THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
6.2.1. Bản chất và các loại thất nghiệp
Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế:
Thất nghiệp là sự tôn tại những người trong độ tuổi cao hơn một ngưỡng nào đó không có việc làm nhưng có khả năng làm việc và tìm việc trong thời ky quan sat.
Tổ chức Lao động Quốc tế cũng quy định, với hoạt động kinh tế
hiện tại, thời gian tối thiểu để một người có thể được xem xét có việc 181
làm (làm việc) là trong 07 ngày qua phải có ít nhất 01 giờ làm việc để
tạo thu nhập chính đáng.
VAN DE THUC TIEN
Báo cáo Điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2011 Các khải niệm:
Lực lượng lao động (hay còn gọi là dán số hoạt động kinh té hién tai) bao gồm những người từ 1Š tuổi trở lên có việc làm (đang làm việc) và những người thất nghiệp trong thời kỳ tham chiếu (7 ngày trước thời điểm quan sát).
Số lao động đang làm việc trong nên kinh tế là dân số có việc làm/làm việc bao gôm những người từ 15 tuổi trở lên trong khoảng thời gian tham chiếu (một tuân), thuộc một trong các loại sau đây:
- Làm việc được trả lương/trả công:
+ Làm việc: Những người trong thời gian tham chiếu đã làm một số công việc để được trả lương hoặc trả công bằng tiên hay hiện vật;
+ Có việc làm nhưng không làm việc: Những người hiện đang có việc làm, nhưng trong khoảng thời gian tham chiếu đang tạm thời nghi việc nhưng vẫn có những dau hiệu còn gắn bó với việc làm của họ (vẫn được trả lương/trả công, được bảo đảm sẽ trở lại làm việc, có thoá thuận trở lại làm việc sau khi nghỉ tạm thời, v.v...).
- - Tự làm hoặc làm chủ:
+ Tự làm: Những người trong thời gian tham chiếu đã tự làm một số công việc để có lợi nhuận hoặc thu nhập cho gia đình, dưới hình thức băng tiền hay hiện vật;
+ Có doanh nghiệp nhưng không làm việc: Những người hiện đang làm chủ doanh nghiệp, có thê là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, một trang trại hoặc một cơ sở dịch VỤ, nhưng trong thời kỳ tham chiếu họ đang nghí việc tạm thời vì một số lý do cụ thẻ.
- - Một sô trường hợp đặc biệt:
+ Những người có việc làm được trả lương/trả công nhưng đang nghỉ việc tạm thời vì ốm đau, nghỉ lễ hoặc nghỉ hè; đo đình công hoặc dãn thợ; nghỉ tạm thời để học tập, tập huấn; nghỉ theo chế độ thai sản, con ôm hoặc tổ chức lại sản xuất; do thời tiết xấu, máy
móc công cụ bị hư hỏng, thiếu nguyên/nhiên liệu, v.v... Tất cả các trường hợp này đều coi như có việc làm/làm việc. +Những người tự làm/làm chủ được xem là “có việc làm” nếu trong thời gian nghỉ việc tạm thời, đơn vị nơi họ làm việc hoặc đơn vị mà họ làm chủ vẫn tiếp tục hoạt động và họ vẫn được tiếp tục làm việc trong thời gian tới.
+ Những người giúp việc gia đình được trả công cũng được xếp vào nhóm "tự làm/làm chu", nghĩa là không phân biệt số giờ mà họ đã làm việc trong khoảng thời g1an tham chiêu (07 ngày qua).
+ Những người tập sự hay học nghề được chỉ trả bằng tiền hay hiện vật được xếp vào
nhóm "được trả lương/trả công".
Số người thất nghiệp là những người từ I5 tôi trở lên mà trong tuần tham chiếu đã hội du các yêu tô sau đáy:
- Không làm việc nhưng sẵn sàng và mong muốn có việc làm; và
- Đang đi tìm việc làm có thu nhập, kế cả những người trước đó chưa bao giờ làm việc.
