Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NGUỒN TIN CỦA CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ NGÀNH TƯ PHÁP VIỆT NAM
3.1. Những vấn đề đặt ra đối với việc quản lý nguồn tin của cơ quan báo chí hiện nay
3.1.1. Những vấn đề chung
Trong những năm qua, báo chí nước ta đã làm tốt chức năng vừa là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, vừa là diễn đàn của nhân dân. Báo chí về cơ bản đã hoạt động đúng pháp luật, đúng định hướng, tuyên truyền kịp thời việc triển khai các nghị quyết, chỉ thị, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Báo chí đã chủ động xây dựng, triển khai kế hoạch tuyên truyền góp phần củng cố, tăng cường sự đồng thuận, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới... Tuy nhiên, có thể hoạt động báo chí cơ bản cũng còn những hạn chế nhất định, mà trong số đố có liên quan đến việc tổ chức, quản lý nguồn tin.
Tình trạng chồng chéo về nội dung, mục đích, đối tượng và tôn chỉ phục vụ còn nhiều và chưa được khắc phục hiệu quả; xu hướng thông tin mang tính giật gân, câu khách, chạy theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng; thông tin thiếu nhạy cảm chính trị, không phù hợp với lợi ích của đất nước, của nhân dân; thông tin sai sự thật, gây phương hại đến lợi ích quốc gia, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân; thông tin không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam; vi phạm về bản quyền trên báo chí... vẫn chiếm tỉ lệ cao trong các hành vi vi phạm của báo chí… Đây là những hạn chế có nguyên nhân về việc tổ chức quản lý nguồn tin chưa hiệu quả, các nguồn tin chưa được thẩm định kỹ lưỡng, bố trí trọng số thông tin trên báo chí chưa hiệu quả.
Ngày nay, báo chí cũng đang đứng trước yêu cầu đổi mới rất quan trọng, khi xuất hiện nhiều hơn sự chú ý của công chúng vào mạng xã hội và
các diễn đàn xã hội khác. Nếu không đổi mới, không đa dạng hóa nguồn tin và cách thức khai thác, tổ chức nguồn tin, báo chí không khó theo kịp mạng xã hội về sự nhanh nhạy. Mạng xã hội cũng mở ra cho báo chí những nguồn thông tin mới, nhưng quan trọng hơn cả là phải khai thác, xử lý thông tin từ nguồn tin mới sao cho thật hiệu quả.
Thêm nữa, ở thời đại “liên kết và chia sẻ thông tin”, không một cơ quan báo chí nào có thể đứng ngoài vấn đề chia sẻ, đóng nguồn thông tin của mình mà có thể phát triển được. Thông tin từ báo khác là một nguồn tin hết sức quan trọng của mọi cơ quan báo chí. Tuy nhiên, không thể chỉ khai thác mà không chia sẻ. Điều đó đồng nghĩa với việc các cơ quan báo chí phải đứng trước một bài toán hết sức khó khăn: Chia sẻ thông tin nhưng phải giữ lại bản chất riêng của cơ quan mình, thậm chí phải phát huy hơn nữa các tin độc quyền, và thậm chí là phát huy cả tốc độ thông tin, nghĩa là thông tin có thể không “độc quyền” nhưng cơ quan báo chí nào xuất bản trước nghĩa là có nguồn tin trước, nhanh nhạy và đảm bảo tính thời sự hơn.
Như vậy, tổ chức, quản lý nguồn tin của một cơ quan báo chí chính là duy trì hoạt động sống của dòng chảy thông tin của cơ quan báo chí đó, nhưng công tác này gặp rất nhiều thách thức trong bối cảnh báo chí thời đại mới và sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và những ứng dụng mà thông tin số đem lại.
3.1.2. Những vấn đề cụ thể đối với việc quản lý nguồn tin của báo Pháp luật Việt Nam, Bảo vệ pháp luật, Pháp luật và Xã hội
* Bảo mật nguồn tin và quản lý nguồn tin riêng
Cả ba tờ báo được khảo sát đều có những bài độc quyền, cơ bản là theo hướng điều tra riêng. Ví dụ, vụ việc điều tra liên quan đến “cát tặc” trên sông Hồng; vụ việc điều tra xâm lấn đất rừng phòng hộ tại Ba Vì; vụ việc điều tra xe đặt các bến cóc, bến dù trên địa bàn Hà Nội… Nhưng bản thân người quản lý nguồn tin tại các cơ quan báo chí được khảo sát cũng không có số liệu thống kê cụ thể về các loạt tin bài độc quyền.
Nguồn tin riêng để phát triển tuyến bài độc quyền được các cơ quan báo chí khuyến khích phát triển, mở rộng. Nguồn tin riêng có thể đến từ đơn thư bạn đọc, ý kiến bạn đọc tương tác trên trang, mối quan hệ nguồn tin, nhân vật cũng cấp thông tin của nhà báo. Và bằng hình thức nào, nguồn tin riêng cũng được bảo mật cẩn thận cho đến thời điểm tin riêng đó đã xuất bản.
