Cầu tiền và mức giá chung

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vĩ mô (Trang 130 - 133)

Sự thay đôi mức giá chung kéo theo sức mua của đồng tiền thay đổi.

Cho nên khi xác định cầu tiền, cần chú ý hai hoàn cảnh:

Thứ nhất, vì hộ gia đình muốn mua một lượng hàng hóa và địch vụ nào đó, cầu tiền thay đổi cùng chiều với mức giá chung. Nếu mức giá chung tăng lên hai lần, lượng tiền danh nghĩa cần thiết cho mua sắm cũng phải tăng lên hai lần. Đây là cầu tiền danh nghĩa có hàm đồng dạng theo mức giá chung:

L = L(P* y,)= P* LỤ.ì).

Trong đó, y — sản lượng thực; Z/z,¡) — cầu tiền thực.

Lượng tiền danh nghĩa (M) được đo bằng số lượng tiền giấy (đô la

Mỹ, mác Đức, đồng Việt Nam), còn lượng tiền thực (3⁄/P) được thẻ hiện băng các đơn vị sản phẩm vĩ mô:

MựỤNĐ) _M

PỰNĐ/cái) P

Thứ hai, việc tăng mức giá chung làm tăng chị phí cơ hội của việc

giữ tiền vì có tác động đa chiều tới tỷ suất sinh lời của các tài sản khác

nhau. Để hiểu rõ điều này, chúng ta xem xét ví dụ 4.4.

Ví dụ 4.4. Tại mức giá chung hiện tại, một hộ gia đình giữ 240 đơn vị tiền tệ thay vì bằng số tiền này anh ta có thể mua trái phiếu với thu

nhập đảm bảo là 24 đơn vị tiền tệ hoặc đầu tư vào tài sản thực có mức độ

rủi ro nào đó với lợi nhuận hàng năm là 48 đơn vị tiền tệ. Nếu mức giá chung tăng lên 20%%, lượng tiên thực của người này giảm xuống còn 200 đơn vị tiền tệ, thu nhập thực của anh ta chỉ còn 20 đơn vị tiền tệ nhưng

lợi nhuận thực với mức độ rủi ro không đổi vẫn ở mức 48 đơn vị tiền tệ

vì khi mức giá chung tăng, chi phi san xuất và doanh thu tăng cùng tỷ lệ.

Như vậy, tại mức giá ôn định, năm giữ 240 đơn vị tiền tệ, người này

phải trả giá 10% thu nhập không rủi ro hoặc 20% thu nhập với mức độ rủi ro nào đó. Khi mức giá chung tăng 1,2 lần, việc giữ tiền mặt có chỉ phí cơ hội cao hơn: 10% thu nhập đảm bảo hoặc 24% thu nhập với một mức độ rủi ro nào đó.

Từ phân tích trên, giống như lãi suất, việc tăng mức giá chung cũng tác động tới tỷ lệ tiền mặt trong tài sản của chủ thể kinh tế. Giá tăng càng cao, cầu tiền thực càng giảm.

Như vậy, hàm cầu tiền thực có dạng:

(cdi).

131

ẽ=—=ấ,*y+Ê;( my —F). Pp! yrl( L )

Đường cầu tiền thực tương tự đường cầu tiền danh nghĩa nhưng

chúng chỉ khác nhau là trên trục tung, biến lãi suất thực thay thế biến lãi suất danh nghĩa, còn trên trục hoành, tiên thực thay cho tiên danh nghĩa (hình 4.4).

Nếu sản lượng thực tăng

r Ạ (giảm). đường cầu tiền thực

dịch chuyển sang phải (trái).

Nếu tỷ lệ lạm phát tăng (giảm), đường cầu tiền thực dich chuyển sang trái (phải).

