Thao tác tóm tắt văn bản

Một phần của tài liệu Tiếng việt thực hành tập bài giảng 2018 pdf (Trang 57 - 65)

Chương 3. TIẾP NHẬN VĂN BẢN

3.1.3. Thao tác tóm tắt văn bản

Khi tóm tắt một văn bản, phải tiến hành các bước sau:

3.1.3.1. Tìm hiểu văn bản gốc

Khi tìm hiểu văn bản gốc, người tóm tắt phải đọc nhiều lần để xác định:

+ Loại văn bản: Văn bản gốc thuộc loại văn bản nào trong các loại văn bản: văn bản khoa học, văn bản hành chính, văn bản nghị luận, văn bản báo chí, văn bản nghệ thuật và văn bản sinh hoạt.

+ Bố cục của văn bản: Xác định các phần, chương, đoạn trong văn bản gốc. Việc hình dung trước bố cục này sẽ giúp người tóm tắt nhận ra được từng phần trong văn bản gốc và quan tâm đến những phần đáng chú ý nhất.

+ Chủ đề chung của văn bản và các chủ đề bộ phận (nói cách khác là những nội dung cơ bản, ý chính)

Cách xác định chủ đề chung và các chủ đề bộ phận:

• Xác định chủ đề chung:

Chủ đề chung là chủ đề của văn bản. Do đó, chủ đề chung phải được thể hiện xuyên suốt qua toàn bộ văn bản. Theo Bùi Minh Toán, “Ý đồ của người viết hay đích hướng tới của văn bản chính là chủ đề của văn bản ấy”. (Tiếng Việt thực hành–Tr. 38)

Mỗi kiểu loại văn bản khác nhau có cách thể hiện chủ đề riêng của mình.

Chủ đề của văn bản nghị luận chính là luận đề trong văn bản (nêu vấn đề đưa ra để bàn luận), câu luận đề này thường nằm ở phần mở đầu hay phần kết luận của văn bản.Ví dụ: Chủ đề của Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh được thể hiện ở câu luận đề ở cuối tác phẩm: “Vì những lẽ trên, chúng tôi- Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà- trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập. Và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do, độc lập ấy.”

Chủ đề của văn bản hành chính nằm ở phần trích yếu nội dung (dưới tên loại trong văn bản có tên loại hoặc dưới số, kí hiệu trong văn bản không có tên loại). Ví dụ: Chủ đề công văn số 2772/UBND-KT ngày 06/6/2017 của UBND thành phố Hà NộiVề việc triển khai thực hiện ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị tổng kết công tác PCTT và TKCN năm 2016, triển khai nhiệm vụ năm 2017 chính là việc triển khai thực hiện kết luận của Thủ tướng Chính phủ.

Chủ đề của văn bản khoa học thường nằm trong chính tên của văn bản. Ví dụ: Tiêu đề của bài Xã hội hóa dịch vụ giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ: thực trạng và giải pháp trong Tạp chí khoa học Nội vụ số 17 năm 2017 phản ánh chủ đề của văn bản này.

• Xác định các chủ đề bộ phận:

Trong đoạn văn có câu chủ đề (đoạn văn có cấu trúc tổng phân hợp, cấu trúc diễn dịch và cấu trúc quy nạp), chủ đề bộ phận nằm trong câu chủ đề của đoạn. Về vị trí, câu chủ đề nằm ở cả đầu và cuối đoạn (Trong đoạn văn có cấu trúc tổng phân hợp), hoặc nằm ở đầu đoạn (Trong đoạn văn có cấu trúc diễn dịch), hoặc nằm ở cuối đoạn (Trong đoạn văn có cấu trúc quy nạp). Về nội dung, câu chủ đề khái quát nội dung của tất cả các câu trong đoạn văn. Về hình thức và cấu tạo, câu chủ đề thường đầy đủ thành phần chính và có các từ ngữ như: Khái quát , tổng quan, kết luận…

Ví dụ: Việc tổ chức công chức theo việc làm khiến cho bộ máy hành chính dễ mất ổn định. Bởi vì có nhiều vị trí không thể đào tạo được. Trong thực tế, với cách tổ chức này, công chức chỉ có “lên” mà không có “xuống”. Vì vậy, làm phức tạp thêm cho công tác tổ chức, đôi khi phải thành lập thêm tổ chức mới để bố trí cho người lãnh đạo, chỉ huy mới được lên chức.

Đoạn văn trên có câu mở đầu nêu ý chủ đề của cả đoạn.

Ví dụ: Nền hành chính nước ta bao gồm hệ thống thứ bậc chặt chẽ và thông suốt từ Trung ương tới địa phương. Trong đó, nguyên tắc cấp dưới phục tùng, nhận chỉ thị và chịu sự kiểm tra của cấp trên. Đó là sự khác biệt cơ bản với hệ thống dân cử hay hệ thống xét xử. Tính thứ bậc ấy trở thành một cơ chế điều chỉnh năng động do Hiến pháp và pháp luật quy định.

