Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NGUỒN TIN CỦA CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ NGÀNH TƯ PHÁP VIỆT NAM
3.3. Một số khuyến nghị
3.3.1. Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề quản lý nguồn tin tại cơ quan báo chí
Cơ quan báo chí, từ ban biên tập, các phòng ban chuyên môn, mỗi phóng viên, nhà báo và cả bộ phận không trực tiếp sản xuất tin bài phải đề cao tầm quan trọng của việc tổ chức, quản lý nguồn tin tại cơ quan báo chí.
Nhận thức đúng được vai trò, sẽ giúp cơ quan báo chí ấy bố trí nguồn nhân lực, vật lực phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của cơ quan để quản trị nguồn tin cho hiệu quả.
Tình trạng nhiễu loạn thông tin trên báo chí và internet hiện nay cho thấy đã đến lúc các cơ quan báo chí, những cá nhân tham gia hoạt động trên internet phải có trách nhiệm quản trị nguồn tin cho thật hiệu quả. Nghĩa là, phải có cơ chế tổ chức, quản lý, "xử lý" nguồn tin kỹ lưỡng trước khi đăng tải rộng rãi trên các phương tiện truyền thông. Bởi nhiều khi những thông tin chưa được kiểm chứng không chỉ gây hoang mang đối với công chúng mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng cho "nạn nhân" của tin đồn.
Những thông tin như: Nước mắm nhiễm Asen, mực giả, trứng gà giả…
Dù các tờ báo, những nhà báo có liên quan đưa tin sai tuy đã bị xử phạt nhưng hậu quả đối với khách thể thông tin rất khó khắc phục.
Các cơ quan báo chí phải ý thức được rằng: Quản lý nguồn tin chính là
“quản trị sự thật”. Đặc điểm quan trọng nhất của thông tin báo chí chính là
“sự thật”. Dù thông tin có hay, có hấp dẫn đến đâu, dù loại hình báo chí có phát triển đến mức nào thì tin sai sự thật, tin không hết sự thật đều khiến… uy tín của cơ quan báo chí và tín chính thống của tin báo chí trở nên… vô nghĩa.
Quản trị nguồn tin chính là quản trị thông tin sự thật, quản trị uy tín của tờ báo đấy. Không thể để thông tin báo chí bị dẫn dắt bởi các nguồn tin đồn được. Chính việc sử dụng tin đồn trên mạng như một nguồn tin chính thức của báo chí đã làm nhiễu thông tin. Báo chí không quản trị nguồn tin, để những tin thiếu kiểm chứng, nguồn tin đồn dẫn dắt rất nguy hiểm. Nó xô đẩy lòng tin chính trị, mà đây là bản lĩnh cơ bản của mỗi người làm báo cách mạng. Vì thế, việc chọn lựa sử dụng nguồn tin như thế nào là rất quan trọng, đòi hỏi bản lĩnh chính trị và bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng - bản lĩnh này được tích lũy qua các trải nghiệm xã hội của chính các nhà báo. Và quan trọng hơn cả, nó phụ thuộc vào nhận thức của cơ quan báo chí về cơ chế nguồn tin, quản trị nguồn tin và sử dụng nguồn tin ấy.
Thực tế báo chí hiện nay cho thấy, không chỉ các tin đồn trong đời sống hằng ngày mà cả những tin đồn xuất hiện trên mạng xã hội cũng đang là
"nguồn tin béo bở" cho nhiều phóng viên "đói tin". Không quan tâm tác nghiệp trong thực tế cuộc sống, họ trở thành "phóng viên văn phòng", "phóng viên bàn phím", suốt ngày la cà trên các diễn đàn điện tử, trên facebook, trên các blog,... để chộp lấy các entry, status, comment nào chứa đựng thông tin có vẻ "mới", có vẻ "giật gân" để sau đó chế biến thành bài báo. Bên cạnh thông tin câu khách, phải nói rằng có thông tin nghiêm túc nhưng chưa được kiểm chứng tính xác thực cũng xuất hiện ngày càng nhiều.