] 4.4. Sự cân bằng trên các

- > M/P thị trường tài chính trong

Hình 4.4. Đường cầu tiền thực mo hình Keynes

Việc NHTW thay đổi cung tiền hoặc chính phủ thay đổi cung trái phiếu trong một thời kỳ là những dòng tiền và dòng tài chính. Tuy nhiên, lượng tiền và trái phiếu trong nền kinh tê lớn hơn rất nhiều so với mức thay đôi của chúng. Do vậy, thị trường tiền tệ và thị trường trái phiêu được phân tích đưới góc độ trữ lượng. Câu tiền (7) là lượng tiền mong muốn, cũn cung tiền (A⁄) — lượng tiền thực tế. Cầu trỏi phiếu (ỉ”) là lượng trỏi phiờu mong muốn, cũn cung trỏi phiếu (ỉ) — lượng trỏi phiếu thực tế.

Tổng cầu tài sản không thể cao hơn tổng cung tài sản nên tổng lượng tiền và lượng trái phiếu mong muốn phải bằng tổng tài sản của hộ

gia đình: |

M+B=L+B”

=> M-L=B" -B.

Trong mô hình Keynes, thị trường tiền tệ và thị trường trái phiếu liên kết chặt chẽ với nhau. Một mặt, sự cân băng được xác lập trên thị trường tiền tệ chỉ khi lượng cầu tiền đúng bằng lượng cung tiền (hình 4.5a), còn mặt khác, sự cân bằng trên thị trường tiền tệ đạt được chỉ khi lượng cầu đúng bằng lượng cung trên thị trường trái phiếu (hình 4.5b).

132

1A (a) Thị trường tiền tệ ¡ _C (b)Thị trường trai phiéu

B

B2

Hình 4.5. Sự cân bằng đồng thời trên thị trường tiền tệ uà thị trường trái phiếu

Như vậy, hai thị trường này đạt được sự cân băng đồng thời.

Nguyên tắc xác lập trang thái cân băng đồng thời trên các thị trường tiên tệ và trái phiếu như sau: trong trạng thái cân bằng, tổng cầu tiền và cầu trái phiểu băng tổng cung tiền và cung trái phiếu:

M+B=L+B'.

Boi vi M =L nên trên thị trường trái phiếu chỉ tồn tại một mức lãi

suất mà tại đó, 8= B8”. Lãi suất theo quan điểm Keynes là biến số phân

phối số lượng tài sản hiện có giữa lượng tiền và lượng trái phiếu sao cho sự cân băng được xác lập đồng thời trên hai thị trường tài chính này.

Nếu theo quan điểm tân cô điển, mức giá chung được thiết lập do kết quả tương tác cung và cầu trên thị trường tiền tệ thì trong lý thuyết Keynes, giá của tiền hay lãi suất thị trường được hình thành trên thị trường tiên tệ thông qua cục diện của thị trường trái phiếu.

Tại mức cơ sở tiền 77, và sản lượng yạ, lãi suất bằng ¡„. Nếu cơ sở

tiên tăng lên H, nhưng sản lượng không đổi ( yụ ), lượng tiền thừa được chuyển sang mua trái phiếu và hệ quả là lãi suất giảm xuống ¡,. Trong

khi đó, việc tăng sản lượng lên y, với cơ sở tiền không đổi H, làm tăng

lãi suất tới ¡, vì hộ gia đình phải tăng cung trái phiếu.

Theo lý thuyết Keynes, lãi suất tăng nếu cung tiền thực giảm với điều kiện các yếu tố khác không đôi.

Cung tiền thực giảm do bốn nguyên nhân:

- NHTW giảm tài sản có hoặc tăng dự trữ bắt buộc;

- NHTM bán giấy tờ có giá đang nắm giữ cho hộ gia đình;

133

- Hộ gia đình tăng lượng tiền gửi tiết kiệm;

- Mức giả chung tăng.

Cầu tiền thực tăng do bốn nguyên nhân:

- Tý lệ sản phẩm trung gian trong sản phẩm cuối cùng tăng:

- Sản lượng thực tăng:

- Công ty thay đổi tần suất trả lương từ hai lần xuống còn một lân;

- Hộ gia đình tăng tỷ lệ tiên thực trong tài sản do rủi ro trên thị trường giấy tờ có giá tăng hoặc chi phí giao dịch trong việc chuyền tiền sang các tài sản tài chính khác tăng.

Cả việc giảm cung tiền thực lẫn tăng cầu tiền thực đều làm tăng lãi suất thực.

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vĩ mô (Trang 130 - 133)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(423 trang)