Nhu cầu dịch vụ PHCN của người khuyết tật trên thế giới và ở Việt Nam…

Một phần của tài liệu Thực trạng thực hiện phân tuyến kỹ thuật phục hồi chức năng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện và tuyến xã trên địa bàn tỉnh tuyên quang (Trang 24 - 29)

1.2.1. Trên thế giới

Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố: tỷ lệ NKT trên thế giới khoảng 10% dân số tương ứng với tổng số NKT là 650 triệu trong đó có 200 triệu là trẻ khuyết tật (TKT). Số NKT ngày càng tăng vì dân số tăng, sự hóa già dân số, các bệnh mạn tính tăng, cũng như các tiến bộ của y học góp phần nâng cao tuổi thọ con người. Khuyết tật vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của nghèo đói.

Khoảng 80% NKT sống ở các nước có thu nhập thấp. Nghèo đói cản trở sự tiếp cận các dịch vụ y tế và PHCN của NKT[36]. Tại Canada năm 2006, số NKT ước tính khoảng 4,4 triệu người chiếm 14,3% tổng dân số cao hơn tỷ lệ 12,4% trong điều tra năm 2001[60]. Năm 2007 tại Bắc Ireland, một nghiên cứu dựa trên phân loại của WHO cho thấy: tỷ lệ khuyết tật chung là 18%, người lớn là 21% và trẻ em là 6%[72]. Dân số vùng Đông Nam Á chiếm 25% dân số thế giới nhưng số người mù tại đây chiếm tới 33% tổng số người mù trên thế giới; chiếm 50% tổng số trẻ mù và chiếm 60% tổng các ca đục thủy tinh thể chưa được điều trị và là khu vực có số người mù cao nhất theo cách phân vùng của WHO. Thế giới có 45 triệu người mù thì Đông Nam Á chiếm 15 triệu và chiếm khoảng một nửa trong số 1,5 triệu trẻ em mù trên thế giới. Tỷ lệ mù tại khu vực là 0,8% và có thay đổi theo từng quốc gia:

thấp nhất là Thái Lan (0,8%) và cao nhất là Indonesia (1,5%)[61]. Theo cuộc điều tra toàn quốc năm 1987 của Trung Quốc, tỷ lệ tàn tật là 4,9%[62]. Trong một nghiên cứu trên cộng đồng tại nông thôn miền bắc Thái Lan năm 1989, tỷ lệ khuyết tật chung là 0,63%, kết quả nghiên cứu cho thấy còn rất nhiều NKT ở nông thôn không được điều trị và nhiều người trong số họ có thể được hưởng lợi từ dịch vụ y tế và PHCN[76]. Cũng tại Thái Lan, điều tra năm 1990/1991 trên đối tượng là cộng đồng dân cư nghèo nông thôn miền nam Thái Lan cho thấy tỷ lệ khuyết tật chung của trẻ là 1,2%[73].

HUPH

Cũng giống như người không bị khuyết tật, NKT cũng có nhu cầu đến trường, dự lễ nhà thờ, có việc làm, chơi thể thao, bầu cử, nộp thuế, lập gia đình và sinh con. NKT cũng cần chương trình chăm sóc sức khỏe giống như bất kỳ ai, để từ đó họ có thể duy trì sức khỏe, cuộc sống lành mạnh, chủ động tham gia vào hoạt động cộng đồng. Tuy vậy, NKT thường phải đối mặt với các thử thách hàng ngày liên quan tới sự hạn chế, khó khăn trong việc di chuyển và tiếp cận các dịch vụ, những rào cản xã hội như thái độ của mọi người xung quanh cũng như khó khăn trong giao tiếp[35],[36]. Theo ước tính của WHO, tỷ lệ NKT cần có dịch vụ PHCN hiện nay là 1,5% dân số, ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 2%-3%, tương ứng với khoảng 100-120 triệu NKT có nhu cầu PHCN[35]. Số NKT cần phải PHCN ngày càng tăng. Năm 2002 có khoảng 130-150 triệu NKT có nhu cầu PHCN, năm 2003 có trên 250 triệu[67]. Như vậy số NKT trên thế giới nói chung, ở các nước đang phát triển nói riêng ngày càng tăng khiến cho nhu cầu PHCN của NKT cũng tăng lên[59].