Nguyên nhân của tình trạng trên đây có thể liệt kê rất nhiều, nhưng có thể thấy đó là kết quả của sự thiếu định hướng thông tin, coi nhẹ công tác tổ chức, quản lý, thầm định nguồn tin của cơ quan báo chí; thiếu kỹ năng, vô trách nhiệm trong quá trình tác nghiệp của phóng viên, tòa soạn và của người có trách nhiệm công bố thông tin; cộng thêm sự quản lý chưa chặt chẽ của cơ quan chủ quản, của các cơ quan chức năng có thẩm quyền quản lý, tổ chức, khiến tình trạng nhiễu loạn về thông tin ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Ðể báo chí luôn là "người" định hướng đúng đắn, tin cậy thì nguồn tin và thông tin chính xác là một trong các nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ. Vì thế, tính chính xác của thông tin luôn luôn phải được bảo đảm là yêu cầu hàng đầu trong quá trình tác nghiệp của mỗi phóng viên, mỗi tòa soạn. Việc lựa chọn nguồn tin, đặc biệt là xử lý, xác minh nguồn tin phụ thuộc vào tư duy sắc bén của người làm báo, phụ thuộc bản lĩnh nghề nghiệp, bản lĩnh chính trị của mỗi người.
3.3.2. Xây dựng cơ chế, chính sách và nguồn lực để tổ chức và quản lý nguồn tin hiệu quả
Về cơ bản, đến nay cơ chế xác định nguồn tin trên báo chí, quy chế cung cấp thông tin trên báo chí đã phần nào cụ thể hóa về việc xác định nguồn tin và quản lý nguồn tin cho nhà báo.
Nhưng thực tế là thông tin báo chí chính là đời sống. Nó đề cập đến mọi vấn đề của đời sống xã hội. Vì thế, hoạt động thông tin báo chí và quản lý nguồn tin rõ ràng không phải là vấn đề của riêng lĩnh vực báo chí, mà nó có liên quan đến rất nhiều luật thuộc các lĩnh vực khác.
* Về cơ chế chính sách
Đến nay, muốn quản lý nguồn tin, người làm báo phải có sự tiếp cận đầy đủ nhất về cơ chế thông tin, nguồn tin được tiếp cận đã được quy định trong nhiều văn bản luật liên quan.
- Thông tin được tiếp cận
Một là, thông tin được tiếp cận trong các lĩnh vực cụ thể được quy định bằng nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Bao gồm luật , pháp lệnh , nghị định , quyết định thậm chí cả thông tư .
Hai là, phạm vi thông tin được tiếp cận thường theo phương pháp liệt kê trong từng văn bản quy phạm pháp luật, trong đó:
- Một số văn bản quy phạm pháp luật liệt kê các thông tin được tiếp cận trong nhiều lĩnh vực, ví dụ như Luật Báo chí, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Công nghệ thông tin, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Luật phòng, chống tham nhũng (năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) dành tới 18 điều (từ Điều 13 đến Điều 30) quy định các thông tin phải được công khai thuộc các lĩnh vực khác nhau.
- Các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành chỉ liệt kê các thông tin được tiếp cận trong lĩnh vực chuyên ngành.
Đồng thời, một số văn bản quy phạm pháp luật quy định nguyên tắc loại trừ tiếp cận các thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh, hoặc liệt kê cụ thể các thông tin bị loại trừ tiếp cận.
Ba là, phương thức chủ yếu cung cấp thông tin được tiếp cận chỉ là phương thức cơ quan nhà nước công bố công khai, ít có quy định về phương thức cung cấp thông tin theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức
Pháp luật hiện hành chưa có quy định nguyên tắc và tiêu chí để xác định thông tin nào cần phải công bố công khai rộng rãi, thông tin nào có thể được cung cấp theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức.
Phần lớn các văn bản quy phạm pháp luật quy định các thông tin phải được công bố rộng rãi mà chưa quy định các thông tin được cung cấp theo yêu cầu, cụ thể:
- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và văn bản hướng dẫn thi hành quy định nhiều loại thông tin phải được các cơ quan nhà nước (Chính phủ, Văn phòng chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội) công bố công khai ngay trong quá trình soạn thảo và sau khi thông qua văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật chưa có quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của cá nhân đối với các dự thảo hay các văn bản quy phạm pháp luật, kể cả trong trường hợp vì lý do khách quan, người dân không thể tiếp cận được các thông tin đó trong thời gian công bố công khai.
- Luật phòng, chống tham nhũng (năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) quy định các thông tin thuộc nhiều lĩnh vực phải được cơ quan nhà nước công bố công khai (từ Điều 13 đến Điều 30), tuy nhiên, các thông tin này chỉ được công khai tới cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đó, mà không công khai tới người dân.
