Da gồm 3 lớp: thượng bì, trung bì, hạ bì và các phần phụ của da.
1.1.1. Thượng bì (còn gọi là biểu bì epidermis)
TLTK: Bài Giảng Bệnh Học Ngoại Khoa – ĐH Y Hà Nội (2020)
Chủ biên: Gs. Hà Văn Quyết – PGs. Đoàn Quốc Hưng – PGs. Phạm Đức Huấn 222 Trên các lát cắt mô học của da bình thường, ranh giới giữa thượng bì và trung bì không bằng phẳng mà lồi lõm do có nhiều nhú của thượng bì như những ngón tay ăn sâu vào trung bì. Những chỗ lồi lên của trung bì giữa các nhú thượng bì gọi là nhú trung bì.
Thượng bì chia ra thành năm lớp: lớp đáy, lớp gai, lớp hạt, lớp sáng và lớp sừng.
1.1.1.1. Lớp đáy (basal stratum)
Ở lớp đáy có hai loại tế bào cùng nằm trên màng đáy là tế bào đáy (tế bào sinh sản) và tế bào sắc tố (các tế bào sáng hay các tế bào đuôi gai, có nguồn gốc thần kinh, chúng có khả năng tổng hợp sắc tố melanin).
1.1.1.2. Lớp gai (Stratum spinosum)
Các tế bào lớp gai có hình đa diện, nằm trên lớp đáy, có từ 5 - 10 hàng tế bào.
Các tế bào nằm sát nhau, nối với nhau bằng các cầu nối bào tương, rõ rệt hơn ở lớp đáy.
Các tế bào gai cũng có khả năng sinh sản bằng gián phân. Hoạt động gián phân của lớp đáy và lớp gai đều mạnh mẽ và liên tục. Khoảng từ 19 - 20 ngày thượng bì của người lại được đổi mới một lần.
1.1.1.3. Lớp hạt (Stratum glanulosum)
Các tế bào của lớp hạt gồm từ 3 - 4 hàng, chúng có hình dẹt, nằm trên lớp gai.
Trong bào tương chứa các hạt sừng keratohyalin. Những hạt này xuất hiện chứng tỏ quá trình sừng hoá bắt đầu. Keratin thuộc nhóm protein sợi có chứa nhiều gốc aminoacid, arginin, lysin, cystidin, ... Chúng khá bền vững với những tác nhân hoá học như acid hoặc base. Bề dầy của lớp hạt dao động phụ thuộc vào mức độ sừng hoá. Lớp hạt dầy ở những nơi có lớp sừng dầy. Ở những nơi có á sừng thì thường không có lớp hạt.
1.1.1.4. Lớp sáng (stratum lucidum)
Lớp này chỉ có ở lòng bàn tay, bàn chân, nó nằm ở trên lớp hạt và gồm những tế bào trong, thuần nhất, không có nhân, dẹt, chúng sắp xếp thành 2 hoặc 3 hàng.
1.1.1.5. Lớp sừng (Stratum corneum)
TLTK: Bài Giảng Bệnh Học Ngoại Khoa – ĐH Y Hà Nội (2020)
Chủ biên: Gs. Hà Văn Quyết – PGs. Đoàn Quốc Hưng – PGs. Phạm Đức Huấn 223 Lớp sừng ở trên cùng, các tế bào trở nên dẹt hoàn toàn, màng bào tương dầy, nhân biến mất. Trong bào tương chỉ còn toàn những sợi sừng. Mỗi tế bào biến thành một lá sừng mỏng, chúng chồng chất lên nhau, những tế bào ở mặt trên cùng luôn luôn bị bong rơi ra.
1.1.2. Trung bì (còn gọi là chân bì Dermis) Về cấu trúc trung bì gồm 3 thành phần:
- Những sợi chống đỡ, sợi tạo keo: là những sợi thẳng không phân nhánh cấu tạo bởi những chuỗi polypeptit (khoảng 20 loại axit amin). Sợi tạo keo có thể bị phá huỷ bởi men colagenaza do vi khuẩn tiết ra.
- Chất cơ bản: là một màng nhầy gồm trytophan, tyrosin,...bị phá huỷ bởi tryosin.
- Tế bào: gồm tế bào xơ hình thoi hoặc hình amíp, có tác dụng làm da lên sẹo. Tổ chức bào hình thoi hoặc hình sao, nó có thể biến thành đại thực bào đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể. Tương bào tham gia quá trình chuyển hoá heparin, histamin.
- Ngoài các thành phần trên ở trung bì còn có những động mạch, tĩnh mạch, bạch mạch (được bắt nguồn từ các đám rối ở sâu) và hệ thống thần kinh của da.
