Cảm hứng về những chuyến đi

Một phần của tài liệu (Luận văn) đặc điểm thơ hoàng việt hằng (Trang 29 - 37)

Chương 2. CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ HOÀNG VIỆT HẰNG

2.1. Cảm hứng chủ đạo trong thơ Hoàng Việt Hằng

2.1.2. Cảm hứng về những chuyến đi

Như chúng tôi đã trình bày, cảm hứng chủ đạo xuất phát từ tư tưởng, tình cảm và những xúc cảm mãnh liệt, thường xuyên nhất của người nghệ sĩ. Nên có lẽ, những tình cảm, xúc cảm mãnh liệt và thường xuyên nhất của Hoàng Việt Hằng là từ thân phận, từ nỗi buồn và niềm đau, nỗi cô độc của bản thân mình. Một cuộc đời phụ nữ đa cảm mà đầy bất hạnh, cuộc đời ấy có lẽ chẳng được mấy ngày vui vẻ, hạnh phúc và ngay cả khi hạnh phúc nhất cũng là những lúc cực nhọc nhất, tâm trạng vẫn là luôn lo lắng, ám ảnh. Nhưng chúng tôi muốn nói đến cảm hứng về những chuyến đi trước.

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

nhân riêng tư, đặc biệt đó là những nỗi đau không bao giờ nguôi ngoai. Ngay cả một người bình thường cũng khó mà tiếp tục sống nếu chỉ đắm chìm mãi vào nỗi đau của mình. Mà họ vẫn phải đi, phải giao lưu với thế giới bên ngoài. Họ đi không chỉ để làm dịu đi nỗi đau riêng, không phải tìm cách quên đi tất cả, mà dường như đi là để soi thấu, đồng cảm và hóa thân vào những nỗi bất hạnh của người đời. Từ đó, tiếng thơ Hoàng Việt Hằng bật lên như chính tiếng thở than, tiếng khóc của chính mình và cho cả những thân phận bất hạnh: Hoàng Việt Hằng đã nếm trải nhiều lao đao để những sóng gió bất trắc lặn vào trang giấy trắng thành những câu thơ vỗ về kiếp người nổi nênh [50].

Tác giả Việt Quỳnh khi đọc tập thơ Xóa đi và không xóa cũng nhận định: Lời thơ Hoàng Việt Hằng đơn giản như thủ thỉ, thấy gì, cảm gì thì ghi chép lại. Câu thơ không phức tạp chữ nghĩa, không hoa lệ ngôn từ, cứ như một khoảnh tự mình trò chuyện với mình, dọc đường những lúc nghỉ chân đỡ phần mỏi mệt. Biết bao địa danh đã qua, biết bao cuộc đời và con người đã gặp, biết bao nhiêu xúc cảm chân thành đã bật lên thành thơ. Vậy nên, trước tiên chúng tôi muốn đề cập đến cảm hứng từ những chuyến đi của nhà thơ Qua những địa danh để gặp những con người.

2.1.2.1. Qua những địa danh

Hoàng Việt Hằng đã đến, đã đưa vào thơ mình rất nhiều địa danh trên mọi miền đất nước, từ: Thác Bờ, Sông Mã, Sông Mực, Bến En, Đục Khê,… đến Đảo Dấu, Mẫu Sơn, Mường Lát, Tủa Chùa, Mường Lay, Buôn Đôn, Ngọa Vân… Và cả các địa danh của nước bạn Lào: Nậm Khan, Kỉu Mai Lo… hay Campuchia, Thái Lan: Ăng Ko Thom, Pattaya… Trung Hoa với Vạn Lý Trường Thành, Ấn Độ với đền Majhtal…

Chị đi như con ong cần mẫn hút nhụy sống của cuộc đời để mang đến mật ngọt, hương thơm là những vần thơ. Địa danh nào cũng mang đến một xúc cảm, địa danh nào cũng để lại một suy tư. Đó là Hồ Ba Bể: Hồ trong núi/ Cây ô rô lá đỏ/ Cây ô rô lá xanh/ Hoa chuối rừng lặng lẽ tỏa hương/ Vẳng tiếng người gọi trâu lạc/ Ngẩng mặt/ Vách núi thẳm xanh/ Cây thẳm xanh/ Cúi mặt/ Hồ trong núi/ Thẳm xanh/ Tôi đã ước/ Mình thẳm xanh/ Nơi này… (Hồ Ba Bể).

