Thất nghiệp tự nhiên

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vĩ mô (Trang 184 - 190)

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

6.2.2. Thất nghiệp tự nhiên

Như trình bày trên, trang thái toàn dụng việc làm không đồng nghĩa với việc toàn bộ lực lượng lao động đều làm việc. Một số người không muốn làm việc với mức lương hiện tại. Hiện tượng này được gọi là (hái

nghiệp tự nguyện. Trong hình 6.7, số người thất nghiệp tự nguyện được

biểu thị bằng đoạn /71,. Ngoài số người thất nghiệp tự nguyện, trong trạng thái toàn dụng việc làm, luôn tồn tại một số người đang tìm công

185

việc phù hợp hơn hoặc chuẩn bị bắt tay vào một công việc nào đó. Số người này hợp thành thất nghiệp tự nhiên. Nói một cách ngắn gọn, thất nghiệp tự nhiên là hệ quả của sự lựa chọn tự do của mỗi người về nơi và thời gian làm việc. Khái niệm thất nghiệp tự nhiên được Friedman đưa ra để phân tích tỷ lệ thất nghiệp khi nền kinh tế đạt trạng thái cân băng dài hạn.

Đề đo lường tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, chúng ta quy ước: đ, - tỷ lệ người bị mất việc trong số người đang làm việc, đ,— tỷ lệ người thất nghiệp tìm được việc làm trong số người thất nghiệp.

Số lượng người làm việc thay đổi được xác định theo công thức:

AL=d.*U-d*L..

Tình trạng toàn dụng việc làm đạt được khi A⁄ =0. Do vậy:

d,*U=d *L=d(F-ÙUÙ)>ÙU= att . (6.5) d,+d,

(6.5) cho phép xác định số người thất nghiệp trong tình trạng toàn đụng việc làm (AL=0). Trên cơ sở đó, chúng ta tính được tỷ lệ thất

nghiệp tự nhiên:

. U di*F

“=—=— ơ (6.6)

F (d,+d,)F_ d,+d, Bảng 6.1 trình bày các thông số đ,,đ, của LB Đức.

Các thông số đ,,đ, bị chỉ phối bởi nhiều yếu tố: những hình thức

bảo vệ kinh tế - xã hội cho người dân như lương tối thiểu, trợ cấp thất

nghiệp và trợ cấp người nghèo..., thể lực của công đoàn, ham muốn lao

động của người dân. Bởi vì những thông số này dễ biến động, tỷ lệ thất

nghiệp tự nhiên cũng thay đôi theo thời gian.

Ngoài những yếu tố kể trên, sự thay đổi tình trạng thất nghiệp thực

tế cũng tác động tới tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Sau khi tỷ lệ thất nghiệp

thực tế tăng cao trong thời kỳ khủng hoảng hay suy thoái kinh tế thì không trở về mức cân bằng ban đầu mà ổn định tại một tỷ lệ cao hơn.

Hiện tượng này xảy ra do hai nguyờn nhõn: ù) Trong thời kỳ nền kinh tờ trải qua tình trạng thất nghiệp cao, người thất nghiệp bị mắt đi phần nào trình độ chuyên môn (hiện tượng “hen rỉ vốn nhân lực”) nên họ khó tìm được ngay công việc phù hợp; ii) Tôn tại những quyền lực thị trường giữa người làm việc và người thất nghiệp. Người thất nghiệp quan tâm

186

cốt làm sao mức lương hiện tại sẽ được duy trì vì nếu mong muốn của họ thành hiện thực thì trong thời kỳ mở rộng, câu lao động sẽ tăng nhưng họ lại không được tham gia dam phan về mức lương. Trong khi đó, người làm việc mong muon việc tăng câu lao động sẽ đây lương lên cao chứ không làm tăng số người làm việc và họ có thể đạt được mục đích của mình trong quá trình đàm phán với người sử dụng lao động.

