Tình hình chính trò

Một phần của tài liệu Vùng đất bến tre trong các thế kỷ xvii xix (Trang 32 - 40)

2.1- Sự thay đổi cương vực hành chính từ 1757 1867:

Năm 1757, vùng đất Bến Tre đầu tiên được thành lập là tổng Tân An thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, Phủ Gia Định, với khoảng gần một trăm thôn trại.

Năm 1802, triều Nguyễn thời vua Gia Long đổi Gia Định Phủ thành Gia Định Trấn, tổng Tân An thuộc Vĩnh Trấn Dinh của Gia Định Trấn.

Đến năm 1808, Gia Long năm thứ 7, châu Định Viễn được thăng lên thành phủ Định Viễn, tổng Tân An được đổi thành huyện Tân An thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh. Huyện Tân An có hai tổng: Tân Minh và An Bảo với 135 thôn.

Đời vua Minh Mạng năm thứ 4 (1823), chia đất huyện Tân An làm hai huyện Tân Minh (cù lao Minh) và Bảo An (cù lao Bảo), đặt phủ Hoằng An cai quản 2 huyện này.

Minh Mạng năm thứ 13 (1832), trấn Vĩnh Thanh đổi lại là tỉnh Vĩnh Long, phủ Hoằng An (phần đất Bến Tre) vẫn thuộc về tỉnh Vĩnh Long. Lúc này tỉnh Vĩnh Long chia lập thành 3 phủ: phủ Định Viễn, phủ Hoằng An và phủ Lạc Hóa.

Năm Minh Mạng thứ 18 (1837), phủ Hoằng An lại chia thành 2 phủ: Hoằng Đạo (cù lao Bảo) và Hoằng An (cù lao Minh). Phủ Hoằng Đạo có 2 huyện: Bảo Hựu và Bảo An, phủ Hoằng An có 2 huyện: Tân Minh và Duy Minh.

Đời Thiệu trị năm thứ 4 (1844) lại đổi tên phủ Hoằng Đạo thành phủ Hoằng Trị, phủ Hoằng An vẫn giữ y như cũ.

Đến đời vua Tự Đức năm thứ 4 (1851), hai phủ hợp nhất thành một phủ lấy tên là phủ Hoằng Trị gồm cả 4 huyện, 152 thôn ở 2 cù lao Bảo và Minh trực thuộc tỉnh Vĩnh Long cho đến khi thực dân Pháp chiếm đóng (1867).

Về cù lao An Hóa (huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre sau này):

Cù lao An Hóa khi xưa là vùng đất phía cực Nam của tỉnh Định Tường, có địa giới giáp sông Ba Lai, về sau là một phần đất của Bến Tre, từ thế kỷ XVIII có sự thay đổi như sau:

Năm 1781, cù lao An Hóa thuộc tổng Kiến Hòa, huyện Kiến An, trấn Định Dinh.

Năm 1808, vùng này thuộc tổng Hoà Bình, huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, trấn Định Tường.

Đến đời vua Minh Mạng thứ 13 (1832), trấn Định Tường đổi làm tỉnh Định Tường với 2 phủ và 4 huyện, huyện Kiến Hòa được giữ y như cũ, cù lao An Hóa với 2 tổng Hoà Quới và Hòa Thinh vẫn thuộc huyện này.

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ thì cù lao An Hóa vẫn còn là đất của tỉnh Định Tường. Còn bên này sông Ba Lai, cù lao Bảo và Minh là vùng đất độc lập thuộc phủ Hoằng Trị tỉnh Vĩnh Long, một trong 3 tỉnh miền Tây còn dưới sự cai trị của triều đình nhà Nguyễn.

Cù lao Minh và cù lao Bảo thuộc phủ Hoằng Trị tỉnh Vĩnh Long và cù lao An Hoá tỉnh Định Tường về sau là những bộ phận hợp thành tỉnh Bến Tre.

