TRONG CÁC THẾ KỶ XVII - XIX
3. Đời sống tinh thần
3.1- Phong tục tập quán:
Vùng đất Bến Tre xưa có phong tục, tập quán cũng giống như các vùng khác ở Nam Bộ, gắn liền với tín ngưỡng là phong tục, tập quán. Đây là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, đã được đại đa số nhân dân làm theo. Phong tục tập quán còn là một sự thể hiện trong cách “đối nhân xử thế”. Bến Tre xưa có rất nhiều phong tục tập quán, vừa có nét chung với mọi miền, mọi nơi nhưng cũng có nét riêng.
3.1.1- Veà hoân nhaân:
Tâm lý người Việt ở Bến Tre cũng giống như đa số nhân dân trong cả nước, quan niệm hôn nhân là việc “đại sự” việc “dựng vợ gả chồng” còn được coi là “việc trăm năm”, việc cưới hỏi là việc rất hệ trọng của đời người, gần như là thiêng liêng. Dưới xã hội cũ, trai gái không được tự do yêu đương, vì vậy họ cũng không có tự do kết hôn, việc dựng vợ gả chồng lại là việc của “hai họ”. Xuất phát từ quan điểm phong kiến lạc hậu, trước hết là quan niệm “môn đăng hộ đối”, tức là xem gia thế, tài sản, cửa nhà, uy quyền, danh vọng, chức tước… của hai gia đình, dòng họ hai bên có tương xứng không, có
“đăng” và “đối” không, nhất là đối với các tầng lớp trên và kể cả tầng lớp trung gian trong xã hội cũ, quan niệm “đăng” và “đối” được xem như là thước đo cho mọi cuộc hôn nhân. Hôn nhân thời xưa còn bị lệ thuộc vào sự áp đặt của cha mẹ đôi bên “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”.
Vùng đất Bến Tre khi xưa, nghe những người cao tuổi kể lại trong hôn nhân còn có tục đa thê “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng”. Đây là sự áp đặt của tầng lớp người có tiền của, uy quyền, thế lực, nhất là những địa chủ, phú hộ, quan lại, những người có chức sắc của chế độ phong kiến, họ có tâm lý tham lam, hưởng lạc. Ở Bến Tre trước đây từng có những đốc phủ sứ, tri huyện, cai tổng, địa chủ… có ba, bốn bà vợ, năm bảy nàng hầu. Những nàng hầu, vợ lẽ đôi khi là con của gia đình tá điền nghèo, mắc nợ địa chủ không trả nổi, nhà nào có con gái có chút nhan sắc là rơi vào số phận nàng hầu – vợ lẽ để trừ nợ là chuyện phổ biến trong xã hội trước đây.
Ở Bến Tre, thời phong kiến cũng giống như những nơi khác, việc tổ chức cưới hỏi nhìn chung vẫn phải theo 6 lễ từ lúc dạm hỏi đến lúc cưới rất tốn kém thời gian và tiền
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
của, gồm lễ nạp thái, lễ vấn danh, nạp cát, thỉnh kỳ, nạp lễ và thân nghinh. Phải đủ 6 lễ thì hôn nhân mới thành: “lục lễ bất bị, trinh nữ bất hành”, nghĩa là không đủ 6 lễ, người con gái trinh không đi. Trong lễ cưới và đón dâu còn có một số lễ như: Lễ từ đường, lễ tế tơ hồng, lễ hợp cẩn, lễ lạy mặt. Cái gọi là “lục lễ” trong hôn nhân thường diễn ra trong tầng lớp giàu có, uy quyền… kỳ thực trong giới bình dân, nhà nghèo ít ai tuân thủ theo 6 lễ này, phổ biến người ta chỉ chú trọng đến lễ kết mối (mai mối), lễ hỏi, lễ cưới, lễ vật cưới cũng đơn giản.
Theo lời kể của một số vị cao niên ở Hương Mỹ, Minh Đức, Cẩm Sơn, Định Thủy (Mỏ Cày); Đại Điền (Thạnh Phú)… khi xưa trong ngày đưa dâu, số lượng người đưa dâu dù được thông báo trước cho nhà trai nhưng thông thường luôn tăng, bởi ngoài thành phần chính như đã báo trước thì trên đường đi mọi người có thể tháp tùng nếu họ muốn. Do vậy, dù nhà trai có chuẩn bị dự phòng thêm nhưng đôi khi vào giờ chót lại thiếu chỗ ngồi nhưng vẫn vui vẻ tiếp vì họ đến chúc mừng, chung vui! Cho nên lực lượng đưa dâu có cả những người không quen biết gì với nhà gái hoặc nhà trai.