Tuy nhiên, đa phần các cơ quan mới chỉ chú trọng bảo vệ nguồn tin riêng cho đến thời điểm báo xuất bản nguồn tin đó, ít cơ chế quan sát và giám sát xem nguồn tin riêng đó có bị dẫn lại ở những trang không hợp tác thông tin (hay nói rõ hơn là dẫn lại không phép) hay không? Nếu không kiểm soát được vấn đề thông tin riêng khi đã xuất bản, thì bài độc quyền chính thức mất tính “độc quyền”.
Với báo chí, quyền và nghĩa vụ liên quan tới việc không tiết lộ danh tính người cung cấp thông tin đã được quy định tại Điều 7 luật chuyên ngành.
Bảo vệ nguồn tin cũng là một trong những chuẩn mực đạo đức cơ bản nhất của người làm báo. Nguyên tắc này tạo nên một biện pháp bảo vệ hữu hiệu với người tố cáo.
Tất cả các cơ quan báo chí đều có yêu cầu nghiêm ngặt về việc bảo vệ nguồn tin riêng, giữ bí mật nguồn tin để đảm bảo thông tin riêng biệt của tòa soạn. Việc giữ bí mật nguồn tin riêng là quy tắc bất di bất dịch mà mọi bộ phận (kể cả không trực tiếp sản xuất tin bài) trong cơ quan báo chí đó phải thực hiện.
Trên thực tế, đường dây nóng của các cơ quan báo chí, đặc biệt là cơ quan báo chí ngành Tư pháp thường nhận được thông tin tố cáo sai phạm, và cũng nhận được không ít thông tin hăm dọa, nặc danh, yêu cầu phải cung cấp xem ai là người đã tố cáo. Nếu không giữ vững nguyên tắc nguồn tin, thì không những không có tin bài độc quyền, mà còn vi phạm nghiêm trọng pháp luật về báo chí và nguyên tắc đạo đức của nhà báo
* Thẩm định nguồn tin từ mạng xã hội và các trang tin tổng hợp
Theo số liệu từ Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay, ở Việt Nam, ước tính có khoảng 35 triệu người dùng mạng xã hội, chiếm 37% dân số.
Trung bình mỗi ngày người Việt Nam vào mạng xã hội khoảng 2 giờ 18 phút.
Bên cạnh mặt tích cực, mạng xã hội cũng tồn tại không ít những yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xã hội, lợi ích cộng đồng, thậm chí cả an ninh quốc gia.
Trước tháng 8/2013, các mạng xã hội tại Việt Nam được quản lý dưới phương thức đăng ký cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh, mạnh của mạng xã hội, Việt Nam đã thay đổi phương thức quản lý từ đăng ký cung cấp dịch vụ sang phương thức cấp giấy phép hoạt động. Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã có 270 mạng xã hội được cấp giấy phép hoạt động [2].
Trong thời gian qua, các hành vi tiêu cực, như tung tin giả mạo, phát tán tin xấu độc, xuyên tạc, bịa đặt, phát ngôn gây thù ghét... chủ yếu tồn tại trên các mạng xã hội nước ngoài do nhận thức của người sử dụng cho rằng mạng xã hội là môi trường ảo nên có thể tự do phát ngôn, tự do thông tin mà không phải chịu trách nhiệm nào. Để quản lý hoạt động của mạng xã hội, trong những năm qua, Việt Nam từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động in-tơ-nét nói chung và mạng xã hội nói riêng, bảo đảm môi trường pháp lý bình đẳng, minh bạch, phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Báo chí, khi coi mạng xã hội là một nguồn cung cấp thông tin, đồng nghĩa với việc phải hết sức chú ý về đặc điểm của nguồn tin này, có tư duy phân biệt, đánh giá nguồn tin từ mạng xã hội để có cách ứng xử cho hợp lý đối với những nguồn tin có nguồn gốc từ mạng xã hội này.
Theo dự báo xu thế phát triển của loại hình mạng xã hội trong những năm tới thì mạng xã hội sẽ trở thành kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội đối với người dân.
Nhưng mạng xã hội cũng trở thành môi trường thuận lợi để thông tin xấu độc, gây hại, những phát ngôn thù ghét phát triển, lan tỏa; mức độ tác động đến xã hội ngày càng nghiêm trọng.
Tiếp đó, mạng xã hội trở thành cánh tay nối dài của báo chí truyền thống. Mạng xã hội đang đóng góp vào hoạt động của các nhà báo một cách
quan trọng trên 3 khía cạnh. Một là, nguồn cung cấp thông tin rộng lớn cho các nhà báo, với nhiều tiếng nói khác nhau, từ chính trị gia cho đến người dân bình thường, từ miền xuôi cho đến miền ngược, người giàu, người nghèo đều có thể đưa thông tin, và trở thành nguồn tin của nhà báo. Hai là, với sự tham gia tích cực của những người sử dụng mạng xã hội, nhà báo có vai trò và trách nhiệm xã hội quan trọng khi đưa ra các vấn đề, tạo sự thảo luận, đưa ra chính kiến cá nhân. Ba là, sự truyền tải thông tin rộng khắp của mạng xã hội giúp các nhà báo đưa thông tin đến người đọc, và thu hút người đọc đến các trang báo mạng của mình.