Số người thất nghiệp còn bao gồm các trường hợp đặc biệt sau:
182
- Những người đang nghỉ việc tạm thời nhưng không có căn cứ bảo đảm sẽ được tiếp tục làm công việc cũ, trong khi đó họ vẫn sẵn sàng làm việc hoặc đang tìm kiểm việc làm mới;
- Những người trong thời kỳ tham chiếu không có hoạt động tìm kiếm việc làm vì họ đã được bế trí việc làm mới sau thời tạm nghỉ việc;
- Những người đã thôi việc không được hưởng tiền lương/tiền công: hoặc - Những người không tích cực tìm kiếm việc làm vì họ tin rằng không thẻ tìm được việc làm (do
hạn chế về sức khoẻ, trình độ chuyên môn không phù hợp,... ).
Kết quá điều tra
Đến thời điểm 1/7/2011, cả nước có 51,4 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, chiếm 58,5% tổng dân số, bao gồm 50,35 triệu người có việc làm và 1,05 triệu người thất nghiệp. Lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 70,3%.
Trong tổng số 67, triệu người từ 15 tuổi trở lên có hơn ba phân tư (77,0%) tham gia
lực lượng lao động. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động có xu hướng ồn định trong quý Ì và quý 2, tăng mạnh vào quy 3 và giảm ở quý 4. Tỷ lệ tham gia lao động ở khu vực nông thôn có xu hướng biến động mạnh hơn khu vực thành thị trong 6 tháng cuối năm.
Sự biến động số người có việc làm ở khu vực thành thị và nông thôn có xu hướng trái chiều. Ở khu vực thành thị, số người có việc làm giữa các quý trong năm 2011 có xu hướng tăng. Ở khu vực nông thôn, con số này tăng mạnh trong quý 3 (quý 3 so với quý 2 tăng 909 nghìn người) và giảm trong quý 4 (quý 4 so với quý 3 giảm khoảng 80 nghìn người). Số người có việc làm tăng mạnh trong quý 3 tập trung chủ yếu ở khu vực
"Nông, lâm nghiệp và thủy sản” và thuộc loại hình "Kinh tế ngoài nhà nước". Trong tổng số hơn 50,35 triệu người từ 15 tuổi trở lên đang làm việc của cả nước, chỉ có gần 7,8 triệu người đã được đào tạo, chiếm 15,4%. Có sự chênh lệch đáng kẻ về tý lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo giữa thành thị và nông thôn, mức chênh lệch này là 21,9 điểm phân trăm (thành thị là 30,9% và nông thôn là 9%). Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo thấp nhất ở hai vùng Đồng băng sông Cửu Long và Tây Nguyên (tương ứng là 8,6% và 10,8%) và cao nhất ở hai trung tâm kinh tế - xã hội lớn nhất của cả nước là Hà Nội và thành phố Hỗ Chí Minh.
Tại mỗi thời điểm, dân số trong độ tuôi có khả năng lao động được chia thành ba nhóm: 1) Những người làm việc (1); 2) Những người không có việc làm nhưng tích cực tìm việc (U); 3) Những người không làm việc và cũng không tìm việc (D). Các nhóm 1 và 2 hợp thành nguồn lao động hoặc lực lượng lao động: =/+. Chúng thuộc loại biến điểm.
Cơ cấu nguồn lao động luôn thay đổi vì người dân thường xuyên dịch chuyển từ nhóm này sang nhóm khác.
Trong mục này, chúng tôi trình bày cách phân loại thất nghiệp phố
biến hiện nay. Theo cách phân loại này, thất nghiệp được chia thành bốn loại: thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp vụ mùa, thất nghiệp cơ cấu, thất nghiệp bắt buộc (thất nghiệp chu kỳ, thất nghiệp cục diện). Tuy nhiên,
183
thất nghiệp vụ mùa theo quan điểm của nhiều nhà kinh tế không phải loại thất nghiệp phổ biến nên thường được bỏ qua.
Thất nghiệp tạm thời xuất hiện do những Thất nghiệp tạm thời
nguyên nhân: sự thay đổi nơi làm việc thường
xuyên của người lao động, việc gia nhập và rời khỏi thị trường lao động do thông tin bất đối xứng, người thất nghiệp và nhà tuyên dụng có chỗ làm việc trỗng cần thời gian để tìm được nhau. Nhìn chung, thất nghiệp tạm thời là hệ quả của sự phát triển năng động của thị trường lao động.
Loại thất nghiệp này tồn tại ngay cả khi thị trường lao động cân băng vì
người lao động và doanh nghiệp luôn tìm kiếm điều kiện làm việc tốt nhất. Trong điều kiện lý tưởng (thông tin hoàn hảo và việc thay đối chỗ làm việc không mất chi phí), quá trình này diễn ra nhanh chóng và không xuất hiện bất kỳ loại thất nghiệp nào. Nhưng thực tế khác xa lý
tưởng.
