TỔNG QUAN VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI BẾN TRE
2. Đặc điểm tính cách con người Bến Tre
Về nguồn gốc dân cư, thành phần xã hội, như phần trên đã trình bày, trong các thế kỷ XVII, XVIII và cả nửa đầu thế kỷ XIX, những lưu dân người Việt di cư vào vùng Đồng Nai – Gia Định trong đó có Bến Tre, chủ yếu là những nông dân nghèo, họ đã lâm vào bước đường cùng, buộc phải rời bỏ quê hương bản quán. Họ không thể chịu đựng cảnh chiến tranh liên miên giữa họ Trịnh – Nguyễn, cảnh nghèo đói, sự áp bức bóc lột, sưu cao thuế nặng của địa chủ phong kiến, họ phải ra đi tìm nơi khác sống yên bình hơn.
Từ khi các chúa Nguyễn có chủ trương, chính sách khuyến khích khai hoang lập ấp thì làn sóng Nam Tiến của người Việt diễn ra ồ ạt hơn, tăng lên nhanh hơn, thành phần lưu dân đa dạng phức tạp hơn. Họ là những người “có vật lực” theo cách gọi của Lê Quý Đôn, được chúa Nguyễn khuyến khích đi khẩn hoang, là những nho sĩ trí thức làm nghề gia sư, dạy học, tầng lớp dưới là những người nghèo đi làm phu khai hoang, là những nông dân tự do, những binh lính do triều đình phái đi khai phá lập đồn điền, hoặc là những lính thú cứng đầu, bị đẩy vào đây để trấn miền biên ải, còn có cả những tay giang hồ phiêu bạt… Quá trình Nam tiến diễn ra nối tiếp nhau như vậy không những làm tăng nhanh dân số, mà còn là yếu tố rất quan trọng bổ sung những tính cách, năng lực mới cho cộng đồng người Việt ở Nam Bộ nói chung, Bến Tre nói riêng. Trong thành phần cư dân ở đây còn có người Hoa, là dân thứ nhà Minh, không chịu khuất phục nhà Thanh, mà chạy sang đây lánh nạn cư trú làm ăn.
Như vậy, dù là thành phần nào chăng nữa, thì tất cả cũng điều có chung mục đích là khát vọng tự do, muốn thoát khỏi sự nghèo đói, sự áp bức của địa chủ phong kiến.
Những cuộc di dân đó tự nó đã quy tụ những tính cách và năng lực độc đáo của lớp tiền nhân trong công cuộc mở đất. Những tính cách, năng lực ấy khi vào vùng đất mới chịu sự tác động của điều kiện tự nhiên, xã hội nơi này càng phát triển mạnh mẽ hơn, càng được tôi luyện để hiên ngang hơn, cứng cỏi hơn.
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Những người nông dân đến đây cũng là những con người ít nhiều có đầu óc mạo hiểm, chấp nhận mọi nguy hiểm phía trước, không sợ khó khăn luôn tỏ ra dũng cảm, hoàn cảnh buộc họ phải liều, cho nên họ coi tính mạng nhẹ như lông hồng. Khi vào vùng đất mới, tuy đất đai bát ngát phì nhiêu, nhưng họ đã phải chạm trán với hoang sơ, rừng rậm âm u, đầm lầy đầy thú dữ, muỗi mồng, rắn rết, sơn lam chướng khí, những miền đất hầu như chưa có dấu chân người, với cảnh “rùa bò dưới đất khỉ ngồi trên cây”, “dưới sông sấu lội trên bờ cọp đua”, “cảnh nước mặn đồng chua, hổ mây cá sấu thi đua vẫy vùng”. Trong điều kiện trang bị vật chất lúc ấy còn nghèo nàn, từ phương tiện, công cụ sản xuất, vốn liếng đến cả chiếc mùng ngủ để tránh muỗi, muốn biến vùng đất hoang vu này thành đồng ruộng, vườn tược cây trái trù phú không đơn giản và dễ dàng, cho nên con người không thể không rèn luyện ý chí kiên cường bất khuất, không bao giờ chịu lùi bước trước trở ngại thiên nhiên, dần trở nên hiên ngang cứng cỏi, có như thế mới chế ngự khai thác được thiên nhiên đầy ác liệt ấy. Cuộc chiến đấu đầy gian lao, khổ cực mà phần thắng lợi bao giờ cũng dành cho những ai có nghị lực, có bản lĩnh, có ý chí kiên cường và đầu óc sáng tạo. Đây cũng là những đức tính mà trong quá trình mở mang vùng đất mới đầy dẫy khó khăn nguy hiểm đào luyện nên.