Một nghiên cứu về nhu cầu của phụ nữ khuyết tật tại Mỹ cho thấy: những người phụ nữ khuyết tật có nhu cầu về sức khỏe riêng từ tuổi thiếu niên trở đi. Nhu cầu này là cần có các dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện nhằm PHCN những khuyết tật hiện có và phòng tránh những thương tật thứ cấp. Nhưng trong thực tế, phụ nữ khuyết tật gặp nhiều rào cản về mặt thái độ, thông tin, môi trường và địa lý khi tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe[76]. Nhiều NKT có khó khăn về nhìn, đặc biệt là người cao tuổi không được khám mắt thường xuyên và thiếu PHCN về nhìn đầy đủ. Điều này cho thấy nhu cầu được khám mắt thường xuyên của người cao tuổi và sự chủ động cung cấp thông tin về các dịch vụ PHCN[70].

Tương tự như vậy, một nghiên cứu tại miền Trung và miền Nam Jamaica năm 1992 ước tính nhu cầu của TKT dưới 15 tuổi như sau: 62% có nhu cầu giáo dục đặc biệt;

29,5% có nhu cầu các dịch vụ dựa vào cộng đồng; 21% cần sử dụng kính; 21% cần khám chuyên khoa, và 6% cần được điều trị. Mặc dù phần lớn các nhu cầu này không được đáp ứng. Nhưng nếu có các nhân viên cộng đồng về y tế và giáo dục được huấn luyện các kỹ thuật cơ bản về sàng lọc và đánh giá thì các nhu cầu này sẽ được đáp ứng tốt hơn[78]. Tại Thái Lan khoảng một nửa trẻ khuyết tật chưa từng

HUPH

nhận được điều trị hay lượng giá chức năng bởi các dịch vụ PHCN. Khoảng 2/3 TKT được cho là có khả năng cải thiện tốt nếu được lượng giá tốt và gửi đến đúng các cơ sở điều trị; 1/3 có thể dự phòng được. Giá thành cao, không tiếp cận được hay những quan niệm không đúng khiến gia đình TKT không đưa trẻ đến với các dịch vụ PHCN[73].

Nghiên cứu tại Trung Quốc về nhu cầu của TKT và gia đình trẻ tại cả hai khu vực nông thôn và thành thị cho thấy: các nhu cầu chủ yếu là nhu cầu thông tin, trợ giúp tài chính và nhu cầu có bác sỹ tại chỗ, loại khuyết tật và hoàn cảnh sống dẫn đến sự đa dạng về các nhu cầu dịch vụ[62].

Sự đánh giá và PHCN toàn diện cho bệnh nhân trong bệnh viện là người cao tuổi đã được chứng minh là làm giảm tỷ lệ tử vong, cải thiện tình trạng chức năng và hạn chế số bệnh nhân sau khi ra viện phải chuyển tới các nhà dưỡng lão. Trong một nghiên cứu trên 889 người cao tuổi trên 64 tại các phòng bệnh cấp cứu, cơ sở PHCN năm 2001 ở Anh đã cho thấy nhu cầu đa dạng của bệnh nhân, sự đa dạng này càng tăng lên khi tuổi càng tăng, đặc biệt là những bệnh nhân cao tuổi. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc cung cấp những dịch vụ có tính đa dạng trong tương lai nhằm đáp ứng được những nhu cầu này của người cao tuổi. Nghiên cứu cũng cho thấy thời gian cho các kỹ thuật trị liệu là không đủ đối với những bệnh nhân có nhu cầu điều trị[75].