Một số văn bản pháp luật quy định cơ quan, tổ chức liên quan, phải báo cáo cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về các vấn đề thuộc phạm vi hoạt động, (ví dụ: Điều 130 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định Bộ, ngành hằng năm có trách nhiệm cung cấp thông tin môi trường liên quan đến ngành, lĩnh vực quản lý cho Bộ Tài nguyên và Môi trường). Tuy nhiên, Luật lại chưa quy định cơ quan quản lý chuyên ngành nắm giữ thông tin đó có trách nhiệm phải công khai cho nhân dân biết hoặc cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân đối với loại thông tin này.
Bốn là, về nguồn gốc và trạng thái thông tin được tiếp cận
Theo quy định của Luật mẫu về tự do thông tin và kinh nghiệm của nhiều nước, để đảm bảo tính chính xác của thông tin và tính khả thi của việc cung cấp thông tin thì pháp luật cần quy định rõ, thống nhất nguyên tắc: thông tin được tiếp cận chỉ là những tin tức, dữ liệu có sẵn trong hồ sơ, tài liệu do cơ quan, tổ chức tạo ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và đang được các cơ quan này nắm giữ .
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành của Việt Nam lại chưa có quy định rõ ràng, thống nhất về nguồn gốc và trạng thái “có sẵn” của thông tin được tiếp cận dẫn đến những e ngại về tính khả thi của việc cung cấp thông tin.
Về nguồn gốc thông tin được tiếp cận: một số văn bản quy phạm pháp luật quy định theo hướng thông tin được tiếp cận là thông tin do cơ quan đó tạo ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình và đang nắm giữ, chẳng hạn như: Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định thông tin, tài liệu trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở giai đoạn nào sẽ do cơ quan tạo ra và nắm giữ thông tin tại giai đoạn đó công bố công khai (giai đoạn soạn thảo, giai đoạn thẩm định, giai đoạn thẩm tra..); các báo cáo giám sát, thông tin về tình hình hoạt động của cơ quan, đơn vị phải cung cấp cho báo chí...
Một số văn bản quy phạm pháp luật lại quy định theo hướng thông tin được công khai, cung cấp theo yêu cầu được chứa đựng trong các tài liệu được cơ quan đó nắm giữnhưng không tạo ra thông tin đó, như thông tin trong lĩnh vực lưu trữ lịch sử.
- Báo chí cũng phải biết về những thông tin hạn chế tiếp cận bao gồm:
Thông tin thuộc bí mật nhà nước; Thông tin về bí mật đời tư; Bí mật kinh doanh; Bí mật thanh tra kiểm tra…
Tuy nhiên, các quy định về bảo vệ bí mật đời tư, bí mật cá nhân chưa làm rõ khái niệm và nội hàm của quyền.
Nắm rõ các chính sách liên quan về nguồn tin, thông tin được tiếp cận thì cơ quan báo chí mới có thể có hướng tổ chức quản lý nguồn tin cho hiệu quả, cân đối các pháp luật liên quan để bảo vệ nguồn tin cũng như giữ bí mật những thông tin không nhất thiết phải công khai, và không rơi vào trạng thái sử dụng nguồn tin sai, vi phạm cơ chế nguồn tin.
* Đầu tư nguồn lực để quản lý nguồn tin
Muốn quản trị nguồn tin tốt, cơ quan báo chí phải đầu tư nguồn lực cơ sở vật chất và nguồn lực con người để tổ chức, quản lý nguồn tin.
Nguồn lực con người chính là chú ý đến bộ phận giám sát việc sử dụng nguồn tin của cơ quan báo chí. Cùng hệ thống nguồn tin đã có , nguồn tin khai thác thêm, bộ phận giám sát nguồn tin, quản lý nguồn tin sao cho hiệu quả và đảm báo tính minh bạch.
Đầu tư con người cũng cần sự hỗ trợ của nguồn lực cơ sở vật chất, quan trọng nhất là hạ tầng cơ sở thông tin để lưu trữ quản lý nguồn tin có sẵn, mở rộng mạng lưới nguồn tin mới.
Hầu hết các cơ quan báo chí hiện nay đều áp dụng công nghệ thông tin vào trong công tác quản lý tin bài, điều hành công việc. Cụ thể, tòa soạn báo sử dụng hệ thống phần mềm quản lý xuất bản báo chí giúp công tác quản lý phóng viên trong quá trình tác nghiệp; quản lý được biên tập viên; Quản lý được quy trình xuất bản ấn phẩm báo chí; Quản lý được tiến độ công việc…
Cơ sở thông tin tại các cơ quan báo chí cho phép các phóng viên, nhà báo dù ở đâu vẫn có thể tác nghiệp được, biên tập viên cũng có thể xử lý tin bài được. Kỷ luật trong quá trình xuất bản cũng được nâng lên. Việc kiểm tra giám sát cũng rất thuận tiện và quan trọng là sẽ tiết kiệm nhân lực, tránh sự trùng lặp.