Trong thành phần di dân, trừ một số ít người có tiền của, có quyền thế, theo chủ trương khuyến khích của nhà Nguyễn, họ bỏ tiền chiêu mộ dân nghèo đi khẩn hoang để làm giàu, phần lớn những người tha phương là nông dân, thợ thủ công nghèo khổ, những người bất bình oán ghét sự bóc lột, đói rách, khốn cùng phải bỏ xứ ra đi. Những người vào đây là người “Tứ chiếng” “ba họ mười làng”, thân tộc máu mủ đơn côi. Đứng trước thiên nhiên xa lạ, khắc nghiệt đến nỗi “con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh”, con người không thể không dựa vào nhau, nương tựa với nhau, giúp đỡ đùm bọc nhau để mưu cầu tạo dựng cuộc sống, bởi thế họ nhanh chóng kết nghĩa với nhau trong tình tương thân, tương ái, thật lòng giúp đỡ nhau, sống chết có nhau, họ ra đi tìm cái sống trong muôn ngàn cái chết, nên họ rất chuộng nghĩa khí, trọng nghĩa khinh tài, quý trọng tình bè bạn, thấy sự bất bình chẳng tha. Tính bao dung, cởi mở, bộc trực, hòa đồng, tinh thần trọng nghĩa, nhân ái, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa đó đã nhanh chóng nảy sinh từ hoàn cảnh cụ thể đấu tranh để sinh tồn của những lưu dân đầu tiên vào khai phá đất Nam Bộ, trong đó có Bến Tre, chứ không phải về sau khi mà kinh tế – xã hội phát triển, có chăng là thế hệ đi sau càng phát huy tốt đẹp hơn.
Những người di dân nghèo khổ, họ từng trải qua cái nghèo, cái cực, sự đói rét…
như thế nào, cho nên ở họ còn có đức tính đáng quý nữa là rất hiếu khách. Người Việt vào đây họ đã làm rơi rụng dần cái cầu kỳ giả tạo của lối sống phong kiến, họ tiếp thu, sản sinh những tính cách cho phù hợp với vùng đất mới, chính cái phóng túng, nhẹ dạ, đôn hậu, hồn nhiên, chân chất, không địa vị đẳng cấp, mến khách là một nét rất đẹp trong tính cách của người dân vùng đất mới đã có từ lâu đời. Điều này được Trịnh Hoài Đức ghi chép trong Gia Định thành thông chí khá cụ thể: “Ở Gia Định có người khách đến nhà đầu tiên gia chủ dâng trầu cau, sau dâng tiếp cơm bánh tiếp đãi trọng hậu, không kể người thân sơ quen lạ tông tích ở đâu, ắt đều thân nạp khoản đãi; cho nên người đi chơi
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
không cần đem tiền gạo theo, mà lại có nhiều người lậu xâu trốn thuế đi đến xứ này ẩn núp, bởi vì có chỗ dung dưỡng vậy” [20,11,12].
Nói về tính hào phóng, mến khách, có ý kiến cho rằng vì thiên nhiên nơi đây trù phú hào phóng, làm ăn dễ, tiền của lương thực như ở đầu bàn tay nên tạo cho con người có tính hào phóng. Nhưng theo quan niệm của người viết luận văn này cho rằng, tính hào phóng, mến khách do xuất phát từ tình cảm những người cùng cảnh ngộ, nó có một chút gì đó của cái gọi là “nhường cơm xẻ áo”, “thương người như thể thương thân”. Sự hào phóng, mến khách còn được pha trộn bởi tính nghĩa hiệp, trọng nghĩa hơn tiền tài, danh vọng, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa, không bị ràng buộc bởi những quan niệm hẹp hòi, sơ cứng của nho giáo. Mặt khác, buổi đầu vào đây, có một thời gian dài cơ chế pháp luật thuế khóa và quản lý hành chánh của các chúa Nguyễn còn lỏng lẻo, nên buổi đầu ấy con người ở đây họ cảm thấy mình được tự do, được giải phóng về ý thức, con người tha hồ vùng vẫy, tự do làm ăn, tự do khoáng đạt từ nếp nghĩ, nếp sống, đi lại… đã nhanh chóng nảy nở trong tính cách người nông dân nơi đây, tạo cho họ có lối sống phóng khoáng, cởi mở, chân tình, giản dị như chính cuộc sống của họ, ít bắt gặp phong cách văn chương bác học, cung đình cầu kỳ như ở miền Bắc, miền Trung. Có câu: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” là tiêu chuẩn đạo lý làm người, trở thành phương châm xử thế của nhiều người.
