Cầu lao động Keynes và tân cô điển

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vĩ mô (Trang 168 - 179)

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

6.1. Sự cân băng trên thị trường lao động

6.1.1. Cầu lao động Keynes và tân cô điển

ok A A aA ` aA A

Theo quan điểm tân cô điên, doanh Hàm cầu lao động Keynes nghiệp quyết định sản lượng khi tìm cách

tối đa hóa lợi nhuận. Trong khi đó, trong lý thuyết Keynes, sản lượng phụ thuộc vào cầu hiệu dụng. Nếu trong mô hình tân cổ điển, phân tích trạng thái cân băng trên thị trường lao động đi trước việc xây dựng hàm tong cung thì trong lý thuyết Keynes, cục diện trên thị trường lao động được hình thành từ quá trình thích ứng của sản lượng đối với tổng cầu.

Để đạt lợi nhuận tôi đa, doanh nghiệp phải chọn được mức sản lượng đâm bảo tổng cung cân đối với cầu hiệu dụng (y“). Sau khi tông cung cân đối với tông câu, thị trường lao động bat dau thich ứng với quy mô sản xuất.

Như vậy. doanh nghiệp cần sản xuất một lượng hàng hóa và dịch vụ đúng bằng lượng cầu hiệu dụng và chỉ thuê số lượng lao động cần thiết để sản xuất mức sản lượng đó.

169

Lượng cầu lao động tối ưu trong mô hình Keynes được xác định từ mức sản lượng cân băng và mức sản lượng này băng lượng cầu hiệu dụng trong hàm sản xuất (hình 6.1):

y=y3=y' >y =y)SL=E =lLÚ).

+4

LM

IS

<— >

W y

y(L) L Vv

Hinh 6.1. Dwong cau lao déng Keynes

Trong ngăn hạn, với lượng vốn và trình độ công nghệ không đổi, câu lao động là hàm của cầu hiệu dụng L = L(y’). Néu cong nghệ của nên kinh tế được biểu diễn bằng hàm sản xuất: y= K*“/“ thì hàm câu lao động có dạng:

Ley, et

K

Trong do, K- lượng vốn được sử dụng.

Theo quan điểm Keynes, thu nhập biên của lao động thiết lập giới hạn cho mức lương danh nghĩa, tức là W? số (hình 6.1). Khi mức lương danh nghĩa vượt thu nhập biên của lao động, câu lao động của doanh nghiệp băng không.

Đường câu lao động Keynes được xây dựng theo quy trình sau đây.

Trước hết, xác định câu hiệu dụng trong mô hình /S - 7M. Dựa trên biểu 170

dé của hàm sản xuất, xác định được số lượng lao động được sử dụng L’

để sản xuất lượng hàng hóa và dịch vụ y“, Căn cứ vào đường thu nhập biên của lao động, xác định được giá cầu lao động W . Mitc lương danh nghĩa thực tế có thể không băng giá cầu lao động. Nếu công nhân đề nghị giá cung lao động thấp hơn W7, lượng cầu lao động vẫn chỉ bằng 7

vì doanh nghiệp không muốn tăng hàng tên kho. Tuy nhiên, số lượng lao động được sử dụng thấp hơn / nếu công nhân đòi hỏi mức lương danh nghĩa cao hơn W. Trong trường hợp này, cầu hiệu dụng không được đáp ứng nên thị trường hàng hóa và dịch vụ bị thiểu cung. Như vậy, đường gay khac KIL’ la dudng cau lao dong Keynes. Đường gẫy khúc này bao gồm hai đoạn: đoạn năm ngang cắt trục tung tại điểm thê hiện sé luong lao động tương ứng với lượng cầu hiệu dụng và đoạn thuộc đường cầu lao động tân cô điển mà tại tất cả điểm trên đó, mức lương danh nghĩa băng thu nhập biên của lao động. Trong hình 6.1, nếu mức lương danh nghĩa tăng từ JW tới K, cầu lao động sẽ giảm từ / xuống 0, còn trong trường hợp mức lương danh nghĩa thấp hơn W , cầu lao động được duy trì ở mức #Ƒ.

Theo quan điểm Keynes, cầu lao động thay đổi dưới sự tác động của những yếu tố làm dịch chuyển các đường 7S, LM.