Bảng 6.1. Các théng sé d,,d,

Đơn tị tính: nghìn người

Năm | Số người | Số người | w, % Số Số người d d

lam viéc that người tìm được Ị ;

nghiệp thất việc

nghiệp

199] 38454 2145 6,31 3660 3713 0,095 1,73

1992 37878 2283 6,63 3961 3667 0,105 1,61

1993 37365 2864 8,2 4549 4061 0,122 [,42

1994 37304 3354 9,2 4514 4483 0,121 1,34

1995 37382 3393 9,3 4655 4522 0,125 1,33

1996 37270 3696 10,1 4967 4684 0,133 1,27

1997 37208 4078 J1 4926 4823 0,132 1,18

1998 37611 3937 10,5 4943 5123 0,131 1,3

1999 38081 3719 9,9 4835 5030 0,127 1,35

2000 38706 3413 8,7 4650 4882 0,120 1,43

Nguon: Burda M., Wyplosz C. (2009), Macroeconomics: A European Text,

Oxford University Press, N.Y.

Bởi vì người thất nghiệp cần một thời gian để tìm được nơi làm việc phù hợp,

v A

>

Hinh 6.8. Dwong Beveridge

Tý lệ chỗ làm việc trồng

còn doanh nghiệp không thể

lắp ngay chỗ trống nên trong

điều kiện toàn dụng việc làm,

tồn tại một tỷ lệ chỗ làm việc

trống. Mối quan hệ giữa số

người thất nghiệp và số chỗ

làm việc trống được gọi là duong cong Beveridge mang

tén nha kinh té Anh William

u Bevcridge.

Đường cong Beveridge

được biểu diễn trong hình 6.8. Trong hình này, tỷ lệ thất nghiệp () được

đặt trên trục hoành và tÿ lệ chỗ làm việc trống (v) — trên trục tung. Ty lệ 187

chỗ làm việc trống là tỷ lệ số chỗ làm việc trống trên số người làm việc.

Nếu vy tăng thì z giảm. Bởi vì đường cong Beveridge có độ nghiêng âm, khi số chỗ làm việc trông tăng, việc giải aye vấn đề thất nghiệp trở nên nhẹ nhàng hơn.

6.2.3. Thất nghiệp bắt buộc. Sản lượng tiêm năng. Đường cong Okun

Tỷ lệ thất nghiệp thực tế thường khác tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.

Trong thời kỳ mở rộng, câu lao động tăng mạnh đến mức tỷ lệ số người mắt việc trên số người làm việc thấp hơn mức bình quân. còn tý lệ SỐ người tìm được việc làm trên số người thất nghiệp cao hơn mức bình quân. Kết quả là tỷ lệ thất nghiệp thực tế 0 thấp hơn mức tự nhiên uw’.

Tình trạng này được gọi là tăng trưởng nóng. Trong thời kỳ thu hẹp, các quá trình ngược lại diễn ra và hệ quả là tỷ lệ thất nghiệp thực tế cao hơn mức tự nhiên.

Chênh lệch giữa tỷ lệ thất nghiệp thực tế và tỷ lệ thất nghiệp tự

nhiờn là tỷ lệ thất nghiệp bắt buộc: “ =w—ứ”. Thất nghiệp bắt buộc

chỉ xuất hiện trong hai trường hợp cuỗi trong các trạng thái dưới đây của thị trường lao động.

Thứ nhất, tăng trưởng nóng. Số lượng lao động thực tế cao hơn số lượng lao động trong điều kiện năng lực sản xuất vận hành bình thường;

số giờ lao động bình quân cao hơn mức bình thường: tỷ lệ thất nghiệp

thực tế thấp hơn tý lệ thất nghiệp tự nhiên (⁄ > 1”, y > y”,w<w”}.

Thứ hai, việc làm bình thường. Số lượng lao động tương ứng với

mức độ sử dụng năng lực sản xuất bình thường; sản lượng thực tế băng

sản lượng tiềm năng: tỷ lệ thất nghiệp thực tế bằng tỷ lệ thất nghiệp tự nhién (L=L' ,y=y' u=u').

Thứ ba, thừa việc. Trên thị trường lao động, cung cân đối với cầu nhưng tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên tăng; sản lượng thực tế băng sản lượng tiềm năng với tỷ lệ vốn/lao động tăng (1 = Ƒ”,y = y”,w =u° `).

Thứ tư, thu hẹp sản xuất. Tình trạng thiểu việc làm và năng lực sản

xuất dư thừa; sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng: tỷ lệ thất

nghiệp thực tế cao hơn tý lệ thất nghiệp tự nhiên và có xu hướng tăng

(L<Liy<y',Puru’). |

188

Thứ năm, phục hồi kinh tế. Tình trạng thiếu việc làm trong điều kiện năng lực sản xuất dư thừa; sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng nhưng sản xuât bắt đầu khôi phục và tý lệ thât nghiệp bắt buộc

giảm (L<L”,y< y”,Ìu>uF).

Sự tôn tại thất nghiệp bắt buộc chứng tỏ khả năng sản xuất của nền kinh tế không được khai thác toàn bộ. Sản lượng thực tế y(L) thấp hơn

mức tiêm năng tại trình độ công nghệ hiện tại y”(J7). Khoảng cách

giữa chúng được gọi là chênh lệch chu kỳ hoặc chênh lệch sản lượng.

60 40.

20 00

-20

40

-AD

Hình 6.9. Chénh lệch sản lượng của một số nước phát triển!

Hình 6.9 mô tả chênh lệch sản lượng của Anh, Đức, Mỹ, Nhật Bản trong thoi ky 1996 — 2012.

Nghién ctu thuc nghiém cua nha kinh té MY Arthur Okun cho phép rút ra kết luận: tôn tại một moi quan hé bên vững giữa tỷ lệ thất nghiệp bắt buộc và chênh lệch sản lượng. Ông biểu diễn mối quan hệ này bằng

phương trình: ,

⁄ ~Y _— K

Fun): (6.7)

Trong đú, ỉ - hệ số Okun.

' hitp:/;www.oecd.org/statistics/

189

Hệ số Okun có ý nghĩa kinh tế là sản lượng được tạo nên không chỉ bởi công nghệ sản xuất mà còn do sự thay đổi mức độ tích cực kinh tế của các chủ thể kinh tế trong những pha khác nhau của chu kỳ kinh té.

Phương trình (6.7) thê hiện định luật Okun: nêu thất nghiệp bắt buộc tăng 1%, chênh lệch san lugng tang 0%.

IT

“A

lil

Hinh 6.10. Xay dung duwong cong Okun

Theo kết quả tính toán của Okun, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên trong

thập niên 1960 của Mỹ băng 4%, còn hệ số Okun là 3. Tức là nếu thất

nghiệp bắt buộc tăng 1%, chênh lệch sản lượng tăng 3%. Chúng ta quy

ƯỚC: O= khi đó, (6.7) được viết lại:

0*y``

u—-Uu i

— 4,/

yu)=y + 5 (6.8)

Biểu đồ của (6.8) được gọi là đường cong Okun.

Biểu đỗ của hàm sản xuất được đặt trong góc thứ hai của hình 6.10.

Ở đây, sản lượng phụ thuộc không chỉ vào trình độ công nghệ mà còn vào cục diện kinh tế (ể): y= y(L.@). Nếu ỉ>l, khỏc với hàm sản xuất ngăn hạn được xem xét trước đó, biểu đồ của hàm này bị bẻ cong vào trục y„ chứ không phải trục È, tức là năng suất biên của lao động tăng

chứ không giảm. Đường phụ trong góc thứ ba có độ nghiêng 45%. còn

biểu đồ của hàm định nghĩa thất nghiệp bắt buộc được trình bảy trong góc IV :

190

po L-Lk /

„ Susu! $1

tị — tí

Đường cong Okun được xây dựng như sau: trong điều kiện toàn dụng việc làm, sản lượng băng y”, còn tỷ lệ thất nghiệp — ”. Giả định do cục diện kinh tế trở nên xấu đi, số lượng lao động giảm xuống L.

Khi đó, sản lượng giảm xuống y, và tỷ lệ thất nghiệp thực tế tăng tới Uy.

Do vậy, điểm A nam trên đường cong Okun. Những điểm khác thuộc

đường cong này cũng được tìm thấy theo cách tương tự (hình 6.9).

Duong cong Okun dịch chuyển sang phải nếu: ¡) Sản lượng tiém năng thay đổi do cung lao động tăng hoặc công nghệ sản xuất hoàn thiện

hơn; ii) Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên tăng do hiện tượng trễ.

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vĩ mô (Trang 184 - 190)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(423 trang)