Hệ thông tài khoản quốc gia

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vĩ mô (Trang 61 - 66)

Bắng 2.1. Bắng 2.1. Bảng oòng tuần hoàn của nền kinh tế

2.2. Hệ thông tài khoản quốc gia

Ý tưởng về đo lường toàn bộ hoạt động kinh tế của một nước được - các nhà kinh tế quan tâm cách đây nhiều thế ký. Người đặt nên móng

đầu tiên cho việc này là nhà kinh tế Anh Wi/1iam Petty vào năm 1665.

Năm 1688, Gregory King đưa ra hai phương pháp tính thu nhập quốc

dân - tông thu nhập yếu tố và tổng chỉ tiêu cho tiêu dùng cuối cùng. Vào năm 1758, một thành viên của phái trọng nông là nhà kinh tế Pháp Erancois Quesnay đã công bỗ cuốn sách “Biểu kinh tế” mà trong đó, ông phân tích một cách khoa học quá trình tải sản xuất xã hội. Mô hình này được xem như tiền đề của bảng Can doi lién nganh cua Vasily Leontief sau nay.

VAN DE LY LUAN Bảng cân đối liên ngành

Trong thập niên 1930, để phân tích cầu trúc sản xuất của một nước, Vasily Leontief,

nhà kinh tế Mỹ gốc Nga đã xây dựng bảng Cân đối liên ngành. Ngày nay, bang cân đổi

này được sử dụng rộng rãi để tính toán chỉ chí sản xuất và giá, phân tích mối quan hệ liên ngành và xác định cấu trúc tổng sản phẩm xã hội.

Bảng 2.2. Bảng cân đối liên ngành tổng hợp

Tiêu dùng trung gian Tiêu dùng cuôi cùng Tông sô

Ngành " Ngành C I G NX | theo dong

] n |

Nganh | |

" Khu vuc | Khu vực II a

Ngành n BI Lt. —

Thu nhập của Khu vực II]

— các nhả sản

xuất: lương, lợi

nhuận...

Tổng số theo

cột

Bảng Cân đối liên ngành là một trong những yếu tố của hệ thống tài khoản quốc gia mô ta hành vi của nên kinh tế ở cấp độ vĩ mô. Thông tin từ bảng Cân đối liên ngành được sử dụng đề chính xác lại giá trị GDP nói riêng — một chỉ số kinh tế vĩ mô then chốt.

Bảng cân đôi liên ngành được xây dựng dựa trên mô hình chu chuyển thu nhập và chỉ tiêu và bao gôm ba phân chính (bảng 2.9).

Trong bảng Cân đối liên ngành, thu nhập bằng chỉ tiêu không chỉ đối với toàn bộ nền

kinh tÊ mà còn từng ngành cụ thê. Để làm rõ điều này, chúng ta xem xét một ngành,

chăng hạn, ngành l tương ứng với hàng ngang và cột thứ nhất của bảng Cân đối liên ngành và sản xuất một sản phẩm duy nhất. Khi đó, hàng ngang thứ nhất của bảng Cân

62

đối liên ngành phản ánh chỉ tiêu đành cho sản phẩm của ngành 1 được thực hiện bởi

những chủ thê tiêu dùng khác nhau. Trong một phần của hàng ngang thứ nhất thuộc khu vực I, chi tiên mua sản phẩm cua nganh | cua các ngành khác dé phuc vu nhu cau sản xuất của chúng được thẻ hiện, còn phần khác của hàng ngang thứ nhất thuộc khu vực II phản ánh chỉ tiêu mua sản phẩm của ngành 1 do hộ gia đình (C), nhà đầu tu (1),

nhà nước (G) và khu vực nước ngoài (NX) thực hiện. Tổng số của hàng ngang thứ nhất là tổng chỉ tiêu của tất cả người mua sản phẩm của ngành I và đồng thời cũng là doanh thu của ngành này.

Cột thứ nhất cho thấy ngành | sir dung doanh thu trên như thế nào. Một phần của doanh thu này được chi tiêu cho nguyên vật liệu và dịch vụ cần thiết để sản xuất sản

phẩm của ngành l. Những chỉ tiêu này được phản ánh trong phần của cột thứ nhất

thuộc khu vực I. Phần doanh thu còn lại - thu nhập của những chủ thể kinh tế tham gia quá trình sản xuất sản phẩm của ngành Ì (lương cho công nhân, lợi nhuận cho chủ sở

hữu, thuế đóng cho nhà nước...) - được thê hiện trong phần của cột thứ nhất thuộc khu

vực ẽ]I. Như vậy, toàn bộ doanh thu của ngành I phải được chỉ tiờu và tổng số của hàng ngang thứ nhất bằng tổng số của cột thứ nhất. Đăng thức như vậy đúng với bất kỳ ngành nào.

Trong một thời kỳ dài thử nghiệm cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung,

Liên Xô trước đây đã xây dựng hệ thống thống kê kinh tế (MPS) cho các

nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa. Vào năm 1928, xuất phát từ nhu cầu so sánh quốc tế, các nước thuộc khối Đông minh tổ chức một hội nghị nhằm lựa chọn một phương pháp thông nhất cho việc thu nhập số liệu để tính chỉ tiêu thu nhập quốc gia. Những đóng góp nêu trên đã đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thông tài khoản quốc gia hiện nay.