Hàm câu lao động tân cổ điển dựa trên tiền đề Hàm câu lao thị trường hàng hóa và dịch vụ và thị trường lao _ động tần cô điền động cạnh tranh hoàn hảo. Trong trường hợp này, doanh nghiệp tôi đa

hóa lợi nhuận nếu thu nhập biên bằng chi phí biên (MR= MC). Thị trường

hàng hóa và dịch vụ cạnh tranh hoàn hảo nên Ä⁄4&=P. Từ đây, suy ra MC=P. Theo dinh nghĩa chi phí biên:

MG-SC

3

Trong đó, 7C — tông chỉ phí sản xuất của doanh nghiệp.

Tổng chỉ phí sân xuất là toàn bộ chỉ phí mà doanh nghiệp chỉ trả cho dịch vụ của các yếu tÔ sản xuất:

TC=i*K+W*L ~

Trong đó, K — lượng vốn của doanh nghiệp, L —- số lượng lao động được sử dụng, # — mức lương danh nghĩa.

17]

Do lượng vốn và trình độ công nghệ trong ngăn hạn không đối, hàm sản xuất của doanh nghiệp có dạng:

y=y(K,L)= y().

Từ đây, chi phí biên của doanh nghiệp:

đỉC _8*K+W*D _ Ấôi

3 À 3

Vì MC=P, diéu kién tối đa lợi nhuận:

MC

wee _p (6.1)

OY

Hoặc

pr® wy. (6.2)

aL

Về trái của (6.2) cho thấy doanh số của doanh nghiệp tăng bao nhiêu nêu lao động được sử dụng tăng lên một đơn vị, còn về phải phản ánh chi phí trả lương cho một đơn vi lao động tăng thêm.

Doanh nghiệp căn cứ vào mức lương thực (w) khi làm quyết định về tuyển dụng lao động vì không bị ảo giác tiền tệ. Nếu sản lượng biên của lao động bằng mức lương thực, lượng cầu lao động tối ưu được xác định:

®_- a. (6.3)

(6.3) cho thay chimg nao sự > w, lợi nhuận tăng khi càng nhiều lao động được sử dụng. Khi sản lượng biên của lao động bằng mức lương thực thì lợi nhuận đạt mức tối đa. Nếu mức lương thực giảm, để đạt lợi nhuận tối đa, dơanh nghiệp cần sử dụng thêm lao động và ngược lại.

Như vậy, có thê kết luận răng, câu lao động của doanh nghiệp phụ thuộc vào mức lương thực.

Lợi nhuận của doanh nghiệp băng doanh thu trừ đi chi phí vốn và

lao động: |

p(L)=P*K *l*~j*K—IW*L,

Lợi nhuận đạt mức tối đa với điều kiện:

172

Op K

<—=(I-ứ)P(—)*# -W ap te) (>) 0 =0.

Tir day, ham cau lao động của doanh nghiệp được xác định:

d_pjl-as 2 fl-e

L’ = K( ye = Ke . (6.4)

Ww M

(6.4) được viết lại dưới đạng khái quát:

L“=U“(w).

(-)

yA

VL) tiga =— 3y

a)

AP \%

>7

yl A w

aw Ww,

———›

PoP ay

ot Ly

L Ll, L L

Hinh 6.2. Dwong san lwong bién của lao động va duwong cau lao động trong iné hinh tân cổ điển

Hình 6.2 biểu diễn đường câu lao động. Biểu đồ của hàm san xuất

y=y(L) được đặt trong phân trên của hình này. Tang của ĐÓC giữa đường tiếp tuyến và trục hoành (gứ) là sản lượng biờn của lao động tại mỗi số lượng lao động được sử dụng. Băng cách trượt đường tiếp tuyến trên đường cong y(È), chúng ta dựng được đường sản lượng biên của

lao động ở phần dưới của hình 6.2 tương ứng với các giá trị ¿gz . Đường

này có thể là đường thăng. đường cong lôi hoặc lõm tùy thuộc vào tốc độ thay đổi độ dốc của hàm sản xuất.

173

Vì thị trường lao động cạnh tranh hoàn hảo, đường sản lượng biên của lao động đồng thời cũng là đường cầu lao động. Chúng phản ánh số lượng lao động được sử dụng đảm bảo lợi nhuận tối đa cho doanh

nghiệp. Khi biết được số lượng lao động được sử dụng, dựa trên biểu đồ

của hàm sản xuất, có thể xác định được sản lượng phụ thuộc vao lao động.