Và vẫn Hồ Ba Bể, với núi rừng, với xúc cảm như mơ hồ mà đẹp trong trẻo:

Thảng thốt một loài chim/ Bay từ sông Năng tới/ Cá dưới hồ quẫy đuôi/ Ba Bể mờ sương khói (Thơ đề lưng núi Ba Bể).

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Những chuyến đi nối tiếp chuyến đi, Hoàng Việt Hằng đi khi có thể và nếu cần một lý do, thì: Tôi biết lý do tôi bỏ phố…/Vì lâu lắm/ Không được nhìn tàn tro/ Vì lâu lắm/ Không được nhìn bếp lửa/ Tôi biết lý do tôi bỏ phố/ Vì lâu lắm/ Không được đi trên cỏ/ Vì lâu lắm/ Không được nghe thác đổ(Thác bờ).

Đi vì lý do gì ư? Đi để đi và đi để được… ước, mà cũng chẳng ước gì to tát cao siêu, chẳng ước gì xa vời. Người khác có thể ước mọi thứ của cải vật chất, bình yên hạnh phúc, còn Hoàng Việt Hằng chỉ ước:

Đứng trên đỉnh núi Thạch Lâm Mà sao chỉ ước một năm thế này Chuyến đi mờ ảo như mây

Chốn này đã núi, chốn này thung xanh

(Lên núi Thạch Lâm ước)

Đi và thấy nơi nào trên Tổ Quốc này cũng thân quen, thân quen như chính là quê hương mình. Với một tâm hồn rộng mở, chan chứa niềm yêu đời, yêu người, thi sĩ coi nơi nào trên Tổ Quốc này cũng thân thương, cũng gần gũi, cũng là nơi chôn nhau cắt rốn. Vậy nên về phố Hiến, nhà thơ như được trở về :

Tôi về phố Hiến tháng ba

Như người bận việc đi xa lâu ngày

(Phố Hiến)

Đi và cảm nhận, từ các địa danh Hà Nội, rồi ngược từ Thác Bờ của dòng sông Đà đến nơi biên ải, cực Bắc của Tổ Quốc:

Vừa ở Bình Liêu hun hút gió tôi đã về lội nước ở Chi Lăng

(Miền biên ải)

Rồi từ nơi địa đầu cực Bắc xa xôi, nhà thơ đến nơi cực Nam của Tổ Quốc, nhận thấy sự vật, cảnh quan như từ lâu vẫn thế:

Những con thuyền trôi xuôi Tiếng tù và vẫn thổi

Ở doi đất cuối trời

Triền rừng xanh màu đước

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Ngọn lau bên bờ sông, hay cây rừng cây núi, cây đước ở vùng Cà Mau đã quen, đã thân thuộc. Nói đến Cà Mau không là nói đến rừng đước:

mà đước Cà Mau mà người dâu bể chợ Cái Nước bấm ngón tay ngày lẻ

thuyền như dấu huyền nghiêng nửa vệt trăng những cây đước non tươi cây mới hồi sinh (Đước Cà Mau)

Những địa danh đó, những chuyến đi đó không phải là một cuộc du hí, một chuyến du ngoạn, cũng không phải vì tham vọng hay ham muốn được đặt chân, ghi dấu tên mình ở nơi đó như cách thông thường của những người ưa khám phá. Nhà thơ đã chia sẻ rất thật:

Tôi đặt chân lên đảo Dấu Chẳng mong để lại dấu gì

(Ra đảo Dấu)

Bởi cuộc hành trình nào cũng lắm gian nan. Một chuyến đi không thảnh thơi và nhẹ nhõm cả tâm trạng lẫn hành lý mang theo, cũng không nhẹ nhàng như chỉ ngồi trên xe, trên tàu, trên thuyền. Nhiều khi, người đọc thấy nhà thơ như đang hành xác trong những chuyến đi đó:

Tôi ngồi đếm suối không tên Đếm hoa cúc quỳ

Đếm rừng hoa dẻ

Phải tập đếm thôi như trẻ nhỏ Để vượt qua những dốc nín thở Đến Sìn Hồ mộng mơ

(Sìn Hồ ở cây số không) Thế nên, nhiều lúc nhà thơ tự hỏi mình, nghe mà xót xa:

Một ngày đội mấy cơn mưa Phơi nắng

Phơi gió Giời đày ta hay ta đày ta?

(Sìn Hồ ở cây số không)

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Và ngược dòng sông Mã trong một hành trình ẩn chứa đầy những hiểm nguy:

Ngược dòng sông Mã mùa đông

Nước sông trong nước sông trong nao lòng….

