1.3.1. Cơ sở chính trị
Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực có những diễn biến phức tạp, nền kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn, nhưng báo chí ở nước ta đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, thực hiện đúng sự lãnh đạo của Đảng, phảan ánh nhanh nhạy, đầy đủ, toàn diện về mọi diễn biến của đời sống chính trị, kinh tế - xã hội ở trong nước và quốc tế; là diễn đàn tin cậy của nhân dân.
Trên cơ sở những văn kiện của Đảng ta, có thể thấy quan điểm của Đảng, Nhà nước về quản lý báo chí - truyền thông thể hiện qua mấy điểm:
Một là, công tác báo chí là một bộ phận cấu thành hữu cơ trong bộ máy hoạt động của Đảng ta, là yếu tố cầu thành hoạt động tư tưởng, lý luận.
Không chỉ là yếu tố cấu thành hữu cơ, báo chí là vũ khí xung kích trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Báo chí có vai trò quan trọng đối với công tác tư tưởng, lý luận và tổ chức. Quan điểm này đã được thể hiện xuyên suốt trong hoạt động của Mác-Ănghen, Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng ta. Báo chí là bộ phận hữu cơ và đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện và trực tiếp của Đảng.
Hai là, báo chí nước ta phải góp phần tích cực vào tuyên truyền lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Báo chí phải góp phần tích cực xây dựng lý tưởng xã hội vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, góp phần ổn định chính trị tư tưởng, bình ổn đời sống tinh thần để huy động nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Xây dựng lý tưởng xã hội, tuyên truyền tư tưởng của Đảng là một công việc lâu dài, khó khăn, phức tạp, nhất là trong tình hình hiện nay, cho nên đòi hỏi phải kiên trì, sự nhiệt thành, trung thành, hiểu biết và tính chuyên nghiệp cao.
Ba là, báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng,
sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí. Báo chí của ta là cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, triệt để của Đảng và quản lý của Nhà nước.
Bốn là, Đảng lãnh đạo báo chí bằng việc định hướng chính trị, bằng và thông qua nhà nước, thông qua công tác tổ chức - cán bộ, thông qua giám sát, kiểm tra hoạt động thường xuyên trong thực tiễn. Quản lý nhà nước về báo chí còn bằng sức mạnh của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Năm là, “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ” [3, tr144]. Mỗi nhà báo là một cán bộ hoạt động trong lĩnh vực công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng, là nhà truyền thong - vận động xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước.
Nhà báo là chủ thể tích cực trong quá trình họat động báo chí cũng như quản lý nhà nước về báo chí.
Xác định báo chí có vai trò rất quan trọng, thông tin trên báo chí chính là một yếu tố góp phần vào thành công của các công tác tuyên truyền đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Đảng và Nhà nước ta cũng nhấn mạnh đến các vấn đề về quy chế cung cấp thông tin, đảm bảo nguồn thông tin cho báo chí hoạt động. Khẳng định quyền tự do báo chí và quyền tự do của công dân khi ngôn luận trên báo chí.
1.3.2. Cơ sở pháp lý
Luật Báo chí năm 1989 và bản Sửa đổi, bổ sung năm 1999 quy định rõ:
“*Cung cấp thông tin cho báo chí:
Trong nhiệm vụ và quyền hạn của mình, các tổ chức có quyền và nghĩa vụ cung cấp thông tin cho báo chí, giúp cho báo chí thông tin nhanh và chính xác. Khi cung cấp thông tin cho báo chí, tổ chức chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin do mình cung cấp.
* Bảo vệ nguồn tin
- Báo chí có quyền và nghĩa vụ không tiết lộ người cung cấp thông tin nếu xét thấy có hại cho người đó, trừ trường hợp có yêu cầu của viện trưởng VKSND, chánh án tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố hoặc tương đương trở lên (bằng văn bản) cần thiết cho việc xét xử, điều tra tội phạm nghiêm trọng.