Đoạn văn trên có câu chủ đề ở cả đầu và cuối đoạn.

Ví dụ: Nhân dân ta tốt thật. Nhưng ta nên nhớ câu chuyện anh Tăng.

Địch tuyên truyền xảo quyệt và bền bỉ, ngày này đến ngày khác, năm này đến năm khác, “giọt nước nhỏ lâu đã cũng mòn”. Cho nên không khỏi có một số đồng bào bị địch tuyên truyền mãi mà hoang mang.

(Hồ Chí Minh)

Trong đoạn văn không có câu chủ đề (đoạn văn có cấu trúc song hành), chủ đề bộ phận không nằm trong một câu nhất định nào đó trong đoạn văn mà toát ra từ nội dung của tất cả các câu, mỗi câu triển khai một phương diện của chủ đề. Người tóm tắt phải xác định được nội dung chung của tất cả các câu.

Ví dụ: Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

(Hồ Chí Minh)

Chủ đề của đoạn văn trên: Thực dân Pháp đã gây nhiều tội ác đối với phong trào yêu nước của nhân dân ta.

3.1.3.2. Viết tóm tắt

Người ta thường sử dụng hai hình thức tóm tắt: Tóm tắt thành đề cương và tóm tắt thành văn bản hoàn chỉnh.

a) Tóm tắt thành đề cương

- So sánh đề cương trong tóm tắt văn bản với đề cương trong tạo lập văn bản:

+ Giống nhau: Đều phản ánh những nội dung chính của văn bản, là cái khung của văn bản.

+ Khác nhau: Tóm tắt thành đề cương đi ngược lại với xây dựng đề cương khi tạo lập văn bản. Khi tạo lập văn bản, từ cái khung, người viết xây dựng thành văn bản hoàn chỉnh còn khi tóm tắt, từ văn bản hoàn chỉnh ta chỉ giữ lại phần khung.

- Những nội dung cần tóm tắt:

+ Tên văn bản và xuất xứ của văn bản (Tác giả, nhà xuất bản, nơi xuất bản, năm xuất bản)

+ Những nội dung cơ bản trong văn bản gốc

Với những văn bản mà người viết triển khai chủ đề chung và chủ đề bộ phận bằng một hệ thống những đề mục, người viết chỉ cần ghi lại những đề mục đó. Với những văn bản mà người viết không trình bày bằng hệ thống những đề mục, người viết cần xác định chủ đề chung của văn bản và các chủ đề bộ phận;

diễn đạt các chủ đề đó bằng các câu hoàn chỉnh hoặc bằng các cụm danh từ;

trình bày chúng bằng một hệ thống các kí hiệu.

Ví dụ: Tóm tắt thành đề cương Chuyên đề Nhà nước trong hệ thống chính trị như sau:

NHÀ NƯỚC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ I. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Quyền lực và quyền lực chính trị 1.1 Khái niệm quyền lực

1.2 Khái niệm quyền lực chính trị

2. Hệ thống chính trị và các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị 2.1 Khái niệm hệ thống chính trị

2.2 Các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị 3. Hệ thống chính trị nước CHXHCN Việt Nam

3.1 Bản chất và nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước CHXHCN Việt Nam:

a) Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị b) Nhà nước CHXHCN Việt Nam trong hệ thống chính trị c) Các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị

II. NHÀ NƯỚC - TRUNG TÂM CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 1. Sự ra đời và bản chất của nhà nước

1.1 Sự ra đời của nhà nước 1.2 Bản chất của nhà nước

2. Vai trò của Nhà nước trong hệ thống chính trị 2.1 Các đảng chính trị

2.2 Nhà nước

2.3 Các tổ chức quần chúng

III. XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM TRONG KHUÔN KHỔ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ NƯỚC TA

1. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

1.1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN

1.2 Những đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN

2. Sự cần thiết phải xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay

3. Những định hướng cơ bản trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

b) Tóm tắt thành văn bản hoàn chỉnh

Người viết tóm tắt cũng phải trình bày tên văn bản, xuất xứ của văn bản và những nội dung cơ bản trong văn bản gốc. Nhưng khi tóm tắt thành văn bản, người viết phải diễn đạt chủ đề chung và chủ đề bộ phận bằng những câu hoàn chỉnh nhưng ngắn gọn. Sau đó nối các câu đó bằng những phương tiện liên kết câu (thuộc những phương thức liên kết câu như phương thức lặp, phương thức thế, phương thức nối, phương thức liên tưởng) để tạo thành một văn bản hoàn chỉnh. Người viết tóm tắt đôi khi phải trích dẫn nguyên văn để đảm bảo tính khách quan của văn bản tóm tắt.