Cở sở thông tin giúp ích rất nhiều trong rà soát nguồn tin và quản lý nguồn tin. Nhưng khi ứng dụng hạ tầng cơ sở thông tin vào vấn đề quản lý nguồn tin và sản xuất tin báo chí thì các cơ quan báo chí cũng cần lưu ý: Cần dựa trên quy luật và thực trạng quan hệ cung - cầu và độc giả theo từng lĩnh vực báo chí. Và cũng phải nghiên cứu và tìm kiếm giải pháp đảm bảo an ninh hiệu quả, đặc biệt là vấn đề phòng, chống tội phạm công nghệ cao và an ninh mạng, làm lộ nguồn tin.
3.3.3. Quản lý nguồn tin phù hợp với mô hình tòa soạn hội tụ
Trong cuốn “Mô hình hội tụ truyền thông” (Media Convergence Models), Kevin L.McCrudden viết: “Hội tụ truyền thông là sự giao thoa giữa mô hình truyền thông mới và truyền thông truyền thống”. Trong đó, ông đưa ra mô hình truyền thông hội tụ lấy mạng Internet làm hạt nhân và Internet là phương tiện truyền thông mạnh mẽ nhất từng được tạo ra, bởi vì nó có thể bắt
chước tất cả phương tiện truyền thông khác, còn các phương tiện khác không thể bắt chước Internet” [58].
Cả ba tờ báo được khảo sát là Pháp luật Việt Nam, Bảo vệ pháp luật và Pháp luật và Xã hội đều đang xây dựng cơ quan báo chí theo mô hình tòa soạn hội tụ với các loại hình tương đối đa dạng: Báo in truyền thống, báo mạng điện tử và các chuyên mục, nhất là đối với chuyên mục Video clip do phóng viên, biên tập viên của các báo tự sản xuất.
Mô hình tòa soạn hội tụ sẽ dẫn đến các đặc điểm: Hội tụ trong phương thức tác nghiệp của nhà báo. Trong tòa soạn hội tụ, phóng viên, biên tập viên, phóng viên ảnh cùng hợp tác làm tin, bài thay vì hoạt động độc lập như trước.
Nói một cách đơn giản, khi xảy ra sự kiện có tính thời sự, một nhóm phóng viên cùng thu thập tin tức, đồng thời chia sẻ những thông tin đã thu thập được và thống nhất chọn cách tốt nhất để đưa tin.Như thế nghĩa là sử dụng chung các nguồn tin.
Ngoài ra, phóng viên báo in hoàn toàn có thể sử dụng tư liệu, ảnh trong bài viết, phóng viên truyền hình có thể sử dụng phần text của báo in làm lời dẫn cho clip của mình… Các bản tin trên truyền hình cũng có thể sử dụng đồ họa hay các số liệu của báo in và báo mạng đã đăng tải. Đối với báo mạng điện tử có thể sử dụng những sản phẩm của truyền hình và file audio của phát thanh. Trong quá trình tác nghiệp, tòa soạn thường xuyên tổ chức các khóa bồi dưỡng và đào tạo cho phóng viên báo in biết cách tường thuật tin tức trên truyền hình; đối với phóng viên ảnh không chỉ biết chụp ảnh, mà còn có thể quay phim và tiến hành các cuộc phỏng vấn. Nói cách khác, khi làm việc trong tòa soạn hội tụ, các nhà báo sẽ phải làm việc “đa năng” hơn và phải đối mặt với hình thức hội tụ đa phương tiện, dù bản tin đó chỉ là một mẩu tin của kênh truyền hình, hay báo mạng hoặc tờ báo in. Nhà báo tác nghiệp trong môi trường này phải chuẩn bị những bản tin đó một cách đa dạng hơn để có thể đăng tải trên nhiều phương tiện truyền thông khác nhau. Nghĩa là nguồn tin trong các tòa báo hội tụ phải đa dạng và linh hoạt hơn.
Tòa soạn hội tụ cũng đồng nghĩa với sự về nội dung. Một trong những nguyên tắc cơ bản nhất khi xây dựng tòa soạn hội tụ là việc hội tụ nội dung