2.2- Sự thay đổi cương vực hành chính từ 1867 về sau:

Sau khi chiếm được Nam Kỳ vào năm 1867, chính phủ Pháp tiến hành tổ chức bộ máy cai trị ở Nam Kỳ, biến Nam Kỳ thành đất thuộc địa.

Năm 1867 tỉnh Vĩnh Long chia thành 3 địa hạt: hạt Vĩnh Long; hạt Lạc Hóa; hạt Hoaèng Trò” [14,88].

Phủ Hoằng Trị (Bến Tre) của tỉnh Vĩnh Long đổi thành địa hạt Hoằng Trị với 26 tổng, 192 làng, có 4 huyện nằm trên địa bàn 2 cù lao Minh và cù lao Bảo dưới quyền cai trị trực tiếp của một viên tham biện hay còn gọi là thanh tra hành chính người Pháp (Inspecteur), lỵ sở đặt tại Bến Tre.

Tháng 12/1867, hạt Hoằng Trị lại chia ra làm 2 sở tham biện Bến Tre và Mỏ Cày. Người Pháp đặt hai sở tham biện tại làng An Hội và tại Mỏ Cày để cai trị phần đất hai cù lao Bảo và Minh hiện nay.

Năm 1871, chính quyền của người Pháp lại quyết định sát nhập 2 sở tham biện Bến Tre và Mỏ Cày thành sở tham biện Bến tre. Ngày 5/6/1871, chúng dời sở tham biện tại làng An Hội (Bến Tre) về Mỏ Cày và đến ngày 2/9/1871, chúng lại dời về làng An Hội (tức thị xã Bến Tre ngày nay) về phía cù lao An Hóa, người Pháp cũng sắp xếp lại các sở tham biện, khi ấy cù lao An Hóa thuộc về sở tham biện Mỹ Tho.

Đến năm 1876, Pháp đã bãi bỏ hẳn cấp tỉnh cũ (dù lúc này chỉ còn là danh nghĩa tượng trưng). Ngày 5/1/1876, tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp tại Nam Kỳ ra nghị định phân chia Nam Kỳ thành vùng hành chính bao gồm 4 khu vực (Sài Gòn; Mỹ Tho;

Vĩnh Long và Bát Xác. Khu vực Vĩnh Long gồm có 4 hạt: Vĩnh Long; Bến Tre; Trà Vinh và Sa Đéc.

Lỵ sở của hạt Bến Tre (Bến Tre) đặt tại hữu ngạn sông Bến Tre, nơi có Tòa Bố, Bưu Điện, trường Tiểu học và chợ Bến Tre. Người Pháp lấy tên đất nơi đặt lỵ sở làm tên hạt và sau này là tên tỉnh: tỉnh Bến Tre, khi ấy cù lao An Hóa vẫn còn là vùng đất của Mỹ Tho với 2 tổng Hòa Thinh và Hòa Quới.

Năm 1899, các hạt đổi thành tỉnh, toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh chia ra làm 20 tỉnh.

Vĩnh Long cũ thời triều Nguyễn nay là 3 tỉnh: Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh. Việc đổi từ hạt lên thành lập tỉnh, do quyết định của nhà cầm quyền Đông Dương kể từ ngày 20/12/1899 và quyết định này có hiệu lực pháp lý bắt đầu từ ngày 1/1/1900.Như vậy, hạt Bến Tre gồm có 2 cù lao Minh và cù lao Bảo nay chính thức thành đơn vị hành chính cấp tỉnh bao gồm 21 tổng và 144 làng.

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Từ năm 1899 đến năm 1945, Bến Tre là một tỉnh với hai cù lao Minh và cù lao Bảo, từ năm 1948 sát nhập cù lao An Hóa.

Từ đây tỉnh Bến Tre bao gồm 3 cù lao: cù lao Minh, cù lao Bảo và cù lao An Hóa. Như vậy, Bến Tre gồm ba dải cù lao nằm kẹp giữa các sông lớn của dòng sông Cửu Long.