Theo tục lệ cổ truyền, trong hôn nhân việc xem “ngày lành tháng tốt” “tuổi hạp giữa cô dâu và chú rễ” để tổ chức cưới hỏi rất quan trọng. Tuyệt đối không được tổ chức lễ cưới khi bên nhà trai hoặc gái có tang, phải chịu tang ba năm mới được cưới.
Ở Bến Tre cũng như Nam Bộ, hôn nhân trong thời phong kiến có những nét khác tục lễ cưới ở miền Bắc, ở Bến Tre có rất ít nạn tảo hôn, nếu như việc phân biệt “dân chính cư – dân ngụ cư” là một tục lệ quan trọng trong hôn nhân ở Bắc Bộ, được xem như một phương tiện hành chính để duy trì sự ổn định làng xã, chọn vợ chọn chồng phải cùng làng, Bến Tre và Nam Bộ không có quan niệm này trong hôn nhân. Có thể đây là vùng đất mới, hầu hết là dân “tứ chiếng” đến đây lập nghiệp, bản thân họ đã là những người
“tha hương cầu thực”, thế nên trên mảnh đất Nam Bộ tục lệ này đã phai nhạt đi trong hôn nhân. Tại đây cũng không có tục lệ nộp “cheo” cho làng xã nhà bên gái khi lấy vợ, mặc dù đây là tục lệ quan trọng đối với tục cưới xin ở miền Bắc.
Ở Bến Tre là vùng sông nước, nhất là ngày xưa khi đường bộ chưa phát triển, việc đón dâu, rước dâu thường di chuyển bằng phương tiện là ghe thuyền, ghe đám cưới thường được trang hoàng tươm tất đẹp đẽ, sơn phết màu sắc. Khách được mời đưa dâu thường ăn mặc đẹp, quần áo mới, che dù màu, là một nét văn hóa rất dễ thương của người dân vùng sông nước.
3.1.2- Veà tuùc leọ tang ma:
Qua tìm hiểu các tài liệu, cũng như qua khảo sát điền dã cho chúng ta thấy việc tang lễ ở Bến Tre nói chung đều dựa trên nền tảng của “Thọ – Mai – Gia Lễ”, nhưng do điều kiện tự nhiên – xã hội, do sự tiếp cận khác nhau, nên việc tang lễ đã tạo nên những nét đặc thù của cư dân trên vùng đất mới khai phá này. Tang lễ ở Bến Tre đã trở thành một trong những hoạt động văn hóa, mà nó gắn liền với đời sống tâm linh của con người trong cộng đồng xã hội.
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Từ xưa, việc tang lễ ở Bến Tre được tổ chức bằng việc tự nguyện và cộng đồng trách nhiệm trong khu dân cư. Trong thôn, ấp, xóm làng khi hay tin có người vừa qua đời, lập tức bà con chòm xóm tự báo tin cho nhau và như một lệ bất thành văn – họ nhanh chóng sẵn sàng cùng tụ họp nhau lại để giúp tang gia lo tang lễ.. Sự “chung lo” có tính chất cộng đồng thể hiện một nét đẹp nhân văn trong việc tổ chức tang lễ.
Tang lễ ở Bến Tre không có những hủ tục như phân biệt thứ bậc trong tổ chức tang lễ, đặt tên thụy hiệu, hạ tịch, phục hồn, thiết hồn bạch, thiết linh sàng, trung đồ trạm, thần phương tướng, lăn đường, gậy dong, gậy trúc…
Người chết được đặt vào quan tài (lễ nhập quang, quần áo mang theo để dưới chân. Tẩn liệm đóng nắp quan tài xong là đến nghi thức phát tang cho người chịu tang, lễ chịu tang được cử hành trước bàn thờ cạnh linh cữu của người chết, những người thân chịu tang đứng khoanh tay để chờ lạy đáp lễ người đến cúng viếng, cầu lễ. Tùy từng hoàn cảnh gia đình, có gia đình mời phường bát âm thổi kèn ban nhạc lễ đến phục vụ, có khi gia đình theo đạo phật mời thầy tụng niệm.
Sau đó là đến lễ phúng điếu, đây là nghi thức thể hiện sự tôn trọng, sự quý mến, lòng kính yêu của người hiện hữu đối với người chết, còn là nghi thức thể hiện tình cảm giữa những con người hiện hữu với nhau.
Kế đến là lễ nghi vong, là nghi thức cúng vong linh người quá cố trong thời gian diễn ra tang lễ. Sau đó đến lễ phát dẫn (lễ cáo tiền vãng, lễ cáo từ tổ tiên) và định hướng di quan. Trước lúc di quan đạo tỳ tổ chức hát đưa linh và múa phá quàng.