Điều đó đặt ra cho các cơ quan báo chí nói chung, ba tờ báo được khảo sát trong nhóm báo chí ngành Tư pháp nói riêng nhiều vấn đề liên quan từ khai thác, quản lý, tổ chức nguồn tin từ mạng xã hội. Đó là khai thác tin đúng, có ý nghĩa chính trị xã hội, có tính định hướng, đúng luật quy định.
Cả ba tờ báo được khảo sát đều sinh hoạt nghiệp vụ, sinh hoạt các tổ chức đoàn thể liên quan để: Triển khai hiệu quả “10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo” của Hội Nhà báo Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017). So với các quy ước được ban hành trước đây, lần này Bộ Quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo tập trung nhiều điểm mới, mang hơi thở thời đại, trong đó đáng chú ý là quy định về việc nhà báo phải chuẩn mực, trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội và các phương tiện truyền thông khác.
Quy định này sẽ thúc đẩy nhà báo hướng tới và bảo vệ những giá trị có tính phổ quát, nền tảng nhân văn phát sinh trên mạng xã hội.
Tăng cường quản lý nguồn tin báo chí chính thống để bảo đảm việc xây dựng và gìn giữ uy tín cho báo chí chính thống, tạo thành kênh thông tin chuẩn mực nhằm xác thực những thông tin lan truyền trên mạng xã hội, tạo cơ chế để báo chí lớn mạnh và tồn tại song hành với mạng xã hội.
* Cơ chế giám sát việc tổ chức quản lý, sử dụng nguồn tin
Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với các cơ quan báo chí. Vì rõ ràng, nguồn tin của báo chí hiện nay rất đa dạng, sự phát triển vượt bậc của số ấm phẩm báo chí, loại hình báo mạng khiến cho cơ chế giám sát nguồn tin trở nên hết sức khó khăn.
Thực tiễn là việc sử dụng nguồn tin, phát triển nguồn tin thành bài viết trao cho từng cá nhân nhà báo, phóng viên riêng biệt. Ban biên tập quản lý vĩ mô, sẽ chỉ nhận thông báo để tài, nhận báo cáo lên rằng có thông tin như trên, có cân nhắc đồng ý để thực hiện tin, bài liên quan hay không. Còn trách nhiệm thẩm định nguồn tin, kỹ năng xây dựng bài vở, và thông tin bài viết liên quan là do người viết chịu trách nhiệm thực hiện.
Đa số các cơ quan báo chí, khi nhận phải ảnh về tin sai, tin chưa đúng mới kiểm tra lại nguồn tin, thông tin bài viết của phóng viên ấy, nghĩa là giám sát việc tổ chức quản lý và sử dụng nguồn tin một cách bị động. Nếu có khiếu nại, phản ánh liên quan mới thực sự kiểm tra giám sát.
Trong khi hiện nay đa phần các phóng viên hoạt động theo nhóm:
Nhóm phóng viên nội chính, nhóm phóng viên quốc hội, nhóm phóng viên an ninh trật tự, nhóm phóng viên tư pháp… và việc sử dụng thông tin của nhau khá thường xuyên, một báo đăng, các báo khác lấy lại, nghiễm nhiên coi đó là nguồn tin đúng, dẫn đến nguồn tin sai, thông tin sẽ sai chung của cả một nhóm báo chí. Ví dụ trường hợp nước mắm truyền thống nhiễm chất Asen tổn hại cho sức khỏe, cơ quan quản lý đã xử phạt một lúc 50 tờ báo vì thông tin sai - một lỗi sai hệ thống, khi cho rằng các báo khác đăng rồi đồng nghĩa với việc nguồn tin đó đúng.
Việc kiểm tra, giám sát cơ chế tổ chức, quản lý, sử dụng nguồn tin của các cơ quan báo chí cần phải chủ động hơn. Nghĩa là không chỉ khi sai, bị phản ánh mới kiểm tra nguồn tin đó có đúng không? Thay vào đó, sinh hoạt nghiệp vụ, khi báo cáo thực hiện đề tài, phải có cơ chế kiểm tra nguồn tin của nhà báo. Thậm chí, cần có một bộ phận riêng để giám sát xem thông tin đăng tải có giống bài báo nào đã đăng không? Có bị đơn vị nào dẫn lại không phép hay không? Sự kiểm tra chủ động này khá ít cơ quan báo chí nào thực hiện thường xuyên liên tục được. Lý do là mỗi bộ phận chuyên môn liên quan đều có bận rộn với công việc của mình, chưa kể áp lực tin nhanh, tin có tính chất thời sự đã khiến cho cơ chế giám sát tổ chức quản lý nguồn tin ở mỗi tòa soạn bị… bỏ ngỏ.