Ngày 30/4/1975, Bến Tre cùng cả nước độc lập. Từ năm 1976 đến nay Bến Tre là một trong các tỉnh ở khu vực miền Tây Nam Bộ.

Bảng tóm tắt địa danh – địa giới hành chính vùng đất Bến Tre các thời kỳ lịch sử:

Năm Tên gọi vùng đất Bến Tre

lúc ấy Đơn vị hành chính

trực thuộc Ghi chú

1757

Đất Trà Vang (Trà Vinh- Bến Tre) và Ba Thắc (Sóc Trăng – Bạc Liêu) sáp nhập vào bản đồ nước Nam

Các chúa Nguyễn đã đặt xong cơ sở hành chính khắp địa bàn Nam Bộ

1779 Toồng Taõn An

Chaõu ẹũnh Vieón, dinh Long Hoà, phuû Gia ẹũnh

Vũ trớ cuỷa hai cuứ lao Minh và Bảo

1808 Huyeọn Taõn An Phuỷ ẹũnh Vieón, traỏn Vónh Thanh, Gia Định Thành

Gồm có 2 tổng: Tân Minh và An Bảo

1823 Phuû Hoaèng An Traán Vónh Thanh

Tổng thành huyện, có 2 huyện: Tân Minh, Bảo An

1832 Phuỷ Hoaống An Tổnh Vúnh Long

(một trong 6 tỉnh Nam Kyứ)

Gồm có 2 cù lao Minh và Bảo

1837 Phủ Hoằng An và phủ

Hoằng Đạo Tỉnh Vĩnh Long

1844 Phủ Hoằng Trị và phủ

Hoaống An Tổnh Vúnh Long

1851 Phủ Hoằng Trị Tỉnh Vĩnh Long Gồm 4 huyện: Bảo

Hựu, Bảo An, Tân Minh, Duy Minh

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

1867

Sở Tham Biện Bến Tre (Inspection) và sở Tham Biện Mỏ Cày

Trong số 24 Sở Tham Biện ở Nam Kyứ

Gồm 2 cù lao Minh và Bảo

1871 Sở Tham Biện Bến Tre Trong số 18 Sở Tham Biện ở Nam Kyứ

Sở Tham Biện Mỏ Cày bị bãi bỏ cùng 6 sở Tham Biện khác

1876 Hạt Bến Tre

(arrondissement)

Thuộc hạt III, tức hạt Vĩnh Long (Criconscription)

1900 Tỉnh Bến Tre Cù lao An Hóa vẫn

thuộc tỉnh Mỹ Tho 1945 - Trước CMT8, tỉnh Bến Tre

- Từ tháng 9, tỉnh Đồ Chiểu

- Nam Kyứ - Nam Bộ

1948 Tỉnh Bến Tre Nam Bộ

Cù lao An Hóa, 6 xã phía chót cù lao Minh nhập vào tỉnh Bến Tre

1956 - Tỉnh Kiến Hòa - Tổnh Beỏn Tre

- Nam phaàn (chính quyền Sài Gòn) - Nam Bộ (cách mạng)

Tỉnh Bến Tre gồm cả 3 cù lao An Hóa, Minh và Bảo

1975 Tổnh Beỏn Tre

Trong soỏ 40 tổnh thành cả nước, một trong các tỉnh ở miền Tây Nam Bộ

Từ 1/5/1975

2000 Tổnh Beỏn Tre Trong soỏ 61 tổnh

thành cả nước 2.3- Tổ chức chính quyền:

Năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên quyết định thải hồi quan lại do chúa Nguyễn cử vào, tiến hành cải tổ bộ máy chính quyền.

* Ở Trung ương: mỗi dinh có 3 ty:

- Ty xá sai: giữ việc giấy tờ, kiện cáo do đô tri và ký lục đứng đầu.

- Ty tướng thần: coi việc thu thuế và phát lương bổng cho quan lại, quân lính các dinh do cai bạ đứng đầu.

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

- Ty lệnh sử: giữ việc tế tự, lễ tiết và phát lương cho quân lính ở chính dinh do Nha Úy đứng đầu.