Vượt ghềnh lũ xoáy gió giông

Chân em lội ngược nước trong thầm thì…

(Ngược dòng sông Mã)

Hình ảnh cỏ lau bên bờ sông Mực không khiến người ta nao lòng như sông Mã mà nghiêng như chênh chao, như chơi vơi, như những hơi thở gấp gáp trên cuộc hành trình.

Lên núi, lên rừng, gặp suối, gặp sông, rồi nhà thơ lại tìm đến biển để thấy:

Sóng xô bờ đã vô hồi

Có người ngồi đếm sóng dồi gần xa (Biển)

Thấy xác xao những thanh âm của một miền quê nào đó, thăm thẳm một xúc cảm nhớ thương nào đó:

Cát Bà lắm đảo con con

Nhiều nhà đất thó vẫn còn liêu xiêu Ở đây nghe được tiếng rìu

Tiếng chim trói cột đìu hiu cuối trời (Một ngày)

Nhà thơ không ngần ngại chia sẻ cái tôi của mình cùng bạn đọc, thông qua các đại từ nhân xưng tôi, ta rất chân thành, hay có lúc là em thật hiền dịu. Mỗi bài thơ là một trang nhật ký hành trình nhiều gian truân, kỷ niệm và ẩn chứa bao nỗi niềm.

Không dừng lại ở địa đầu cực Bắc hay cực Nam của Tổ quốc, ở núi cao, sông sâu, vực thẳm hay biển rộng trên đất nước mình. Hoàng Việt Hằng còn đi xa hơn thế. Đó là dòng Nậm Khan của nước bạn Lào anh em: Bên này sông Nậm Khan…/Bản Pạc Vẹt hồn sông còn quệt nắng/ Trên túp lều mây trắng đến ngang vai (Bên này sông Nậm Khan).

Đó là cánh rừng bạt ngàn gỗ tếch bên bản Kỉu Mai Lo, là những ngôi mộ chiến sĩ vô danh, là dòng suối Nậm Xoong trong vắt, là đất Thái Lan với biển Pattaya nổi tiếng: Bay trên biển Pattaya/ mẹ nhìn thấy biển xanh và sóng trắng/ Lặn dưới biển

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Và vẫn là đất Thái, là biển của người Thái, nhưng đó là biển Phu Kẹt sau thảm họa sóng thần kinh hoàng: Vẫn là bãi biển ngày xưa/ sóng thần cũng có số dư sóng thần/ bao nhiêu nông nỗi người trần/ bóng dừa phơi nắng bước chân đổ dài/ chỉ trong chớp mắt thiên tai/ mồ côi đến cả lâu đài mồ côi (Biển Phu Kẹt).

Rồi nhà thơ lại đến với đất nước Trung Hoa để thấy con tim như mắc nợ vẻ đẹp của thảo nguyên, của tiếng hát người chăn cừu: Một chiều Vạn Lý Trường Thành/

Một chiều xe ngựa độc hành thảo nguyên/ Tiếng lục lạc vạt cỏ mềm/ Ngôi nhà đất thó với đèn giấy giăng (Thảo nguyên).

Xa hơn nữa, nhà thơ du hành đến đất nước Ấn Độ, ngắm nhìn dòng sông Hằng - sông thiêng của người Ấn, chiêm ngưỡng Bodhgaya nơi có cội cây bồ đề thiêng của đất Phật, và thả bước trên sa mạc Thar:

Bắt đầu mùa khô ở Bodhgaya lá bồ đề đang rụng những thảm lá ngàn năm vẫn màu vàng ấy người ăn chay đi lễ khắp nơi này

rồi họ tạt sang sông Hằng gột rửa…

(Trên bến của sông Hằng)

Rồi đến với ngôi đền Taj Mahal để lại tự nhìn sâu vào tâm hồn, tình yêu và khát vọng của mình: Không thấy treo đồng hồ/ Ở trên đền Taj Mahal/ Không có tiếng tích tắc/ Khoảnh khắc vàng/ Chỉ run rẩy mà thôi (Đền Taj Mahal).