Trong ngắn hạn, cầu lao động chỉ phụ thuộc vào mức lương thực.

Câu lao động tăng nêu mức lương thực giảm và ngược lại (hình 6.2).

Trong dài hạn, cầu lao động thay đổi do tiễn bộ kỹ thuật hoặc sự thay đổi lượng vốn. Khi vốn tăng hoặc tiến bộ kỹ thuật xảy ra, biểu đỗ của hàm sản xuất và đường sản lượng biên của lao động dịch chuyền lên trên (hình 6.3). Trong trường hợp này, để duy trì sản lượng cô định, cần sử dụng ít lao động hơn (/j) nhưng người lao động được trả mức lương cao hon (w,). Nếu giữ nguyên số lượng lao động được str dung (1,).

sản lượng sẽ tăng tới y, với mức lương thực tăng ít hơn ( w — w, ).

YA

Myo y (LZ)

y(L) y (LZ)

ey _— = ~Ă~—— me

~_——= ee oe he weet ew ew ee ee ee ee ee ee ee

L, L, L, L

Hinh 6.3. Sw dich chuyén cia dwong cau lao d6éng

Việc tăng câu lao động bang cách giảm lương thực xuống dưới mức tự nhiên kìm hãm tiến bộ kỹ thuật. Hiện tượng này được mô tả trong

174

hình 6.3. Giả định nêu ấn định mức lương thực bang w, thấp hơn mức tự nhiên thì để đạt được mức sản lượng yạ, cần sử dụng số lượng lao động L; với công nghệ y;(L) có hiệu quả kém hơn công nghé y,(Z).

Chúng ta vừa phân tích cầu lao động của một doanh nghiệp đại diện.

Khi chuyên sang cấp độ vĩ mô. không cần thay đổi biểu đồ mà chỉ tăng quy mụ của cỏc biờn số lờn ứ lần (n là số lượng doanh nghiệp). Như vậy,

kêt quả phân tích vi mô cũng đúng với cấp độ vĩ mô. Vì cầu lao động tông là tích sô của lượng câu lao động của một doanh nghiệp đại diện và

sô lượng doanh nghiệp:

LP an* lL’

Cho nên cầu lao động tổng va mức lương thực cũng tương quan nghịch:

L? = L’(w).

(-}

6.1.2. Cung lao động Keynes và tân cô điển

Quan điểm chung của trường phái tân cổ điển và trường phái Keynes là tiền lương tăng tới một mức độ nào đó thì cung lao động sẽ tăng. Tuy nhiên, sự bất đồng giữa họ liên quan đến ba vấn đẻ: ¡) Mức

lương tác động tới cung lao động như thế nào?; ii) Hộ gia đình lẫy mức

lương nào làm định hướng khi làm quyết định về cung lao động — mức lương thực hoặc danh nghĩa?: HI) Mức lương danh nghĩa tăng và giảm hoặc chỉ tăng mà thôi?

Theo quan điểm Keynes, cung lao Hàm cung lao động Keynes động phụ thuộc vào mức lương danh

nghĩa. Khi nền kinh tế vận hành dưới mức tiềm năng. cung lao động hoàn toàn co giãn theo mức lương danh nghĩa. Trong điều kiện này, người thất nghiệp cung ứng sức lao động tại mức lương đã được xác lập trên thị trường lao động.

Về vấn đề tại sao hộ gia đình dựa trên mức lương danh nghĩa để đưa ra quyết định về cung lao động, những nhà kinh tế Keynes giải thích rang, người lao động sợ mắt việc vì nền kinh tế đang có thất nghiệp bắt buộc. Do sự ràng buộc như vậy, nêu mức giá chung tăng, hộ gia đình

vẫn cung ứng đúng số lượng lao động như trước khi mức giá chung chưa

tăng và chấp nhận làm việc với mức lương thực thấp hơn. Chúng ta quan

sát hình 6.4. Trong mô hình tân cô điển, khi mức giá chung tăng từ ?

175

tới Ð rồi P,, mức lương thực giảm từ (W/P), xuống (/P), rồi (W/P),.

Hệ quả là cung lao dong giam lan luot: L, > 1, —>E„. Quá trình giảm cung lao động do mức giá chung tăng được biểu diễn bằng sự di chuyển dọc theo đường 7ÿ từ X tới Y rồi Z. Trái lại, trường phái Keynes nhận

định răng, việc tăng mức giá chung không tác động tới cung lao động.

Khi mức giá chung tăng, biểu đồ cung lao động chuyên thành hình quạt.

Việc tăng mức giá chung từ ?, tới P roi P, kéo theo sự dịch chuyền từ X tới Y' rồi Z' nhưng lượng cung lao động không thay đổi.

Trong mô hình Keynes, lương danh nghĩa cứng nhắc trong ngắn hạn. Ngoài nguyên nhân khủng hoảng kinh tế, lương cứng nhắc còn đo

trình độ phát triển cao hơn của nên kinh tế, Khác với thế kỷ XIX. khi

lương của công nhân chỉ đủ bảo đảm chỉ tiêu tối thiểu để anh ta clung gia đình mình có thể tổn tại (trong điều kiện này, lương danh nghĩa phải tăng cùng tỷ lệ với mức giá chung), vào thể ký XX, mức lương tại những nước phát triển vượt xa mức sống tối thiểu nên không còn sự ràng buộc chặt chẽ giữa tỷ lệ thay đổi giá và lương danh nghĩa.

W iP

at i

(WIP), nea —=————~~ at

0D ƑTT^T TT TT v1

WIP), Ly be ely Z

L, L L, L

Hình 6.4. So sánh quan điểm tân cổ điển uà quan diém Keynes oề phản ứng của cung lao động đối uới uiệc tăng giá

Một đặc điểm lịch sử nữa là vào thời đại Keynes, mirc luong khong được xác lập trên thị trường lao động cạnh tranh mà trong quá trình đàm phán giữa công đoàn và nhà tuyển dụng khi hai bên ký thỏa ước lao động tập thẻ cho nhiều năm.

176

LC

| ——*

EL LW) ¡

Hình 6.5. Trạng thái “gan can bằng”

trên thị trường lao động trong mô hinh Keynes

Từ phân tích trên, tại mức lương cố định W, cung lao động có thé

tăng tới 1 ). Cung lao động lớn hơn LW ) khi mức lương danh

nghĩa cao hon W. Nhu vậy, đường cung lao động là đường gẫy khúc

(hình 6.5). Đoạn thăng đứng của đường cung lao động cho thấy cung lao động bị giới hạn bởi quy mô lực lượng lao động hiện tại. Như vậy, hàm cung lao động Keynes có dạng:

Khi WŠ =W„ LÝ < LỢP) và khi WŠ = W*(L)> W„ 1Ÿ > LW).

(+

Một vấn để khác trong lý thuyết việc làm của Keynes là mức lương thỏa thuận được ấn định tại mức nào? Ở khía cạnh nay, quan diém Keynes và quan điểm tân cổ điển có sự giao thoa.

Đồng tình với trường phái tân cô điển là mức lương thực phải băng sản lượng biên của lao động và sản lượng biên giảm dần khi số lượng lao động được sử dụng tăng, Keynes nhận định mức lương danh nghĩa được ấn định tại mức tối đa có thể mà lượng câu hiệu dụng cho phép trong thỏa thuận giữa công đoàn và nhà tuyển dụng:

WHY tư -t ơw =P*#2 [r,œ°9I=P*2*Œ°).

POL OL OL

Nếu mức lương thực tế cao hơn mức thỏa thuận này, tức là cao hơn thu nhập biên của lao động thì doanh nghiệp có lợi nhuận âm. Nhưng điều đó không thể xảy ra thậm chí nêu công đoàn có vị thế độc quyên, hơn nữa. lại trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Còn nêu mức lương thực tế thấp thu nhập biên của lao động, doanh nghiệp “bóc lột” người lao động.

177

Khác với quan điểm tân cổ điển, trường phái Keynes cho rằng, mức lương danh nghĩa chỉ có xu hướng tăng vì doanh nghiệp gặp phải sự phản đối kịch liệt từ phía người lao động hoặc công đoàn nêu giảm lương danh nghĩa.

Bên cạnh đó, theo quan điểm Keynes, sự thay đổi lãi suất không ảnh hưởng tới cung lao động.