Hát đưa linh nghệ nhân hóa trang như viên tướng cướp, ban nhạc chuyển sang cổ bản theo lối hát tuồng, hát bội. Nghệ nhân bước vào trước linh cữu, kết hợp điệu bộ với nói lối, hát oán, hát tẩu, hát xuân nữ…
Múa phá quàng còn gọi là “đánh phá quàng”, đạo tỳ cầm roi chạy vòng quanh quan tài, múa theo điệu bộ của con nhà võ với động tác rập ràng và trang nghiêm. Hát đưa linh và múa phá quàng còn là nghệ thuật biểu diễn võ thuật phục vụ tang lễ, là sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhạc lễ với biểu diễn của nghệ nhân. Bằng điệu bộ bằng âm thanh biểu hiện tình mẫu tử, phụ tử thiêng liêng và những mất mát không gì bù đắp được khi cha mẹ qua đời, qua đó góp phần giáo dục đạo đức – tình cảm, lối sống, nhân cách của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, anh em…
Hát đưa linh và múa phá quàng còn là sự biểu hiện của tư duy sáng tạo, sự vận dụng linh hoạt của cư dân Bến Tre trong việc kế thừa tiếp thu tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại vào việc tổ chức tang lễ, nội dung của nó rất đa dạng, phong phú. Trải qua nhiều biến đổi, hát đưa linh ngày nay ít được phổ biến và đang có nguy cơ mai một, ở một số địa phương vẫn duy trì múa phá quàng và họ cố gắng nâng cao chất lượng múa phá quàng.
Ở nông thôn Bến Tre, khi xưa có tục phải xem ngày giờ rất cẩn thận để hạ huyệt chôn người chết. Sau khi chôn được ba ngày tiến hành lễ mở cửa mả, có tục cúng cơm cho người chết hàng ngày đến đúng một năm thì mới thôi, đúng 49 ngày thì mới làm tuần
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
chung thất, cúng giáp năm và sau đó hằng năm đều có lễ giỗ, thường mời thầy chùa về tuùng nieọm.
Về tang ma của người Khơme họ tổ chức đơn giản hơn người Việt, đa số người Khơme chết đều được hỏa táng. Theo tục lệ khi người chết quan tài được quàng trong nhà ba ngày, bao giờ cũng có các nhà sư tụng niệm, sau ba ngày quan tài và xác người chết được đưa vào lò thêu.
Sau khi thêu người chết, con hoặc cháu trai người quá cố phải ở lại trong chùa một ngày để tu nhằm trả ơn cho cha mẹ, ngày hôm sau về nhà. Có người phát nguyện tu một thời gian để báo hiếu, sau đó trở lại cuộc sống bình thường, có khi cũng có người ở tu luoân.
Khi thêu xong, tro xương được đặt trên khai đưa về nhà, tro xương được đặt vào cốt (lọ) có khi cất ở tháp xây trong vườn nhà, nhưng phần lớn họ thường đưa lên gửi tháp đựng cốt trên chùa.
Việc cúng kiến người chết đơn giản hơn người Việt. Đối với người chết, sau 7 hoặc 9 ngày cúng một cái thất, con cháu tổ chức lễ dâng phước cho linh hồn. Đến 100 ngày con cháu lại tổ chức thắp nhang dâng lễ cúng, giống như người Việt, quan niệm đủ 100 ngày, linh hồn có thể “tự lập cuộc sống”, sau đó cúng giáp năm và cúng giỗ hàng naêm.
Ở người Khơme cũng có trường hợp người chết được thổ táng, nhưng chỉ khi nào nhà nghèo không lo được hỏa táng, hoặc chết bất đắc kỳ tử. Người Việt cũng chịu ảnh hưởng tục hỏa táng của người Khơme, từ xưa cho đến hiện nay, cũng có trường hợp người Việt hỏa táng người chết và đưa hài cốt lên gửi trên chùa. Ngược lại người Khơme lai Việt hoặc Hoa cũng giống người Việt là khi đã hứa hôn, nếu cha mẹ qua đời, có tục để tang ba năm, sau khi mãn tang mới tiến hành hôn lễ. Tuy nhiên người Khơme chánh gốc không có tục để tang như vậy, mà tiến hành lễ cưới theo thời gian đã định.
Về tang lễ của người Hoa cư trú ở vùng đất này được tổ chức có phần giống người Việt nhiều hơn, đa số người Hoa chết được đem chôn như người Việt. Không biết tự bao giờ ở Thị xã Bến tre có một khu đất nghĩa địa (người ta còn gọi là nhị tì) là nơi chỉ chôn cất đồng bào người Hoa.
