứ mệnh ấy. Điển tích cổ đi vào trong thơ Phan Châu Trinh trở thành một hình ảnh liên tưởng táo bạo mà hợp lý, một cách nói bay bổng giàu chất thơ. Ta không hề cảm thấy cách nói ở đây có sự cường điệu quá mức chính bởi vì từ chuyện “đập đá” liên hệ đến "đội đá vá trời” thì không còn gì tự nhiên và hóm hỉnh hơn nữa, cũng bởi ấn tượng về súc mạnh phi thường và ý chí phi thường của người anh hùng đã được chuẩn bị từ sáu
câu trưóc, xuyên suốt bài thơ này. Hai câu cuối vẫn xây dựng dựa trên một ý đối lập: Kẻ vá trời – Việc con con. Quả thực, một người đã tự nhận gánh trách nhiệm vĩ đại như “vá trời" thì tránh sao được được gian nan; vậy thì tù ngục cũng chỉ là một trong số nhiều gian nan có thể gặp phải mà thôi, chỉ là “việc con con" - việc tầm thường chẳng đáng quan tâm.
Khẩu khí ấy có nét tương đồng với khẩu khí ngang tàng của Phan Bội Châu trong Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác: Coi ngục tù chỉ là chốn tạm nghỉ khi mỏi chân trên con đường cách mạng.
III. Củng cố - Dặn dò
- GV yêu cầu HS hệ thống kiến thức đã học bằng sơ đồ tư duy
- BTVN: So sánh hình tượng người chí sĩ cách mạng trong hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác (Phan Bội Châu) và Đập đá ở Côn Lôn (Phan Châu Trinh).