Qua những chuyến đi đến với núi, sông, đảo, biển, ghềnh thác... nhiều lần nhà thơ còn tìm đến những ngôi chùa như tìm một nơi tĩnh tại, một chốn thanh nghiêm để buông bỏ mọi vướng bận và rũ sạch bụi trần, phải chăng vì cũng là đã hẹn: Mai về thả bước êm đềm/ Tụng kinh, gõ mõ - điềm nhiên trước chùa (Biển). Vậy nên:

Tôi tìm sân sau chùa Sái Với những bông hoa nhỏ dại Không rõ tên và không có ai mua Những vết rêu cũng ít người qua lại mượt trong giấc mơ

(Sân sau ngôi chùa Sái)

Còn đây là hình ảnh như tiên cảnh, như nói lên tâm hồn lâng lâng đầy xúc cảm thanh tao, thoát tục của nhà thơ: Đi chậm thì leo đến non trưa/ Ngẩng nhìn cây tùng cổ mà mơ/ Sớm nay leo núi qua hồ biếc/ Thấy trúc che vàng một lối xưa/ Ngũ sắc ríu ran từ lau sậy…(Lên Ngọa Vân)

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Hoàng Việt Hằng nhiều lần tìm đến chùa, ghi lại chuyện chùa để thấy mình có thể buông bỏ được như khát khao buông bỏ mọi chuyện đời dẫu lòng còn nặng tình với cuộc đời lắm:

Chùa Hang trong núi Lăng Tiêu Muốn đi hết phải một chiều mùa đông Học im lặng của con sông

Học người đốn củi cành cong buông rìu Ngước nhìn dòng chữ phủ rêu

Tiếng chuông vẫn vọng đìu hiu nơi này

(Chùa trong núi Lăng Tiêu)

Còn rất nhiều địa danh khác Hoàng Việt Hằng đến và cảm nhận, lắng đọng những xúc cảm về cảnh vật, về con người. Đó là người bán vải ở chợ Đục Khê, là người phụ nữ ở Buôn Đôn với ngôi nhà vắng bóng, là anh kiểm lâm viên ở rừng Bến En, người đãi hến ở bến sông Hương, cô gái mơ hồ nào đó ở Mường Lát, rồi chùa Sái, Kim Sơn, Trường Sơn với những ngôi mộ đá, những người Dao áo đỏ ở Mẫu Sơn, người trồng cây trên đảo Sủ Vàng ....

Hoàng Việt Hằng đi không ngừng để tìm cảm hứng, để tìm chất liệu đưa vào thơ.

Những chuyến đi, những địa danh đã không chỉ lưu lại dấu chân của nhà thơ mà còn lưu lại trong trái tim của chị hình ảnh những con người chị đã gặp trên từng cung đường.

2.1.2.2. Gặp những con người

Hoàng Việt Hằng đi nhiều không phải như một người nhàn nhã đi thưởng ngoạn cảnh sắc của mây trời, của núi non sông suối, của biển cả bao la mà để nhìn cuộc đời, nhìn chính mình. Cảm nhận về thiên nhiên cũng là một dòng xúc cảm nhưng cảm nhận về cuộc sống, về những con người trên cuộc hành trình ấy mới là dòng xúc cảm chính trong những chuyến đi của chị. Và mỗi địa danh chị đặt chân đến có biết bao nhiêu cảnh đời, bao nhiêu kiếp người. Từ thân phận mình, với những gì đã trải nghiệm trong cuộc đời, trên những chuyến đi, Hoàng Việt Hằng như đồng cảm hơn với cuộc sống mưu sinh của những người cùng giới:

Dốc Phà Đen

Có người đàn bà đêm đêm quét rác Sáng sáng bán rau dưa

Tiền chợ nuôi con ăn học

Tiền lương kiếm gạo hàng ngày

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Là một nhà thơ nhạy cảm, có tấm lòng đầy nhân ái, qua những vùng đất, gặp những con người, mỗi người một cảnh ngộ, trái tim Hoàng Việt Hằng luôn thổn thức trước nỗi đau của con người, nhất là của người đàn bà góa bụa. Những bài thơ của Hoàng Việt Hằng như nói với mình, về mình, nhưng cũng là sự giãi bày, đồng cảm và chia sẻ với đồng loại, với những người cùng giới đã và đang gánh chịu nỗi bất hạnh trên đất nước mình hay ở bên kia thế giới: Suốt mùa khô chị quét lá vàng/ Cắm cúi đốt/

Lửa tàn thì mới khóc/ Con gái tôi nằm đây/ Chồng tôi cũng nằm đây/ Cha mẹ cũng nằm đây/ Hai mươi chín năm quét lá/ Giọt nước mắt không màu (Chị Klung Lang).