- Bảo vệ bí mật nguồn tin là quy ước đạo đức nghề nghiệp báo chí, được pháp luật bảo vệ.
* Trả lời trên báo chí
- Người đứng đầu cơ quan báo chí có quyền yêu cầu tổ chức, người có chức vụ trả lời những vấn đề công dân đã nêu ra trên báo chí.
- Tổ chức, công dân có quyền yêu cầu cơ quan báo chí trả lời về vấn đề mà báo chí đã thông tin; cơ quan báo chí có trách nhiệm trả lời.
- Cơ quan báo chí phát hiện hoặc nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân về những việc có dấu hiệu phạm tội thì phải thông báo ngay cho cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát bằng văn bản; cơ quan điều tra, viện kiểm sát phải thụ lý và trả lời cho cơ quan báo chí cách giải quyết” [Luật Báo chí 1989, Bản Sửa đổi bổ sung năm 1999].
Luật Báo chí 2016 gồm 6 chương, 61 điều, trong đó có 32 điều xây dựng mới và 29 điều sửa đổi bổ sung so với luật hiện hành chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2017.
Luật báo chí mới sẽ là hành lang pháp lý quan trọng với nhiều quy định tiến bộ, phù hợp với thực tiễn đời sống báo chí và công tác báo chí, mang tính thời đại và xây dựng nền pháp lý vững chắc và cụ thể trong việc phát triển báo chí giai đoạn mới. Điều này được thể hiện trong các quy định cụ thể trong luật như: quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; đối tượng thành lập cơ quan báo chí; liên kết trong hoạt động báo chí;
quyền tác nghiệp của báo chí; quyền hạn và nghĩa vụ của nhà báo; loại hình kinh doanh, dịch vụ của cơ quan báo chí; những hành vi bị cấm trong hoạt động báo chí; cải cách và xử lỷ vi phạm,…
Theo đó, quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân được quy định cụ thể trong Luật báo chí 2016. Cụ thể, công dân có quyền sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, tiếp cận thông tin báo chí, liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí, in và phát hành báo in…
Bên cạnh đó, Điều 6 của quy định về đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam cũng đã nêu rõ bảo vệ bí mật quốc gia, nguồn tin và giữ bí mật cho người cung cấp thông tin. Trong Luật Phòng chống tham nhũng bổ sung, sửa đổi năm 2012 thì điều 86 nói về vai trò trách nhiệm của báo chí cũng quy định Nhà nước khuyến khích các cơ quan báo chí, phóng viên đưa tin, phản ánh về vụ việc tham nhũng và hoạt động phòng chống tham nhũng… Tổng biên tập, phóng viên phải chịu trách nhiệm cao về việc đưa tin, chấp hành pháp luật về báo chí” [15].
Ngày 02/12/2008, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Quy chế xác định nguồn tin trên báo chí. Quy chế nêu rõ trách nhiệm cũng cấp thông tin cho báo chí, phương thức viện dẫn nguồn tin của báo chí, đảm bảo tính nguyên vẹn, chính xác của thông tin được cung cấp; cách thức khai thác các nguồn tin từ văn kiện tài liệu của tổ chức, tài liệu, thư riêng của cá nhân có liên quan đến các vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử… và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan báo chí trong việc sử dụng nguồn tin và tính chính xác của nguồn tin. [31]
Đó là cơ sở pháp lý cụ thể điều chỉnh việc tổ chức quản lý và xác định nguồn tin của các cơ quan báo chí hiện nay. Về cơ bản, những cơ sở pháp lý này đã bao quát toàn bộ vấn đề về quy định nguồn tin, quản lý nguồn tin của cơ quan báo chí, đồng thời khẳng định báo chí có trách nhiệm bảo vệ nguồn tin của mình, tuy nhiên, cũng còn gây đôi chút tranh cãi khi yêu cầu báo chí phải cung cấp thông tin nguồn tin theo yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên cần thiết cho việc điều tra, truy tố, xét xử tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.