Đến đời Nguyễn Phúc Khoát, các ty được thay bằng các bộ: ty xá sai thành bộ Lại, bộ Hình, ty Lệnh Sử thành bộ Lễ, ty Tướng Thần thành bộ Hộ. Thêm hai bộ mới là bộ Công và bộ Binh, còn cả một hệ thống quan lại chuyên việc thu thuế gọi là Bản Đường Quan.

* Ở Địa phương: Đứng đầu dinh là trấn thủ, dưới là tri phủ, tri huyện ở các xã có hai loại quan: tướng thần và xã trưởng (tùy theo xã lớn hoặc nhỏ mà có số chức định tương ứng).

Các nhà sử học nhận xét: Bộ máy quan lại chưa phải là một tổ chức chính quyền đầy đủ mà chỉ mang ý nghĩa tài chính, tổ chức thu thuế cho chúa Nguyễn.

Các chúa Nguyễn lần lượt bành trướng lãnh thổ xuống phía Nam, thôn tính Champa, xâm lấn Chân Lạp, tình hình cứ thế tiếp diễn cho đến 1757, cả vùng đất Thủy Chân Lạp hoàn toàn thuộc chúa Nguyễn. Năm 1757, đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), vùng Bến Tre mới được sáp nhập vào dinh Long Hồ, tức vào bản đồ nước Nam.

Thời bấy giờ, ở phía hữu ngạn rạch Bến Tre (thuộc cù lao Bảo, gần rạch Cá Lóc hiện nay), chúa Nguyễn cho quan địa phương cất cái trạm để thu thuế và kiểm soát thuyền bè qua lại trên sông. Trạm này được gọi là “Bến Thuế” (hiện nay nơi này là Bến Lỡ tại chợ Bến Tre).

Hệ thống bản đường quan của bọn quan lại thu thuế được phép thu thêm một số tiền gạo để làm ngụ lộc. Chính sách cấp bổng lộc của chúa Nguyễn như vậy càng thúc đẩy cho bọn quan lại các địa phương tha hồ đục khoét, sách nhiễu nhân dân.

Năm 1732, đặt châu Định Viễn, lập dinh Long Hồ, năm 1756 đặt Mỹ Tho vào châu Định Viễn, năm 1757 đặt đạo Đông Khẩu, Tân Châu và Châu Đốc.

“Tháng 10 mùa đông năm Kỷ Hợi (1779), Nguyễn Aùnh cho họa địa đồ chia cắt địa giới 3 dinh Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định) và Long Hồ (Vĩnh Long, An Giang) cho liên lạc nhau, nhân đó lấy địa bàn “tọa lạc tại xứ Mỹ Tho đặt làm dinh Trường Đồn, để lỵ sở Giồng Cai Yến [20,17]. Bấy giờ Bến Tre là tổng Tân An, châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định, vị trí tổng Tân An là vị trí của hai cù lao Bảo và Minh sau này.

Tiếp quản sự nghiệp dòng họ từ các chúa Nguyễn (từ 1558 đến 1776) Nguyễn Aùnh sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn đã lên ngôi hoàng đế năm 1802, niên hiệu là Gia Long, đánh dấu sự khôi phục nền thống trị của dòng họ Nguyễn. Các vua Nguyễn xây dựng nhà nước theo thiết chế quân chủ chuyên chế, tập trung mọi quyền hành trong tay nhà vua. Để thống nhất quyền hành từ triều đình xuống tới xã thôn, các vua Nguyễn tiến hành phân chia lại các khu vực hành chính khác hẳn trước, định lại bản đồ trong nước và tổ chức một hệ thống quan lại chằng chịt ở các địa phương, bằng cách dựa vào tầng lớp

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

địa chủ phú hào ở nông thôn để tổ chức ra một hệ thống cai trị chặt chẽ hơn ở các xã thoân.