Qua quá trình lao động gian khổ, con người càng thiết tha gắn bó với đất đai, ruộng vườn do bàn tay khối óc của họ làm nên, đó còn là cơ sở hun đúc tình yêu quê hương đất nước.
Lòng yêu nước của con người ở vùng đất này, hòa cùng với tính bất khuất kiên cường, hiên ngang cứng cỏi, nghĩa hiệp, phóng khoáng trọng nghĩa khinh tài, thấy sự bất bằng chẳng tha, không bao giờ chịu lùi bước trước thiên nhiên, chính những điều đó đã hình thành ở họ tính cách đáng quý là không bao giờ chịu luồn cúi trước sức mạnh phi nghĩa. Không biết từ bao giờ câu ca dao đã đút kết tính cách của người Nam Bộ trong đó có người Bến Tre:
Trời sinh cây cứng lá dai
Gió lay mặc gió chiều ai chẳng chiều
(Ca dao Nam Bộ)
Trong cái đẹp của những tính cách trên, người ta dễ dàng bắt gặp ở nhiều tác phẩm của tất cả các thể loại văn học ở đây, rất phổ biến những câu chuyện truyền tụng ca ngợi về những gương tiết nghĩa, anh hùng khí khái, lên án những kẻ phản bội hèn nhát, bất nhân, bất nghĩa. Nguyễn Đình Chiểu với truyện thơ Lục Vân Tiên, tác phẩm đề cập đến vấn đề đạo nghĩa ở đời, người Nam Bộ rất thích và ca ngợi Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu, vì nhân vật ấy đầy lòng nghĩa hiệp, khí khái rất gần gũi với cuộc sống và tâm hồn của họ. Bên cạnh Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu còn xây dựng hình ảnh ông Ngư, ông Tiều, ông Quán, những người bất hợp tác không đội trời chung với kẻ thù, mang nặng tấm lòng với nước với dân trong tác phẩm lớn cuối đời của cụ Đồ Chiểu: Ngư tiều y thuật vấn đáp. Đứng bên cạnh Nguyễn Đình Chiểu còn có Phan Văn Trị “ngòi bút
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
của ông trở thành một ngọn giáo, nhằm thẳng vào bọn bán nước, đánh rất trúng, rất đau, khiến đối phương không cựa được” [6,14] ông đã nói lên tiếng nói của người dân vùng đất này, đã tỏ thái độ bộc trực, khinh bỉ đến gay gắt đối với hành động của những kẻ bán nước, ông đã mắng những kẻ đó là đứa ngu, thằng hoang, đứa dại trót đời già cũng dại, khí phách ấy đã được người dân Nam Bộ phát huy bằng nhiều cách.
Chính vì không lùi bước trước trở ngại thiên nhiên, không luồn cuối trước sức mạnh xã hội phi nghĩa, bởi thế trong thời phong kiến, không hiếm những người nông dân Nam Bộ trong đó có Bến Tre bị dồn đến bước đường cùng, cả xóm, cả nhà, có khi cá nhân đã từng “kéo phảng”, “dao phay” chém chết địa chủ, phú hào kẽ đã chiếm hết ruộng đất của họ, chém bay đầu quân ăn cướp ấy, lấy mạng đổi mạng, không phải là chuyện hiếm hoi trên mảnh đất này.
Tinh thần “trọng nghĩa” đã biến thành tinh thần đại nghĩa cứu nước khi thực dân Pháp xâm lược đất nước, tinh thần yêu nước của nhân dân Nam Bộ nói chung Bến Tre nói riêng đã biểu lộ một thái độ hiên ngang, xả thân vì nghĩa khí, khi cần họ có thể chiến đấu “một mất một còn” với kẻ thù cướp nước.
Chúng ta hiểu được tính cách nổi bật của người nông dân Nam Bộ nói chung, Bến Tre nói riêng, để chúng ta càng thấy rõ hơn công lao của người xưa, những phẩm chất tốt đẹp của họ, cao quý biết chừng nào tấm lòng của những người nặng tình với quê hương đất nước đến thế.