Tang lễ của người Hoa cũng giống như người Việt, người Hoa cũng xem rất cẩn thận tuổi của người chết, ngày giờ liệm và chôn cất, hướng đất khu đất để đào huyệt…
Khi xưa những gia đình người Hoa buôn bán khá giả họ mướn ban nhạc lễ và thết đãi linh đình cầu kỳ. Ở người Hoa nếu khi đám hỏi xong mà cha hoặc mẹ nhà gái chết, chú rể đến nhà gái thọ tang, sau khi cúng 100 ngày, xúc tiến làm đám cưới bình thường cũng có khi chờ xả tang mới làm lễ cưới. Nếu đám nói xong mà cha hoặc mẹ nhà trai chết thì đám cưới phải đình lại, chờ mãn tang (3 năm) mới được tổ chức cưới. Người hoa còn có tục cạo đầu chịu tang cho cha mẹ, sau khi cúng 100 ngày mới để tóc.
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Việc cúng thất và cúng giỗ không khác đồng bào Việt, nhưng ngày xưa, ở đồng bào Hoa khi cúng kiến họ đốt quá nhiều giấy tiền vàng, bạc và đồ mã, lầu, kho, hiện nay đã giảm đi nhiều.
Việc tang lễ xưa ở vùng đất Bến Tre có nhiều thủ tục rườm rà, còn nhiều bất cập. Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy tang lễ đa phần đều thể hiện được tính nhân văn, nhân đạo xã hội, không chỉ đối với người quá cố mà còn cả đối với con người hiện hữu với nhau, đồng thời còn mang tính tổ chức, cộng đồng trách nhiệm rất nhất quán và phổ biến. Ngày nay, những nghi lễ, phép tắc còn giá trị ngày càng được xã hội quan tâm gìn giữ và phát huy.
3.1.3- Phong tục lễ tết và lễ hội:
* Tết Nguyên Đán:
Tết Nguyên Đán là một tập tục cổ truyền phổ biến của dân tộc Việt Nam. Trong năm, Tết Nguyên Đán được xem là quan trọng nhất, nó còn được gọi là Tết ta (tính theo âm lịch) gọi như vậy là để phân biệt với Tết tây (tính theo dương lịch).
Sau một năm lao động vất vả, ngày Tết Nguyên Đán được xem như là ngày hội liên hoan vui nhất của người dân, là ngày cúng và trình báo với tổ tiên những thành quả sau một năm lao động, cũng là ngày ăn uống bù lại lúc làm lụng đầu tắt mặt tối, do vậy trong dân gian quan niệm “Tết” là phải “ăn Tết”.
Người dân Bến Tre cũng như người dân nhiều vùng khác họ quan niệm Tết Nguyên Đán là một sinh hoạt cộng đồng. Ngày xuân là ngày của đoàn tụ, đoàn viên, dù ai đi đâu xa bất cứ nơi nào, ngày Tết ai cũng muốn về sum hợp với gia đình, cùng nhau làm bánh tét, bánh phồng, giết gà, giết lợn để cúng tổ tiên và cùng quây quần ăn uống vui vẻ. Tết là dịp duy nhất trong năm có sự sum họp đầy đủ của gia đình.
Ở Bến Tre, nhất là ở nông thôn tính cộng đồng thể hiện ở thời điểm khoảng 22, 23 âm lịch, cứ 4 – 5 giờ sáng nghe vang vang tiếng chày “quết bánh phồng” từ đầu thôn xuống xóm dưới, nhà nhà “dần công” nhau để “cáng” bánh phồng. Các vị cao niên nói với chúng tôi: ở nông thôn khi nghe rộn rã tiếng chày quết bánh phồng và mọi người đi mua sắm quần áo mới là đã thấy Tết đến rồi.
Ở Bến Tre cũng như các vùng khác, một nét văn hóa rất đẹp trong ngày Tết là tục mừng tuổi. Ngày xưa ở Bến Tre và cả Việt Nam không có thói quen mừng sinh nhật, vì vậy tục mừng tuổi ngày tết rất thiêng liêng với người dân nơi này, trẻ nhỏ khi mừng tuổi người lớn có khi nhận được bao “lì xì”.
Ngày Tết trên bàn thờ tổ tiên dù nhà giàu hay nghèo đều có “mâm ngũ quả”
phổ biến nhất là các loại trái cây (mãng cầu, đu đủ, xoài, quýt, dừa), theo cách nói và cách nghĩ của người miền Nam hiểu là “cầu đủ xài” hay “vừa đủ xài”, nói lên một ước mơ rất khiêm tốn trong cuộc sống thường ngày. Đáng lưu ý người dân nơi đây có tục kiêng quét rác đổ đi trong ba ngày Tết, sợ hốt thần tài, lộc đổ đi.
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf