Tạo và hủy tiền bởi hệ thống ngân hàng

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vĩ mô (Trang 112 - 123)

Tiền mặt và tiền dự trữ của khu vực Ngân hàng {rung ương

NHTM hợp thành cơ so tién. NHTW dua

tiền mặt vào lưu thông thông qua hai con đường: ¡) NHTW thanh toán

tiền mặt khi mua các tài sản từ những chủ thể kinh tế và chính phủ; ii)

NHTW cấp tín dụng cho chính phủ và NHTM. Mức cơ sở tiên của một nước có thê được xác định dựa trên bảng cân đối cua NHTW.

'Téng hop theo: www.ecb.int/stats/hist/hist.htm; www. federalreserve.gov/releases.

113

Bảng cân đối của NHTW bao gồm tài sản có và tài sản nợ. Dự trữ ngoại hếi (R), giấy tờ có giá (P), tín dụng cấp cho NHTM (K”), tín dụng cấp cho chính phủ ( KÊ ) và các khoản tài sản khác (⁄4) thuộc phạm trù tải sản có, còn tài sản nợ bao gồm lượng tiên trong lưu thông (C),

tiền gửi của NHTM (0Ð), tiền gửi của chính phủ (Ð*) và các khoản

khác (1).

Từ bảng cân đối trên, phương trình cân đối của NHTW có dạng:

R+B+K°+K*®+A=C+D°+D* +D,

=> R+B+K’+K*% +A4=C+D'+D*,

Trong dé, AA — chênh lệch giữa khoản tài sản có khác và khoản tài sản nợ khác.

Việc hình thành cơ sở tiền được phản ánh trong về trái của (4.1).

Khi tăng tài sản có, NHTW tạo tiền. Còn khi giảm tài sản có, NHTW hủy tiền.

Khả năng điều tiết cung tiền của NHTW phụ thuộc đáng kế vào sự

tương quan giữa thành phần đối ngoại (dự trữ ngoại hồi) và thành phân đối nội (tín dụng cấp cho chính phủ và NHTM). Thành phần đối ngoại chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi tình trạng cán cân thanh toán, trong khi thành phần đối nội do chính sách tiền tệ chi phối. Trong trường hợp thực trạng của nên kinh tế lệch khỏi mục tiêu của chính sách tiền tệ, chăng hạn, thặng dư cán cân thanh toán tăng, NHTW phải áp dụng biện pháp trung hòa để rút bớt lượng tiền dư thừa khỏi lưu thông.

Về phải của (4.1) phản ánh cấu trúc của cơ sở tiền. Dựa trên về phải của phương trình này, một nhà phân tích có thể xác định tỷ lệ giữa tiền mặt trong lưu thông và tổng tiền gửi của NHTM, chính phủ tại NHTW tại một thời điểm nào đó. Chi cấu phân thứ nhất của cơ sở tiền — lượng tiền mặt trong lưu thông năm ngoài phạm vi NHTW - được sử dụng như phương tiện thanh toán nên cấu phần thứ hai — tiền gửi của NHTM tai

NHTW - không phải tiền mặt. Chúng là dự trữ của hệ thống ngân hàng

và nhờ đó, có thể tăng lượng tiền mặt trong lưu thông mà không cần tạo

thêm tiền. Tuy nhiên, có một khác biệt cơ bản giữa tiền gửi của NHTM

và tiền gửi của chính phủ. Lượng tiền gửi của NHTM có thể được

NHTW điều tiết tương ứng với mục tiêu chính sách của nó, còn lượng

tiền gửi của chính phủ không bị chi phối bởi cơ quan này. Nếu lượng tiền gửi của chính phủ chiếm tỷ trọng lớn trong tông tiền gửi tại NHTW,

(4.1)

114

Bộ Tài chính cũng có thê tác động tới cung tiền. Giảm lượng tiền gửi tại

NHTW, B6 Tài chính làm tăng cung tiền và ngược lại.

Tiền mặt xuất phát từ NHTW được Ngân hàng thương mại phân phối theo hai kênh: một phần nằm

trong tay hộ gia đình và doanh nghiệp, còn phần khác đi vào các NHTM dưới dạng tiền gửi. Tiền gửi vào NHTM có thể được dùng để cho vay.

Khi đó, cung tiền tăng lên. Khi tín dụng được hoàn trả, cung tiền giảm xuống. Do vậy, NHTM cũng có thể tạo và hủy tiên. Tuy nhiên, khả năng tạo và hủy tiền của NHTM khác với NHTW. Khả năng tín dụng của NHTVW vô hạn về lý thuyết vì tất cả bốn phận nợ của nó đều là tiền..

Trong khi đó, các NHTM bị giới hạn về khả năng tín dụng. Mỡ tài

khoản thanh toán cho khách hàng, NHTM phải đề phòng trường hợp

người gửi tiền rút tiền bất kỳ lúc nào trong phạm vi số tiền gửi của họ.

Cho nên để tránh bị phá sản, NHTM luôn luôn phải dự trữ một lượng

tiên mặt.

Trong hệ thông ngân hàng hai cấp hiện đại, NHTW quy định những

định mức dự trữ tối thiểu dưới dạng tiền gửi bắt buộc không lãi suất đối

với NHTM. Hệ thống ngân hang này được gọi là hệ (hồng dự trữ một phần. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được phân loại theo từng loại tiền gửi. Tiền gửi không kỳ hạn có định mức cao hơn tiên gửi có kỳ hạn. Những định mức dự trữ bắt buộc trong giai đoạn phát triển ban đầu của hệ thống ngân hàng hai cấp được xem là phương tiện ngăn ngừa phá sản cho NHTM nhưng sau này, được sử dụng như công cụ điều tiết cung tiên.

Chăng hạn, tại Mỹ, định mức dự trữ bắt buộc được chuyển thành một công cụ điều tiết tiền tệ từ năm 1933.

Bên cạnh những định mức dự trữ tối thiêu, NHTM thường trích thêm một tý lệ nào đó trong tổng số tiền huy động vào quỹ dự trữ tiền mặt. Lượng tiền này được gọi là dự írữ vượt mức.

Như vậy. dự trữ của NHTM bằng tổng của dự trữ bắt buộc và dự trữ Vượt mức.

Dự trữ của NHTM thu hẹp khả năng tín dụng của chúng. Tuy nhiên, lượng tiền cho vay cao hơn lượng tiền gửi do NHTM có thẻ tạo tiên.

Chúng ta xem xét mô hình tạo tiền của NHTM.

-_ Giả định: H — cơ sở tiền, #'— dự trữ bắt buộc, R“ — dự trữ vượt mức, K - tín dụng của khu vực NHTM, 2D ~ tiền gửi không kỳ hạn, C —

tiền mặt trong lưu thông.

115

Chúng ta lập các bảng cân đối tiền tệ của ba chủ thể tham gia tao

tiền: NHTW, khu vực NHTM và khu vực phi ngân hàng (bảng 4. I).

Bảng 4.1. Bảng cân đối tHền tệ của các chủ thể tham gia tao tién

NHTW NHTM Khu vuc phi ngan hang

Tài sản có Tài sản nợ Tài sản có Tài sản nợ Tài sản có Tài sản nợ

H C R’ D C K

R’ R D H

Rt K * T T T

Tổng sô Tông sô Tông sô Tông sô Tông sô Tông sô

NHTV thanh toán băng tiên mặt khi mua các tài sản từ khu vực phi ngân hàng và chính phủ. Một phần tiên mặt được thanh toán này hình thành tài sản có của khu vực phi ngân hàng (C) và phần còn lại đi vào NHTM dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn (D), tạo tài sản có cho NHTM

(R +ẹR°). Tiền gửi khụng kỳ hạn là tài sản cú của khu vực phi ngõn

hàng và tài sản nợ của khu vực NHTM. Ngược lai, tin dung (XK) 1a tai san có của khu vực NHTM và tải sản nợ của khu vực phi ngân hàng.

Quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng được biểu diễn bằng hai phương trình cân đối:

{ H=C+ R'+ R;

K=D-R—-ẹ..

x. DD’? m _*. m _£ vol m, — ty lệ dự pb K y l¢ at trữ bắt buộc, m, — tỷ lệ dự trữ vượt mức, m, — tỷ lệ tiên mặt do khu vực phi ngân hàng năm giữ trên tổng tín dụng.

Từ hai phương trình cân đối trên, SUY Tâ:

{ H=m,*D+m,*D+m,* K, K = D-—m,* D—-m,*D,

> D= * HH,

in + + mị (ẽ — mị —m;)

Hệ số đứng trước HỞ trong (4.2) được gọi là số nhân tiền ĐỬI.

Số nhân tiền gửi phản ảnh tiên gửi không kỳ hạn của khu vực NHTM tăng bao nhiéu néu co SỞ tiễn tăng lên một đơn vị.

Biến đổi (4.2), nhận được:

Chúng ta quy ước: 7, =

(4.2)

l—-m—m._. *H. (43)

mm +m; + m;(Ì —m — m,) . . K=

116

Hệ số đứng trước #ù trong (4.3) là số nhõn tớn dụng.

SỐ nhân tín dụng phản ánh tín dụng do khu vực NHTÌM cung ứng tăng bao nhiêu nêu cơ sở tiền tăng lên một đơn vi. |

Vì Mi được xem là chỉ tiêu đo lường cung tiền, tức là

M=MI=C+D=m,*K +D, lượng tiền do hệ thống ngân hàng tạo ra

được xác định theo công thức:

l+m;(1—m —m;)

M= * H =m*H.(44)

mị +, + m;(Ì— m — m, ) Hệ số đứng trước # trong (4.4) là số nhân tiền.

Số nhân tiền phản ánh cung tiền tăng bao nhiêu nếu cơ sở tiền tăng lén mét don vi.

So đồ trong hình 4.2 phản ánh sự tác động của ba chủ thể trên tới

quá trình hình thành cung tiễn.

NHTW

Khu vực phí ngân hàng

NHTM

M=m*H

Hình 4.2. Quá trình hình thành cung tiền

Số nhân tiền càng ổn định, nhiệm vụ điều tiết cung tiền của NHTW

càng dễ dàng.

Với mức cơ sở tiền cho trước, cung tiền phụ thuộc vào các hệ số

m.,m,,m. Nhưng những hệ số này bị chỉ phối bởi hành vi của NHTW,

khu vực NHTM và khu vực phi ngân hàng.

Như vậy, cung tiền tăng nếu: ¡) cơ sở tiền tăng: ii) tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm; ùii) tỷ lệ dự trữ vượt mức giảm; iv) tỷ lệ tiền mặt lưu thụng ngoài NHTM trên tông tín dụng giảm.

117

4.1.4. Câu trúc của thị trường tài chính và hệ thống lãi suất

Những mô hình kinh tế thường dựa trên tiền đề là của cải của hộ gia

đình chỉ bao gồm hai tài sản tài chính: tiền và trái phiếu chính phủ. Trải phiếu chính phủ là đối tượng mua - bán duy nhất trên thị trường tài chính và tỷ suất sinh lời của chúng dưới dạng lãi suất thị trường là chi phí cơ hội của việc giữ tiền mặt, tức là giá của tiền. Tuy nhiên, trong thực tế, để chuyên tiết kiệm của hộ gia đình thành đầu tư của doanh nghiệp, những trung gian tài chính sử dụng nhiều công cụ tài chính khác nhau được phân loại theo các tiêu chí như chủ thể phát hành, thời hạn, hình thức lưu thông trên thị trường, tỷ suất sinh lời, tính thanh khoản, tính phân chia

được, chỉ phí giao dịch... Dựa trên những công cụ đa dạng này, mỗi hộ gia đình tính toán để hình thành cấu trúc tài sản tối ưu cho mình.

Tổng cung và tổng cầu tài sản tài chính tạo nên thị trường tài chính mà được phân thành hai thị trường: thị trường tín dụng ngắn hạn và thị trường vốn.

Đối tượng mua - bán trên thị trường tín dụng ngắn hạn là tiền của NHTW và các loại giấy tờ có giá của thị trường tiền tệ (trái phiếu, tin phiếu, chứng chỉ tiền gửi và tiền tiết kiệm ngắn hạn...). Tất cả công cụ tài chính này có đặc điểm chung là đáp ứng nhu cầu ngắn hạn về thanh khoản. Trong thực tế, thị trường này được nhập vào thị trường tiền tệ.

Những giấy tờ có giá dài hạn, trước hết, cỗ phiếu và trái phiếu dài

hạn lưu thông trên thị trường vốn. Đặc điểm chung của các giấy tờ có giá đài hạn là mức độ rủi ro cao. Thị trường vốn không chỉ cung ứng cho doanh nghiệp vốn vay dài hạn mà còn tối ưu hóa việc phân phối rủi ro giữa các chủ thể của thị trường tài chính.