Vua Nguyễn đặt chức tổng trấn và phó tổng trấn để cai trị mọi việc, trông coi cả năm trấn. Ở các trấn thì đặt các quan lưu trần hay là quan trấn thủ, quan cai bạ và quan ký lục để cai trị trong trấn. Trấn lại chia ra làm phủ, huyện đặt dưới quyền tri phủ, tri huyện. Ba vị tổng trấn trong thời Gia Long mà chúng ta được biết qua các tài liệu lịch sử để lại đó là:

- Kinh môn quận công: Nguyễn Văn Nhân từ năm 1804 đến 1805 - Chưởng tả quân Lê Văn Duyệt từ 1805 – 1815

- Kiến chương quận công: Nguyễn Huỳnh Đức từ 1816 – 1819 [49,22]

Sang thời Minh Mạng, tính chất chuyên chế phát triển cao độ. Bắc Thành và Gia Định thành bị bãi bỏ cả nước được chia làm 29 tỉnh (sau lại chia thêm thành 31 tỉnh), miền Nam Việt Nam có 6 tỉnh (lục tỉnh): Gia Định; Biên Hòa; Vĩnh Long (Vĩnh Thanh cũ); Định Tường; An Giang; Hà Tiên, từ đây Vĩnh Thanh được gọi là tỉnh Vĩnh Long.

Đứng đầu mỗi tỉnh là một quan Tuần phủ, dưới quan Tuần phủ có Bố chánh, Aùn sát, Lãnh Binh. Bố chánh sứ đảm nhiệm việc hộ, Án sát sứ là chức quan coi việc hình án kiêm cả việc trạm dịch, bưu tuyến, là việc chuyển giao thư tín công văn. Phụ trách liên tỉnh (2-3 tỉnh) có một quan Tổng đốc. Liên tỉnh Định Tường – Vĩnh Long có một vị quan tổng đốc quản trị (gọi là tổng đốc Long Trường)

Đến triều vua Tự Đức, tỉnh Vĩnh Long (trong đó có Bến Tre) ranh giới vẫn giữ như cũ, chỉ có vài thay đổi nhỏ không đáng kể so với thời vua Thiệu Trị.

Năm 1850, vua Tự Đức đặt thêm chức Kinh lược đại sứ Nam Kỳ để quản lý các tỉnh thay mặt cho triều đình trông coi việc cai trị miền Nam, kiểm soát các Tổng đốc, Tuần phủ và tất cả các quan kiêm quyền Tổng đốc Gia Định – Biên Hòa và Tổng đốc Vĩnh Long – An Giang. Đến năm 1851, Phan Thanh Giản được cử giữ chức quan Kinh lược phó sứ, làm phụ tá cho Nguyễn Tri Phương.

Những quan chức đứng đầu tỉnh Vĩnh Long lúc đó là Tổng đốc Trương Văn Uyển, Bố Chánh Lê Đình Đức, Aùn Sát Võ Doãn Thanh, Lãnh Binh Tôn Thất Thoan…

trong coi mọi việc trong tỉnh. Đến tháng 9 năm 1865, Phan Thanh Giản được cử làm Kinh lược đại thần ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long – An Giang – Hà Tiên), trụ sở của Phan Thanh Giản đặt tại thành Vĩnh Long. Quan Đốc học tỉnh Vĩnh Long lúc đó là Nguyễn Thông, người thân cận với Phan Thanh Giản và có quan hệ mật thiết với nhiều trí thức, sĩ phu yêu nước khác.

Tóm lại, khi đến thời Minh Mạng, hệ thống chính trị của nhà Nguyễn là một thiết chế quân chủ chuyên chế hoàn chỉnh kiểu phương Đông. Mọi quyền hành trong triều cho đến địa phương đều tập trung trong tay nhà vua.

Năm 1867, Pháp chiếm Vĩnh Long, thực dân Pháp tiến hành việc sắp xếp tổ chức và triển khai điều tra nắm tình hình thực trạng của tỉnh để lập bộ máy cai trị. Vĩnh Long

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

lúc đó có 3 huyện: Vĩnh Long, Lạc Hóa, Hoằng Trị, huyện lỵ Hoằng Trị đặt tại Bến Tre, lúc đó có 26 tổng, 192 làng.