1.2.2. Ở Việt Nam

Việt Nam là nước trải qua hai cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm, nền kinh tế đang phát triển, điều kiện chăm sóc sức khỏe còn hạn chế, là một trong những quốc gia có tỷ lệ khuyết tật cao. Có nhiều yếu tố tác động tới tình hình khuyết tật ở nước ta, nhưng chủ yếu vẫn là ảnh hưởng bởi thương tật, chất độc da cam sau chiến tranh; hậu quả của các vấn đề sức khỏe công cộng trong giai đoạn phát triển như tai nạn thương tích, các bệnh không truyền nhiễm, sức khỏe tâm thần...[14]. Bên cạnh đó vẫn tồn tại nhiều quan niệm sai lầm về khuyết tật ở cộng đồng. Đó là những nguyên nhân quan trọng khiến cho tỷ lệ khuyết tật ở Việt Nam khá cao. Theo các thống kê chưa đầy đủ, hiện tại có khoảng 5,1 triệu NKT trong cả nước, chiếm tỷ lệ khoảng 6% dân số. Các dạng khuyết tật chủ yếu thường gặp theo tỷ lệ từ cao xuống

HUPH

thấp là: khó khăn về vận động, khó khăn về giao tiếp (nghe nói), khó khăn về nhìn, khó khăn về nhận thức, khuyết tật về tâm thần - hành vi... Do hạn chế về kiến thức y học thông thường tại cộng đồng và chưa có một hệ thống phát hiện khuyết tật đầy đủ nên những NKT thường được phát hiện khi đã muộn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân góp phần góp phần làm cho khả năng phục hồi của NKT bị hạn chế. Nhận thức về khuyết tật của cộng đồng, nhìn chung vẫn còn chưa đúng, vì thế mà năng lực, trình độ của NKT còn chưa được đánh giá hết, hậu quả là NKT vẫn còn bị hạn chế trong việc tham gia các công việc gia đình và các hoạt xã hội như thể thao, văn hóa, lễ hội, đi học ... hay tham gia các tổ chức đoàn thể, chính quyền.

Người khuyết tật, mặc dù là một bộ phận không thể tách rời khỏi cộng đồng nhưng họ vẫn là những người yếu thế trong xã hội[13].

Tại Việt Nam, trước năm 1987 chưa có số liệu điều tra cơ bản, từ năm 1987 bắt đầu triển khai chương trình PHCN dựa vào cộng đồng. Chưa có một điều tra nào trên quy mô toàn quốc về khuyết tật, nên chưa có một số liệu thống kê chính thức về tỷ lệ khuyết tật trên cả nước. Qua một vài số liệu từ các nghiên cứu nhỏ lẻ của các tổ chức, các bộ, ngành liên quan thì tỷ lệ khuyết tật trong cộng đồng vào khoảng 4-6%[14].

Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam có trên 6 triệu người khuyết tật, trong đó khoảng 2 triệu là trẻ em, 42% có nhu cầu PHCN. Tỷ lệ các dạng khuyết tật: khó khăn vận động chiếm 42%, khó khăn về học chiếm 23%, khó khăn nghe nói chiếm 22%, khó khăn về nhìn chiếm 7%, hành vi xa lạ chiếm 4%, động kinh chiếm 1%, mất cảm giác chiếm 1%. Tỷ lệ người có nhu cầu PHCN là 47%[26]. Theo Đặng Đức Định, tỷ lệ NKT tại vùng núi phía Bắc là 5,33% trong đó trẻ em chiếm 27,66%[29]. Điều tra tàn tật tại huyện Thiệu Yên tỉnh Thanh Hóa cho thấy tỷ lệ tàn tật là 2,12% trong đó NKT có nhu cầu PHCN chiếm 42,6%[26]. Đánh giá 5 tỉnh thực hiện chương trình PHCN dựa vào cộng đồng do AIFO tài trợ sau 3 năm cho thấy tỷ lệ tàn tật là 6,4% dân số, trong đó 47,2% có nhu cầu cần PHCN[26]. Một nghiên cứu gần đây (2007) của Ngân hàng thế giới trên 1020 hộ gia đình tại Thái Bình cho thấy tỷ lệ khuyết tật tại đây là 31,6%[65].