Ví dụ: Tóm tắt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017-2021 (kèm theo Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 25/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ) như sau

Ngày 25/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 705/QĐ-TTg ban hành Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017-2021.

Chương trình được ban hành nhằm nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL); phát huy trách nhiệm của Nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị, huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia; bảo đảm tính khả thi, kế thừa, phát triển, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn, lĩnh vực, hướng về cơ sở.

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là “Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức tuân thủ, chấp hành, tự giác học tập, tìm hiểu pháp luật, xây dựng lối sống và làm việc theo pháp luật trong toàn xã hội; đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phát triển ổn định, bền vững, đi vào chiều sâu, thiết

thực, hiệu quả, góp phần bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền được thông tin về pháp luật của công dân”.

Chương trình xác định 07 nhóm mục tiêu cụ thể, bao gồm: (i) Tổ chức phổ biến, thông tin rộng rãi về các văn bản quy phạm pháp luật trước và sau khi được ban hành với nội dung và hình thức phù hợp; (ii) Cán bộ, công chức, viên chức định kỳ hàng năm được cập nhật thông tin về chính sách pháp luật mới ban hành theo chương trình học tập pháp luật bắt buộc; (iii) Cung cấp thông tin, tài liệu, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giảng viên dạy pháp luật; (iv) Các nhà trường triển khai PBGDPL theo chương trình giáo dục chính khóa, các hoạt động ngoại khóa, bố trí giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật; (v) Các nhóm đối tượng đặc thù được tuyên truyền, phổ biến pháp luật chuyên biệt; (vi) Huy động các nguồn lực xã hội tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật; (vii) Đổi mới nội dung, hình thức PBGDPL gắn với ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin.

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu, kết quả đã đạt được của công tác PBGDPL thời gian qua, nhất là sau 03 năm triển khai thi hành Luật PBGDPL và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như kết quả tổng kết thực hiện các Chương trình, Đề án về PBGDPL giai đoạn 2011 - 2016 và những năm trước đó, đồng thời khắc phục triệt để tồn tại, hạn chế và nguyên nhân từ thực tiễn, Chương trình đề ra 06 nhóm nhiệm vụ chính, bao gồm: (i) Nâng cao nhận thức, phát huy vai trò, trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, chiến sĩ và người dân trong PBGDPL;

(ii) Tổ chức thi hành nghiêm chỉnh, đồng bộ Luật PBGDPL và các văn bản hướng dẫn thi hành; (iii) Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thể chế, chính sách về PBGDPL; (iv) Tăng cường công tác quản lý nhà nước về PBGDPL; kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; (v) Đổi mới nội dung, hình thức PBGDPL gắn với ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin; (vi) Khuyến khích, huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia PBGDPL.

Để triển khai thực hiện các nhiệm vụ, Chương trình cũng đề ra 06 nhóm giải pháp thực hiện, cụ thể là: (i) Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng; đề cao trách nhiệm, tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo của Thủ trưởng Bộ, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương; (ii) Nâng cao ý thức trách nhiệm, phát huy tinh thần gương mẫu của cán bộ, công chức, viên chức và toàn thể Nhân dân trong tuân thủ, chấp hành pháp luật, chủ động học tập, tìm hiểu pháp luật; (iii) Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật PBGDPL và các văn bản hướng dẫn thi hành; (iv) Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp đổi mới công tác PBGDPL; (v) Rà soát, chuẩn hóa nội dung chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, học tập môn pháp luật, giáo dục công dân; (vi) Tổ chức khảo sát, đánh giá nhu cầu thông tin pháp luật để lựa chọn trọng tâm, trọng điểm cần ưu tiên nguồn lực; kiểm tra, sơ kết, tổng kết.

Tại Quyết định, Thủ tướng Chính phủ đã giao trách nhiệm cụ thể cho các Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và chính quyền địa phương các cấp để tổ chức triển khai thực hiện Chương trình, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm của các Bộ, ngành đã được giao chủ trì thực hiện các Đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban Dân tộc, Thanh tra Chính phủ); trách nhiệm của các Bộ, ngành tiếp tục triển khai thực hiện một số Đề án về PBGDPL theo Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 (Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp, Hội Luật gia Việt Nam) và trách nhiệm chủ trì xây dựng, triển khai thực hiện một số Đề án mới của Chương trình (Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công an) trong giai đoạn 2017 - 2021.

Quyết định cũng quy định trách nhiệm của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp trong hướng dẫn, chỉ đạo, điều phối các hoạt động và kinh phí thực hiện Chương trình, các Đề án về PBGDPL để tránh trùng lắp, lãng phí nguồn lực của nhà nước.

Một phần của tài liệu Tiếng việt thực hành tập bài giảng 2018 pdf (Trang 57 - 65)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(216 trang)