Theo quan điểm tân cổ điển, cung lao động bị Hàm cung lao

chỉ phối bởi hai nhân tố - mức lương thực và lãi _ động tân cô điên

suất thực.

Trong mục 3.2.2, khi xây dựng hàm tiêu dùng tân cô điển, chúng ta nhận ra cung lao động của hộ gia đình phụ thuộc trực tiếp vào mức lương thực. Hộ gia đình so sánh lợi ích của thời gian nghỉ ngơi với lợi ích của rỗ hàng hóa và dịch vụ mà tại mức giá hiện tại có thể mua được bằng số tiền lương. Do vậy, trong trường hợp mức giá chung thay đôi, cung lao động không thay đổi chỉ khi mức lương danh nghĩa thay đôi cùng tỷ lệ. Cung lao động tăng nếu mức lương thực tăng và ngược lại.

Lãi suất thực ảnh hưởng tới tỷ lệ giữa tiêu dùng hiện tại và tiêu dùng

tương lai của hộ gia đình. Khi lãi suất thực tăng, hộ gia đình giảm tiêu

dùng hiện tại và tăng tiêu dùng tương lai, còn nếu lãi suất thực giảm, xu hướng ngược lại diễn ra. Vấn đề ở chỗ thời gian nghỉ ngơi cũng là một loại hàng hóa trong rổ tiêu dùng của hộ gia đình. Do vậy. khi lãi suất thực tăng, tức là chỉ phí cơ hội dành cho nghỉ ngơi tăng, hộ gia đình giảm thời gian nghỉ ngơi và tăng cung lao động, còn khi lãi suất thực

giảm, xu hướng ngược lại diễn ra.

Từ phân tích trên, hàm cung lao động thể hiện mối quan hệ phụ thuộc của cung lao động vào mức lương thực:

P=L'(w).

(+)

Với điều kiện mức lương thực cố định, cung lao động thay đổi khi

lãi suất thực thay đối.

Từ phân tích vi mô về việc lựa chọn lượng cung lao động tôi ưu bởi hộ gia đình đại diện, bằng phương pháp tổng gộp chúng ta xác định được

cung lao động tông. Như vậy, những kết luận được đúc kết từ phân tích

vi mô giữ nguyên hiệu lực đối với phân tích vĩ mô. Tăng số lượng lao động được sử dụng trong biểu đồ cung lao động của hộ gia đỡnh lờn ứ lần, chúng ta nhận được đường cung lao động tổng (hình 6.6). Hàm cung

178

lao động tông trong mô hình tân cổ điển là hàm số tăng theo mức lương thực:

EÈ =1 (w).

(+)

>

IL, Lk, L L

Hình 6.6. Đường cung lao động trong mô hình tân cổ điển

Với mức lương thực không đổi, khi lãi suất tăng, đường cung lao

động quay theo chiêu kim đông hà, còn khi lãi suất giám, — quay theo chiều ngược lại.

6.1.3. Sự cân bằng trên thị trường lao động tại mức toàn dụng việc làm

Thị trường lao động cân băng khi lượng cung và câu lao động bằng nhau.

Về điều kiện cân băng của thị trường lao động, giữa trường phái tân cô điển và trường phái Keynes cũng tôn tại sự khác biệt.

Theo quan điểm tân cô điển, sự cân băng trên thị trường lao động đạt được nhờ mức lương phản ứng tức thị đối với sự tương quan cung - cầu lao động. Do lương hoàn toàn linh hoạt, cơ chế thị trường luôn đảm bảo trạng thái việc làm toàn dụng và hiệu quả.

Toàn dụng việc làm là trạng thải cân bằng trên thị trường lao động khi bắt kỳ thành viên nào thuộc lực lượng lao động muốn cung ứng sức lao động tại mức lương hiện tại đều tìm được việc làm.

Trong điều kiện toàn dụng việc làm, thất nghiệp bắt buộc không tôn

tại vì những người không muốn tham gia thị trường lao động tại mức lương thực hiện tại không được xem thất nghiệp.

Toàn dụng viéc lam hiéu qua la trang thai can bằng trên thị trường lao động mà trong đó, sản lượng biên bằng chỉ phí biên của lao động.

179

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vĩ mô (Trang 168 - 179)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(423 trang)