Với tâm hồn phụ nữ, nhà thơ dễ dàng nhận thấy, thấu hiểu tâm trạng của người đàn bà: Ai phơi trắng cói đồng Kim Sơn/ Có một người đàn bà đan cói cúi xuống/ Em không dám hỏi/ Sợ vỡ đi nỗi buồn… (Ai phơi trắng cói đồng Kim Sơn).

Hoàng Việt Hằng dễ dàng cảm nhận, thấu hiểu được nỗi bất hạnh, cô đơn của những người phụ nữ nơi chị đi qua. Vậy nên, một chị Ngải cô độc bên này sông Nậm Khan cũng ám ảnh người đọc: Bên này sông Nậm Khan/ Chị Ngải sống một mình?

Túp lều gianh và chiếc ấm sành/ Chị đi nhổ cỏ và nuôi vịt/ Khi mò cua bắt tép cũng qua ngày/ Bản Pạc Vẹt hồn sông còn quệt nắng/ Trên túp lều mây trắng đến ngang vai (Bên này sông Nậm Khan).

Đau khổ, bất hạnh không phải đến với tất cả những thân phận phụ nữ, nhưng có lẽ sự lam lũ, vất vả luôn đồng hành với họ. Và trái tim Hoàng Việt Hằng đã mẫn cảm nhận ra những công việc lặp lại một cách đơn điệu hàng ngày trong cuộc mưu sinh của những người đàn bà trong các bài thơ: Một lần đi chợ Đục Khê, Người mẹ ở Buôn Đôn, Mạ ở Gio Linh, Tết biển.

Từ cuộc đời của chính mình, Hoàng Việt Hằng như thấu hiểu đến tận đáy lòng nỗi cô đơn của người đàn bà đêm đêm trong chiêm bao vẫn nhớ lời chồng hẹn về:

mơ nhìn trẻ con hàng xóm

rồi nuốt khan từng giọt xuân tàn:

bốn mươi năm sống với những bằng khen vợ liệt sĩ, vách liếp, đèn nghiêng…

(Tết biển)

Bước qua cuộc chiến tranh, không chỉ các Mẹ, các chị ôm mãi niềm đau, niềm nhớ vì mất chồng, mất con, những người vợ mất chồng mất đi cả niềm hạnh phúc

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

được làm vợ, làm mẹ. Mà những người lính trở về sau cuộc chiến cũng vậy. Có người trở về: đầy đủ họ tên/ nhưng mãi mãi không có con không thể/ sau những trận bom, lại có người nỗi buồn rải thảm trong cơ thể. Khó có thể so sánh niềm đau nào hơn niềm đau nào. Bằng niềm cảm thong chân thành, Hoàng Việt Hằng đã ghi lại hình ảnh người cựu chiến binh cô độc trong cuộc sống đời thường, lặng lẽ với việc làm bình dị mà ý nghĩa hàng ngày:

anh vẫn rang gạo, rang muối đi rắc khắp hàng mộ

vô danh khuất lối

những điếu thuốc lá quấn một thời anh lặng lẽ thắp hương cho đồng đội

(Phía sau vô danh)

Trong thơ chị xuất hiện những con người bình dị, hàng ngày hàng giờ đối mặt với cuộc mưu sinh, với những công việc bình lặng ít ai biết đến, nhưng lại có ý nghĩa với cuộc đời: người thợ săn trong Đảo Sủ Vàng, anh kiểm lâm viên trong Kiểm lâm viên rừng Bến En, cô giáo trong Viên ngọc trai ở bến Cái Bèo.

Hoàng Việt Hằng đã lưu dấu chân qua bao vùng đất từ cực Bắc đến cực Nam tổ quốc, từ Việt Nam ra nước ngoài. Và với nhà thơ: nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương (Chế Lan Viên).

Có lẽ bởi tâm hồn nhạy cảm của người phụ nữ, bởi nỗi bất hạnh của bản thân mà chị dễ thấu hiểu và cảm thương cho những số phận bất hạnh. Đồng thời, thơ chị còn ẩn chứa những vẻ đẹp rất nhân văn sau những nỗi bất hạnh ấy; là những lời tri ân kín đáo trước sự hy sinh thầm lặng như những con sóng ngầm dưới sâu đại dương, chẳng ai biết đến mà có sức mạnh to lớn làm nên những giá trị của cuộc đời.

Một phần của tài liệu (Luận văn) đặc điểm thơ hoàng việt hằng (Trang 29 - 37)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(94 trang)