Hình 13.1. Mô học da 1.1.3. Hạ bì (còn gọi là mô dưới da - Subcutaneous)
TLTK: Bài Giảng Bệnh Học Ngoại Khoa – ĐH Y Hà Nội (2020)
Chủ biên: Gs. Hà Văn Quyết – PGs. Đoàn Quốc Hưng – PGs. Phạm Đức Huấn 224 Nằm giữa trung bì và cân hoặc màng xương, hạ bì là tổ chức đệm biệt hoá thành tổ chức mỡ, có nhiều ô ngăn cách bởi những vách nối liền với trung bì, trong mỗi ô có mạch máu, thần kinh, tế bào mỡ, tế bào tròn, tế bào sáng.
1.1.4. Phần phụ của da
Gồm có thần kinh, tuyến mồ hôi, tuyến bã, nang lông và móng.
1.2. Vi khuẩn gây bệnh cơ hội: Đặc biệt là Pseudomonas, Staphylococus aureus.
1.3. Dịch tể
Bỏng là các tổn thương gây nên bởi sức nhiệt, hoá chất, điện năng, bức xạ. Đại đa số trường hợp bỏng chỉ hạn chế ở da, nhưng cũng gặp bỏng sâu tới các lớp dưới da như: cân, cơ, gân, xương khớp và các tạng.
Bỏng là một chấn thương gặp trong cả thời bình và thời chiến. Trong chiến tranh tỷ lệ bỏng chiếm từ 3 - 10% tổng số người bị thương. Trong thời bình bỏng thường gặp trong lao động sản xuất hoặc trong sinh hoạt; tỷ lệ bỏng chiếm 1.8 - 10% so với chấn thương ngoại khoa. Thời bình bỏng thường bị lẻ tẻ nhưng cũng có thể có những tai nạn hàng loạt nhiều người bị cùng một lúc.
Tùy theo điều kiện ở từng nơi người ta có thể xây dựng các cơ sở chuyên chữa bỏng dưới nhiều hình thức: trung tâm điều trị bỏng, khoa bỏng trong một bệnh viện, đơn vị điều trị bỏng trong khoa Ngoại.
2. Tác nhân gây bỏng
2.1. Bỏng do sức nhiệt: là loại gặp nhiều nhất, có 2 loại:
- Sức nhiệt khô: chiếm từ 27 - 32%
+ Lửa.
+ Tia lửa điện.
+ Kim loại nóng chảy.
- Sức nhiệt ướt: chiếm từ 53- 61%.
+ Nước sôi
+ Thức ăn sôi nóng
+ Dầu mỡ sôi (nhiệt độ 1800C)
TLTK: Bài Giảng Bệnh Học Ngoại Khoa – ĐH Y Hà Nội (2020)
Chủ biên: Gs. Hà Văn Quyết – PGs. Đoàn Quốc Hưng – PGs. Phạm Đức Huấn 225 + Hơi nước nóng từ 900C - 920C trở lên
2.2. Bỏng do hoá chất: có 2 loại do axit, do bazơ.
Thương tổn có đặc điểm là tiếp tục tiến triển sau khi tiếp xúc, do đó thường gây những thương tổn sâu và hay để lại di chứng.
2.2.1. Axit
Có 3 loại axit vô cơ mạnh thường gây bỏng là axit sunfuric (H2SO4), acid nitric (HNO3), acid clohydric (HCl).
Có thể gặp bỏng do các axit hữu cơ: acid phenic (phenol), acid tricloraxetic.
2.2.2. Bazơ
Các loại bazơ đặc mạnh gây bỏng: NaOH, KOH, Ca(OH)2. Vôi đang tôi là một loại bỏng vừa do sức nhiệt, vừa do độ bazơ.
2.3. Bỏng do điện
Bỏng do luồng điện dẫn truyền qua cơ thể. Bỏng do tia lửa điện là một bỏng nhiệt.
Điện thế cao (> 1.000 Volt) gây hiệu ứng nhiệt gây thương tổn tại nơi tiếp xúc và mô trên đường đi của dòng điện. Mô cơ bị hư hại phóng thích nhiều myoglobin dễ gây suy thận cấp. Dòng điện có thể gây ngưng tim, ngưng thở.
2.4. Bỏng do các tia vật lý - Tia hồng ngoại, tử ngoại.
- Tia X (tia Rơnghen).
- Tia phóng xạ (gama, bêta).
Phân tích tác nhân gây bỏng theo lứa tuổi người ta thấy như sau:
Sức nóng khô: Người lớn gặp nhiều hơn trẻ em.
Sức nóng ướt: Trẻ em gặp nhiều hơn người lớn.
Bỏng do hoá chất: Chủ yếu gặp ở người lớn.
Bỏng do điện: Tỷ lệ giữa trẻ em và người lớn tương đương nhau.