Tiền là một sản phẩm đồng nhất —- một đồng Việt Nam này không

khác gì một đồng Việt Nam khác. Nhưng các giao dịch thực tế trên thị

trường tiền tệ khác nhau về thời hạn và chủ thể thực hiện. Dưới góc nhìn này, trên thị trường tiên tệ, lưu thông nhiều sản phẩm không đồng nhất

và mỗi loại có một mức giá riêng. Vì thế hình thành một hệ thống lãi

suất. Hệ thống lãi suất có cấu trúc không gian và thời gian.

Về thời gian, chúng ta phân biệt lãi suất ngắn hạn và dài hạn. Trong thực tế, lãi suất dài hạn thường cao hơn lãi suất ngắn hạn, hai loại lãi suất này thay đổi cùng chiều nhưng lãi suất ngắn hạn dao động mạnh hơn.

118

lrving Fisher xây dựng lý thuyết đầu tiên về mỗi quan hệ phụ thuộc giữa các lãi suất. Theo quan điểm của ông, vốn vay ngăn hạn và vốn vay đài hạn là những sản phẩm hoàn toàn thay thế nhau. Giả định người cho vay muốn nhận một mức thu nhập tương đương từ một cùng khoản tiền trong thời hạn năm năm và trong thời hạn một năm nhưng năm lần được

tái đầu tư. Trong trường hợp này, lãi suất dài hạn là lãi suất bình quân

của tất cả lãi suất ngăn hạn. Lãi suất dài hạn cao hơn lãi suất ngăn hạn chừng nào mà lãi suất ngắn hạn được kỳ vọng tăng lên. Nếu lãi suất ngắn hạn không đối thì bằng lãi suất dài hạn. Nếu lãi suất ngăn hạn được kỳ vọng giảm thì lãi suất dài hạn hiện tại thấp hơn lãi suất ngắn hạn. Tuy nhiên, quan điểm này có hạn chế là bỏ qua yếu tố rủi ro: khoản vay dài hạn rủi ro hơn khoản vay ngắn hạn.

Khác với Fisher, Keynes nhận định rang, lãi suất dài hạn thường cao

hơn lãi suất ngắn hạn vì việc từ chối thanh khoản trong khoảng thời gian đài làm giảm phúc lợi của người cho vay nhiều hơn so với việc từ chối thanh khoản trong thời gian ngắn nên lãi suất cho vay dài hạn phải cao hơn lãi suất cho vay ngăn hạn.

Từ phân tích trên, có thé tong hợp ba yếu tố tạo nên sự chênh lệch lãi suất (” —/Ÿ) : ) Dự báo của nhà đâu tư về xu hướng thay đổi lãi suất;

¡) Phần thưởng cao hơn cho rủi ro trong dai hạn do những biến động

kinh tế bất ngờ có thể xảy ra; iii) Phần thưởng cho việc từ chối thanh khoản trong thời gian dài. Bất chấp mức chênh lệch dương trong hai

mục ii) và ii), lãi suất dài hạn có thể thấp hơn lãi suất ngăn hạn trong hiện tại nếu lãi suất ngăn hạn kỳ vọng giảm trong thời gian dài.

Vẻ không gian, hệ thống lãi suất bao gôm các mức giá khác nhau trên những phân khúc của thị trường tiền tệ — thị trường vốn huy động, thị trường tín dụng, thị trường liên ngân hàng. Mỗi phân khúc có một mức giá riêng. Những thị trường tiền tệ này liên kết chặt chẽ với nhau và

hình thành một hệ thống lãi suất có trật tự.

Chúng ta quy ước: ¿ - lãi suất huy động của NHTM, /* — lai suất

cho vay của NHTM, 77, ,¡” - lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay trên

thị trường liên ngân hàng, tỷ suất sinh lời của trái phiếu chính phủ.

Nếu NHTM cần thêm tiền mặt vượt hạn mức tín dụng NHTW cho phép, họ tìm đến thị trường liên ngân hàng mà tại đó, i’ >i° . De NHTM không dùng tín dụng của NHTW để mua trái phiếu chính phủ,

119

cần đảm bảo đẳng thức: 7? >¡”. NHTM huy động vốn từ hộ gia đình chỉ khi i? >i” vì nếu trong trường hợp ngược lại, để có thêm tiên mặt, họ sẽ bán trái phiếu trên thị trường mở. _

Từ phân tích trên, giữa các loại lãi suất hình thành những mỗi quan

hệ dài hạn sau đây: |

ik >i >i >i? >i”.