Simon Kuzneis có công lao cá nhân lớn nhất trong việc xây dựng hệ thống tài khoản quốc gia mà ngày nay được Tổ chức Liên hiệp quốc phát triển và đang được hầu hết các nước sử dụng. -

ĐÓNG GÓP KHOA HỌC Nhà kinh tế

Simon Kuznets (1901 - 1985) được xem là người đi tiên phong trong lĩnh vực đo lường kết quả tông hợp của hoạt động kinh tế trong phạm vi một nước. Ông là nhà kinh tế Mỹ gốc Nga di cư sang Mỹ năm 1922 và nhận bằng tiến sỹ tại trường Đại học Columbia năm 1926. Ông là chủ nhiệm chương trình nghiên cứu thu nhập quốc gia tại NBER hơn 30 năm. Trong những công trình về đo lường hoạt động sản xuất quốc gia của mình,

ông luận chứng sự can thiết xây dựng một hệ thống thông tin kinh tế mới, các tài khoán quốc gia mô tả quá trình sản xuất và phân phối thu nhập ở cấp độ nền kinh tế. Trước

đó, chưa từng có những số liệu chỉ tiết về hoạt động kinh tế của một nước mặc dù một số nhà kinh tế đã thử tạo lập chúng, chăng hạn, trong giai đoạn trước Chiến tranh thế

63

giới thứ nhất, nhằm đánh giá tiềm năng kinh tế và quân sự. Nhờ những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này, Simon Kuznets được trao giải Nô - ben kinh tế năm 1971.

Hệ thống tài khoản quốc gia là tổng thể các chỉ số có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau mà được sử dụng cho phân tích những quả trình kinh tỄ vĩ mô.

Số liệu trong hệ thống tài khoản quốc gia được sử dụng bởi những nhà nghiên cứu, chuyên gia phân tích kinh tế vĩ mô, chính phủ các nước để hoạch định những chính sách kinh tế và theo dõi hệ quả tác động của

chúng tới nền kinh tế, các tô chức kinh tế quốc té (IMF. WB, UN, ADB,

OECD...) trong phân tích những xu hướng phát triển của nên kinh tế thể giới và so sánh trình độ phát triển giữa các nước. Phân tích chính sách kinh tế, xây dựng những quyết sách kinh tế dựa trên cơ sở dữ liệu của hệ thống tài khoản quốc gia không chỉ được các cơ quan chính phủ và tô chức quốc tế quan tâm mà còn được những công ty và tập đoàn kinh tế lớn chú trọng trong hoạt động đầu tư và phát triển của chúng.

Hệ thông tài khoản quốc gia cung cấp những thông tin định lượng về sự hình thành, phân phối và sử dụng thu nhập quốc gia. Hệ thông này bao gồm những tài khoản chức năng cho từng chủ thể kinh tế vĩ mô nói riêng và nền kinh tế nói chung. Các tài khoản chức năng phản ánh sự tham gia của những chủ thể kinh tế vĩ mô vào các quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ, hình thành. phân phối và sử dụng thu nhập. thay đôi tài sản, cho vay va tài trợ.

Hệ thong tai khoan quốc gia là một bảng hoạch toán kế toán đặc biệt của một nước. Để sử dụng đồng bộ tất cả chí số trong hệ thống, nguyên tặc ghi sô kép đặc trưng cho quy trình kế toán được sử dụng.

Bây giờ, chúng ta xem xét nội dung của từng tài khoản chức năng liên quan đến nên kinh tế.

Giá trị hàng hóa và dịch vụ và chỉ phí sản xuất trong một thời kỳ nào đó được thể hiện trong tài khoản sản xuất tong san phẩm xã hội.

Trong tài khoản sản xuất tông sản phẩm xã hội. giá trị gia tang (tong san phâm trong nước) là biến số cân đối (bảng 2.3).

64

Bảng 2.3. Tài khoản sủn xuất tống sản phẩm xã hội

— +

Chỉ phí vật chất 4 Tiêu thụ trong nước |

Nhập khẩu 5 Xuất khẩu 2

Giá trị gia tăng 6=(1+2+3)-(4+5) Thay đôi tồn kho 3

Tông > Tông x

Tài khoản hình thành thu nhập quốc gia được tạo nên trên cơ sở tài khoản tông sản phẩm xã hội mà biến số cân đối của nó được chọn làm điểm xuất phát (bảng 2.4).

Bảng 2.4. Tài khoản thu nhập quốc gia

~ +

Khau hao 3 Tông giá trị gia tăng |

Thué gian thu 4 Hé6 trợ 2

Thu nhap quéc gia 5=(1+2)-(3+4)

Téng 2 Tổng 2>

Sau khi trừ giá trị khâu hao, những khoản trợ cấp và thuế gián thu

khỏi giá trị gia tăng. chúng ta nhận được thu nhập quốc gia hay thu nhập

quốc gia ròng được tính theo giá của các yếu tố sản xuất.

Tài khoản phân phối thu nhập quốc gia trinh bày các thu nhập yếu tổ (bảng 2.5).

Bảng 2.5. Tài khoản phân phối thu nhập quốc gia

— +

Tiên lương 2 Thu nhập quốc gia

Thu nhập từ kinh doanh và tài

sản 3

Lợi nhuận không phân phối 3=1-(2+3)

Tong x Tông x

Các thu nhập yêu tô được nhà nước tái phân phôi thông qua thu nhập từ thuế và những khoản chuyên giao. Kết quả của quá trình tái phân phối thu nhập quốc gia được phản ánh trong tài khoản tái phân phối

thu nhập quốc gia (bảng 2.6).

Bảng 2.6. Tài khoản tái phân phối thu nhập quốc gia

+

Thué truc thu 3 Thu nhập quốc gia |

Các đóng góp xã hội 4 Các khoản chuyên giao 2

Các đóng góp khác 5

Thu nhap kha dung 6=(1+2)-(3+4+5)

Tông _ Tông x

Thu nhap kha dung được sử dụng theo hai cách là tiêu dùng và tiết kiệm. Quá trình này được phản ánh trong tài khoản sử dụng thu nhập khả dụng (bảng 2.7).

65

Bảng 2.7. Tài khoản sử dụng thu nhập khả dụng

— +

Tiêu dùng 2 Thu nhập khả dụng l

Tiết kiệm 3=1-2

Tụng ằ Tụng x

Tiết kiệm làm thay đôi tài sản và kêt quả của quá trình này được

phản ánh trong tài khoản thay đổi tài sản (bảng 2.8).

Bang 2.8. Tai khodn thay đổi tài sản

+

Đầu tư thực 3 Tiết kiệm

Cán cân tài chính 4=(1+2)-3 Khau hao 2

Tong ) Tông

Cán cân tải chính cùng với mức nợ tăng thêm làm nguôn cho tín dụng. Kết quả này được thê hiện trong tài khoản cấp tin dung va cho vay

(bang 2.8). |

Bảng 2.8. Tài khoản cấp tin dung va cho vay

— +

Tín dụng tăng thêm 3 Cán cân tài chính l

Sai số thông kê 4=(1+2)-3 Tang ng 2

Tông b Tông x

Tại Việt Nam trước năm 1975, ngành thống kê của miền Bắc sử dụng hệ thông thống kê kinh tế, còn miền Nam - hệ thống tài khoản quốc gia. Trong giai đoạn 1975 - 1993, hệ thống thống kê kinh tế được

áp dụng trên cả nước. Trong giai đoạn 1989 - 1993, ngành thông kê Việt Nam đã nghiên cứu việc chuyển đổi hệ thông thống kê và kết quả là theo

Quyết định số 183/TTg của Chính phủ ban hành ngày 25 tháng 2 năm

1992, hệ thông tài khoản quốc gia được áp dụng chính thức.

———

Tóm tắt chương

———

Hệ thống tài khoản quốc gia lây mô hình vòng tuần hoàn của nên kinh tế làm cơ sở phương pháp luận. Trong mô hình này, mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế vĩ mô được trình bày dưới đạng vòng tuần hoàn của những dòng tiền khép kín phản ánh sự tham gia của chúng vào các quá trình sản xuất, phân phối, tái phân phối, sử dụng thu nhập và tạo lập tài sản. Sự thay đổi tình trạng kinh tế của các chủ thể kinh tế vĩ mô trong

một thời kỳ được thể hiện bằng hệ thống tài khoản hai chiêu.

66

Hệ thông tài khoản quốc gia phản ánh sự vận hành của nền kinh tế trong quá khứ. Những chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng nhất được tổng hợp trong hệ thống tài khoản quốc gia, nhờ đó mà các nhà nghiên cứu có

thể tiến hành những phân tích định lượng. Những chỉ số kinh tế vĩ mô

cho phép đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu kế hoạch, giúp vạch ra những chính sách kinh tế, so sánh tiềm năng kinh tế giữa các nước khác nhau.

Hệ thống tài khoản quốc gia Việt Nam được áp dụng từ năm 1993.

Từ thời điểm đó, hệ thông tài khoản quốc gia của nước ta luôn được hoàn thiện theo các cải tiễn của hệ thông tài khoản quốc gia chuẩn trên

thế giới và phù hợp với những biến động kinh tế - xã hội của nền kinh tế

Việt Nam.

Câu hoi va bai tập kiểm tra

1) Một nên kinh tế không có các khu vực nhà nước và nước ngoài có các chỉ số sau đây: sản phẩm trung gian — 200; tiêu dùng hộ gia đình

— 90; tông đầu tư (brutto investment) — 60; tổng sản phẩm xã hội — 350;

lợi nhuận không phân phối — 10; lương — 80; giá trị khẩu hao — 14. Hãy

tính:

a) Các tài khoản sản xuất, sử dụng thu nhập và thay đổi tài sản của khu vực doanh nghiệp.

b) Các tài khoản sử dụng thu nhập và thay đổi tải sản của khu vực hộ gia đình.

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vĩ mô (Trang 61 - 66)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(423 trang)