HUPH

Tỷ lệ NKT có nhu cầu PHCN là khác nhau giữa các nhiên cứu trong nước:

tại quận Hoàng Mai - Hà Nội, nhu cầu PHCN chung là 17,03%[3]. Bình Lục - Nam Hà (26,37%)[37], thấp hơn nhiều so với Hà Tây (40%)[46], Hải Châu- Đà Nẵng (22%)[54]. Tứ Kỳ- Hải Dương (7,8%), Vĩnh Phúc là 25,48%, vùng trung tâm Hà Nội là 20%, Vĩnh Long là 21,7%. Nghiên cứu tại 5 tỉnh (Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Nam) gồm 10 huyện khoảng 47,2% NKT có nhu cầu PHCN với khoảng dao động từ 16% đến 65,1%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhu cầu PHCN giữa các nghiên cứu có thể là sự khác biệt thực tế nhưng cũng có thể do thiết kế điều tra có sự tham gia của các nhà chuyên môn hay không, điều này ảnh hưởng lớn tới độ chính xác của các số liệu điều tra[3].

Cũng theo nghiên cứu tại Hoàng Mai[3], nhu cầu PHCN của người bị động kinh chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 59,83%, tiếp đó là nhu cầu PHCN của người có hành vi xa lạ (51,86%), khó khăn về học (49%), mất cảm giác (28,36%), vận động (25,76%), các dạng tàn tật khác (20,27%), nghe-nói (18,38%), nhìn (7,59%) trong tổng số người mắc các loại tàn tật đó. Tại Tứ Kỳ- Hải Dương tỷ lệ cần PHCN của người bị động kinh cao nhất sau đó đến hành vi xa lạ. Tại Vĩnh Phúc, 70% người có khó khăn vận động cần PHCN, đối với người có hành vi xa lạ là 60%, khó khăn về nhìn và động kinh là 30%, các dạng tàn tật khác là 5%. Theo Nguyễn Thị Minh Thủy (1996), tỷ lệ có nhu cầu PHCN cho dạng mất cảm giác cao nhất (77,1%), tiếp theo là động kinh (62%), hành vi xa lạ (43,4%), thấp nhất là khó khăn về nhìn (5,3%). Tỷ lệ TKT cần PHCN cho dạng tật khó khăn về học chiếm tỷ lệ cao nhất (33,9%) tiếp đến là động kinh (27,2%), thấp nhất là mất cảm giác (2,8%)[45]. Theo Đào Thanh Quang (2012), điều tra tại 28 xã điểm của tỉnh Tuyên Quang thấy tỷ lệ NKT chung là 10% dân số, nhu cầu PHCN chung của NKT là 49,2% trên tổng số NKT, tỷ lệ nhu cầu cần PHCN ở nhóm mất cảm giác là cao nhất (100%), tiếp đến nhóm tâm thần, hành vi và động kinh (98,4%), khuyết tật về vận động và nhận thức (88,2% và 82,7%), thấp nhất là nhóm khó khăn về nhìn (28,7%)[41]. Theo báo cáo của 46 tỉnh đã triển khai Chương trình PHCN dựa vào cộng đồng, tỷ lệ NKT có nhu cầu phục hồi chức năng chiếm 38,5% tổng số NKT. Trong đó, khó khăn về vận động chiếm vị trí hàng đầu (36,6% đến 46,6%); khó khăn về nhìn (17,8%); tiếp theo

HUPH

là khó khăn về nghe, nói (15,4% đến 22%). Nhóm hành vi xa lạ và động kinh chiếm tỷ lệ thấp[34]. WHO tính toán tỷ lệ NKT có thể phục hồi tại các tuyến: từ 75-80%

số NKT có thể phục hồi tại xã bằng các kỹ thuật thích ứng, tại tuyến huyện 5-10%, tại tuyến tỉnh 5-10%, tại tuyến trung ương 2-5%[38].

Một phần của tài liệu Thực trạng thực hiện phân tuyến kỹ thuật phục hồi chức năng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện và tuyến xã trên địa bàn tỉnh tuyên quang (Trang 24 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(158 trang)