Việc thay đối lãi suất trên một thị trường nào đó sẽ kéo theo sự điều chỉnh lãi suất trên những thị trường còn lại. Ngoài ra, trong một số hoàn cảnh, có thể xảy ra sự đảo chiều giữa các lãi suất.

4.1.5. Cung tiền và cung trái phiếu trong mô hinh Keynes

Bởi vì trong mô hình Keynes, sự cân bằng của thị trường tiền tệ được xác lập thông qua thị trường trái phiêu chính phủ nên cung tiên và

cung trái phiếu chính phủ phải được phân tích đồng thời.

Để đơn giản, chúng ta dựa trên những tiền đề của lý thuyết danh

mục: ,

- Các tài sản của hộ gia đình hoàn toàn thay thể nhau;

- Tài sản của hộ gia đình chỉ bao gồm các tài sản tài chính và tiền

mặt; |

—= Ngoài tiền (A/), hộ gia đình chỉ sở hữu một loại giấy tờ có giá duy

nhất - trái phiếu chính phủ (8). Tiền có tính thanh khoản cao nhất, còn trái phiếu chính phủ đại diện cho tất ca tài sản phi tiền tệ mang lại cho chủ sở hữu thu nhập lãi suất.

Tổng tài sản của nền kinh tế:

W=M+B.

NHTW quyét dinh cung tién, con cung trai phiếu do chính phủ tạo nên.

_Cung tiên trong lý thuyết Keynes được hình thành theo số nhân tiền giản đơn. Để đơn giản, chúng ta giả định: thứ nhất, khu vực phi ngân hàng chuyên lập tức toàn bộ tiền mặt đến tay mình vào tài khoản thanh toán; thứ hai, NHTM xem dự trữ bắt buộc đủ để đảm bảo khả năng thanh toán nên không bô sung dự trữ vượt mức, tức làzr =rr” với rr?” =0.

Nếu NHTW phat hành thêm một lượng tiền mặt, chăng hạn, 10 tỷ

VND thi lượng cung tiên tăng thêm:

AH = AC = AM = 10 tỷ VNĐ.

120

Toàn bộ số tiền này được gửi vào tài khoản tại NHTM „be 1 và với

tý lệ dự trữ bắt buộc zr” =10% chăng hạn, ngân hàng này có thể cung ứng một lượng tín dụng đúng băng lượng cung tiền tăng thêm:

AM, =AD(—rrˆ)=10(1-0.1)=9 tỷ VNĐ.

Khách hàng của NHTM Xe ! nhận được lượng tin dung 9 ty VND và có thê dùng nó đê mua sắm hoặc trả các món nợ cũ. Các khoản thanh toán này lại được gửi vào NHTM Me 2. NHTM Me 2 dùng chúng để cung ứng thêm tín dụng và qua đó mở rộng cung tiền:

AM, =AD,(I-rr”)= AH(1—-rr”)ˆ =

=10(1-0,1)’ = 8,1 ty VND.

Tương tự, lượng tín dụng xuất phát từ NHTM Xe 2 sẽ được gửi vào tài khoản của NHTM Ne 3 va ngân hàng này dùng nó đề cấp một lượng tín dụng mới và qua đó làm tăng cung tiền:

AM, =AD,(1-rr’)=AH(i-rr’y =

=10(1-0,1)° = 7,29 ty VND.

Quá trình mở rộng cung tiền kéo dải cho đến khi 10 tỷ VNĐ do NHTW phát hành trở lại chính cơ quan này đưới dạng dự trữ bắt buộc của tất cả NHTM tham gia vào quá trình này. Như vậy, mức cung tiền tăng lần thử n thông qua NHTM Ma n:

AM„=AD,(-rr")=AH(—rr”}..

Quá trình này kết thúc với tổng lượng tiền tăng thêm:

AM =3 AM, =AH[L+(I—rr”)+

i=]

+(—r7)}Ẻ+(I-rm } +..+(I-rrY']=

AT tay,

l-(l-rr') rr’

Trong ví dụ trên, lượng cung tiền tăng thêm gấp 10 lần lượng cơ sở tiễn tăng thêm: |

AM = 10+ =100ty VND.

>

Vi cung tién tang thém xuất phát từ cơ sở tiên tăng thêm, mỗi quan hệ giữa cung tiền và cơ sở tiên được thê hiện băng công thức:

121

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vĩ mô (Trang 112 - 123)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(423 trang)