Quy mô thất nghiệp tạm thời phụ thuộc vào tần số di chuyên của lực lượng lao động, SỐ lượng chỗ làm việc trồng cũng như tốc độ và hiệu quả mà người tìm việc và nhà tuyên dụng có chỗ làm việc trồng tìm được nhau.
Thất nghiệp tạm thời có những đặc điểm: liên quan đến hầu hết mọi thành viên trong xã hội, chỉ kéo dài trong một khoảng thời gian ngắn, tôn tại khách quan trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Các nguyên nhân gây nên thất nghiệp tạm thời mách bảo nhà nước
những giải pháp hạn chế nó. Các giải pháp khả thi là hoàn thiện thông
tin về việc làm trên thị trường lao động, khắc phục những nguyên nhân
bat loi khiến người lao động phải chuyển chỗ làm việc.
Thất nghiệp cơ cầu xuất hiện do sự không Thất nghiệp cơ cấu - tương xứng giữa cơ câu công việc và cơ cấu ——
ngành nghê của lực lượng lao động. Sở dĩ tình trạng này phát sinh là do tính đặc thù của hệ thống giáo dục - đào tạo, ngành nghề, sự phân bé dia lý và đặc điểm giới tính của lực lượng lao động. Chẳng hạn, khi số chỗ làm việc mới đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao tăng lên nhưng
phân lớn lực lượng lao động hiện tại không đáp ứng được yêu câu này.
Một ví dụ khác về phân bổ địa lý là số chỗ làm việc mới không xuất hiện
ở những địa phương nơi tập trung phân lớn lực lượng lao động.
Thất nghiệp cơ cầu có những đặc điểm: khác với thất nghiệp tạm thời, nó chỉ liên quan đến một vài nhóm người trong điều kiện phát triển
184
khoa học - kỹ thuật, sự suy thoái của một số ngành kinh tế hoặc việc di chuyển của lực lượng lao động giữa các vùng lãnh thô. Ngoài ra, tình trạng thất nghiệp cơ cấu thường dai dăng.
Nhận thức được bản chất của thất nghiệp cơ cầu, nhà nước có thể để ra những giải pháp để hạn chế hiện tượng này như chương trình phát triển một sô lĩnh vực hoặc vùng miền, di chuyển người lao động khỏi các vùng khó khăn, mở rộng việc làm trong khu vực kinh tế nhà nước.
Thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu hợp thành thất nghiệp tự nhiên hoặc thất nghiệp tại mức toàn dụng việc làm.
Đôi khi, thất nghiệp bắt buộc còn được Thất nghiệp bắt buộc
gọi là thất nghiệp Keynes hoặc thất nghiệp
thiểu câu. Tình trạng thất nghiệp này xuất hiện do lượng tống cầu không
thể tạo đủ chỗ làm việc cho những người mong muốn lao động. Khác với hai loại thất nghiệp đầu tiên mà xuất hiện do cơ cầu công việc và cơ cầu lực lượng lao động hiện tại không tương xứng, nguyên nhân của thất
nghiệp bắt buộc là do số chỗ làm việc không đủ cho những người mong muốn lao động. Thất nghiệp bắt buộc thường gắn liền với động thái của
chu kỳ kinh tê. Thất nghiệp bắt buộc giảm trong thời kỳ mở rộng và tăng trong thời kỳ thu hẹp. Tuy nhiên, thất nghiệp bắt buộc có thể phát sinh
đo tình trạng trì trệ kinh tế kéo dài.
Thất nghiệp bắt buộc có những đặc điểm: các dao động việc làm gắn
liền với chu kỳ kinh tế, giỗng như thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp bắt
buộc tác động đến toàn bộ nên kinh tế, thời gian thất nghiệp bắt buộc
thường đài hơn thời gian thất nghiệp tạm thời vả ngăn hơn thời gian thất
nghiệp cơ cầu.
Đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững và cân đối là giải pháp hữu
hiệu trong cuộc đấu tranh với thất nghiệp bắt buộc. Những chương trình
xây dựng đường cao tốc, hiện đại hóa kinh tế đô thị... trong thời kỳ thu hẹp góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp bắt buộc.