Tháng 1 năm 1867, tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp là đô đốc Duperre, phân chia Nam Kỳ thành bốn khu vực hành chính lớn là: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Xác… khu vực Vĩnh Long gồm có 4 hạt: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh và Sa Đéc.

Trên hết Pháp đặt là chức Thống Đốc, thứ là Thanh Tra hành chánh và chánh trị.

Hành chánh địa phương thì có: Tỉnh trưởng, quận trưởng, cai, phó tổng, ban hội tề (tức hội đồng hương chánh hay hội đồng xã).

Chính phủ Pháp đặt khu vực hành chính mới Tỉnh và Tham Biện. Năm 1867, sở Tham Biện ở Bến Tre đầu tiên đặt tại tả ngạn rạch Bến Tre, sau đó dời qua hữu ngạn.

Trung úy hải quân Pháp tên De Champeaux là viên Tham Biện đầu tiên.

Tháng 12 năm 1867, người Pháp chia sở Tham Biện Bến Tre làm hai: sở Tham Biện Bến Tre (ở cù lao Bảo), sở Tham Biện Mỏ Cày (ở cù lao Minh). Viên tham biện đầu tiên ở Mỏ Cày là trung úy hải quân tên Sylvestre.

Năm 1871, chỉ còn một sở tham biện Mỏ Cày, chánh tham biện tên là Eymard Rapine, phó tên là Moty [76,35].

Nghị định ngày 2/9/1871 của Duperre dời hạt lỵ của Bến Tre – Mỏ Cày về Bến Tre vĩnh viễn. Từ đây hạt lỵ Bến Tre đặt luôn tại Bến Tre (cù lao Bảo).

Năm 1876, Pháp bãi bỏ khung hành chính phủ huyện và thay bằng cấp địa hạt.

“Hạt Bến Tre có lỵ sở đặt tại Bến Tre, nơi có tòa bố”, bưu điện, trường tiểu học, chợ chính [14,91].

Ngày 20 tháng 12 năm 1899, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, chính thức đổi tiểu khu thành tỉnh, đồng thời thay chức chủ tham biện bằng chức quan chủ tỉnh và phân chia Nam Kỳ lục tỉnh ra làm 20 tỉnh. Theo đó 4 hạt của khu vực hành chính Vĩnh Long cũ được tách ra thành 4 tỉnh tương ứng: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre và Sa Đéc.

Chính thức thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 1900. “Hội đồng tiểu khu” cũng được đổi tên gọi là “Hội đồng hàng tỉnh”. Ủy viên hội đồng hàng tỉnh là các tri huyện, tri phủ, đốc phủ sứ, đứng đầu là quan chủ tỉnh. Tỉnh trưởng Bến Tre (1897-1899) là người Pháp tên Bos.

Như vậy, về chính trị, thực dân Pháp đã từng bước đặt sự nô dịch và chia cắt nước ta, biến Nam Kỳ thành thuộc địa, chúng lấy Nam Kỳ làm bàn đạp để sau đó đánh chiếm cả nước Việt Nam ta. Cầm đầu bộ máy cai trị đều là người Pháp, giai cấp địa chủ phong kiến không còn một mình thống trị xã hội nữa, mà nó đã biến thành một công cụ của chủ nghĩa tư bản thực dân.

2.4- Tổ chức quân đội:

Trong việc bố trí lại dân cư, đẩy mạnh việc di dân khẩn hoang lập ấp, các chúa Nguyễn xem việc xây dựng lực lượng quân đội là điều quan trọng. Việc đánh nhau với họ Trịnh đã tạo điều kiện cho chúa Nguyễn tập trung lực lượng củng cố địa bàn, mở rộng

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Một phần của tài liệu Vùng đất bến tre trong các thế kỷ xvii xix (Trang 32 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(144 trang)