Tình hình kinh teá

Một phần của tài liệu Vùng đất bến tre trong các thế kỷ xvii xix (Trang 40 - 57)

Khi đặt chân đến nơi đây, những lưu dân xưa đã sớm phát hiện những thuận lợi, đồng thời tính chất khắc nghiệt của vùng cù lao còn ngập nước, nên người xưa đã biết tập trung khai phá theo phương thức: bám đất giồng, từ thế đứng trên đất giồng cư dân tiến hành khai hoang phá rừng mở ruộng cấy lúa, lập vườn, tiến xa hơn đi tới chinh phục các vùng rừng rậm còn đang ngập nước, kết hợp khai thác đất liền, bờ biển, cồn bãi theo ven rạch, triền sông, mở ra nhiều nghề trong nông nghiệp, từ rất sớm đã tạo ra một vùng trồng trọt đa canh, đa dạng, từng bước mở rộng lưu thông và trao đổi sản phẩm với những nơi khác.

3.1.1- Ngheà troàng luùa:

Trên mảnh đất khai phá được, người dân đã trồng nhiều loại cây khác nhau tùy theo điều kiện đất đai từng nơi trong vùng, trong các loại cây thì cây lúa là loại cây trồng chính.

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Cư dân ở vùng đất Bến Tre cũng áp dụng những kỹ thuật canh tác giống như lưu dân ở nhiều vùng khác thuộc Đồng Nai – Gia Định đối với hai loại ruộng lúa mới khai thác: một loại ruộng ở nơi cao như ven các giồng thường được gọi là “Sơn điền” (ruộng núi); còn loại ruộng ở nơi trũng thấp, ngập nước vào mùa mưa thì được gọi là “Thảo điền” (ruộng cỏ). Lúc mới khai phá, chân giồng là nơi cư dân làm ruộng lúa và cư trú, về sau theo đà gia tăng dân số, diện tích canh tác lúa được mở rộng đến cả những cánh đồng thấp trũng, sình lầy. Trịnh Hoài Đức đã ghi chép lại cách khai khẩn hai loại ruộng trên như sau: “Đối với ruộng núi, lúc đầu khai khẩn thì đốn chặt cây cối, đợi cho khô đốt làm phân tro, đến khi mưa thì trồng lúa, không cần cày bừa, dùng lực ít mà được bội lợi. Cứ sau 3,4 năm thì đổi làm chỗ khác… cũng là phương pháp “đao canh hoả nậu” (đốt cho cháy cây cỏ rồi trồng lúa). Còn đối với loại ruộng cỏ (thảo điền), ruộng này lùng lác, bùn lầy, lúc nắng khô nứt nẻ như mu rùa, có hang hố sâu lớn, phải đợi có nước mưa đầy đủ dầm thấm, nhiên hậu mới hạ canh, mà trâu cày phải lựa con nào có sức mạnh, móng chân cao mới kéo cày được, nếu không vậy thì dễ ngã ngập trong bùn lầy không đứng dậy nổi [20,30])

Ở trấn Vĩnh Thanh (trong đó có vùng đất Bến Tre) toàn là ruộng có bùn sâu, mùa mưa thì lầy thụt, mùa nắng thì khô nứt. Là ruộng chằm không dùng trâu cày được, đợi đến khi cuối mùa hạ sang mùa thu nước mưa đầy tràn chặt phá cỏ lác, cỏ năn, bừa cỏ đi, be đắp làm bờ, trang đất rồi cấy mạ. Trịnh Hoài Đức có viết: “Ruộng này tốt, nên một hộc lúa giống, thì thu hoạch được 300 hộc. Còn ruộng cày trâu ở trấn Phiên An, Biên Hòa, một hộc lúa giống thì thu hoạch được 100 hộc [20,30,31]. Như vậy, ruộng cỏ (thảo điền) có năng suất gấp 3 lần ruộng núi, tuy nhiên chúng ta cần hiểu tình hình này chỉ diễn ra trong thời kỳ khai phá buổi đầu mà thôi.

Về thời vụ canh tác: Ngoài kỹ thuật làm đất như trên, thời kỳ đầu khi lưu dân người Việt mới đến định cư ở vùng đất Bến Tre, đất đai còn nhiều chưa khai phá hết, dân cư thì ít ỏi, đất tốt lại dễ khai phá, nên công việc canh tác đối với người nông dân có phần như đơn giản, người nông dân một mình có thể làm dăm ba mẫu ruộng lúa mà vẫn nhàn nhã, không thiếu nhân công. Vì thế trong một thời gian dài, người nông dân – lưu dân làm ruộng theo phương thức quảng canh, làm một vụ lúa trong năm chủ yếu phó thác cho trời, dựa vào nước trời và sự màu mỡ sẵn có của đất đai, tất cả tùy thuộc vào thiên nhieân:

Trông trời, trông đất, trông mây

Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

(Ca dao)

Thời gian sau, dân cư vùng đất Bến Tre ngày càng đông đúc, đất đai khai phá đã hết, làm ruộng theo lối quảng canh không đáp ứng nhu cầu của cư dân, phương thức quảng canh dần dần thâm canh, xen canh tăng vụ, gối vụ theo đà tăng dân số và lúa chiếm diện tích lớn nhất, đồng thời lịch thời vụ cũng khác đi.

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Ngoài phương thức canh tác quảng canh, dần dần thâm canh, xen canh, người nông dân còn biết chọn các giống lúa thích hợp với từng loại ruộng: ruộng núi (sơn điền), người nông dân trồng các giống lúa ngắn ngày gọi là lúa sớm, từ khi cấy đến khi thu hoạch khoảng 3 tháng, còn ruộng cỏ (thảo điền) họ gieo cấy lúa mùa lỡ và lúa mùa, từ khi gieo cấy đến gặt chỉ độ 5,6 tháng. Gia Định thành thông chí phần sản vật chí ở phủ Định Viễn – trấn Vĩnh Thanh có chép: “Tổng Minh Đức, An Bảo huyện Tân An, ruộng bàu tháng 6 gieo mạ, tháng 8 cấy, tháng giêng gặt” [20,34].

Các giống lúa phổ biến ở vùng đất Bến Tre như: Ba Xuyên, Trắng Chùm, Vàng Kíu, Bảy Đảnh, Nàng Mân, Cà Đung, Gãy Xe, Huyết Hồng, Cà Đung Bắp, Móng Chim, Nanh Chồn, Tàu Hương, Nàng Keo, nàng Loan, Nàng Hương, Nàng Rừng, Nàng Thơm, Nàng Uùt, Bông Dừa, Bông Lai, Nàng Lai. Bến Tre cũng có những loại nếp ngon như:

Nếp Mường, Nếp Ruồi, Nếp Than. Tùy theo từng loại ruộng mà người nông dân chọn giống lúa thích hợp để gieo cấy.

Về nông cụ và kỹ thuật canh tác, vùng đất Bến Tre cũng không có những khác biệt lắm so với những nơi khác, sử dụng những nông cụ và kỹ thuật làm đất rất đơn giản, nhưng phù hợp với thời kỳ đầu khai phá đất bùn lầy, nương rẫy: chiếc phảng để phát cỏ, cái cày, cái bừa, trục, nọc cấy, vòng hái, lưỡi liềm. Phảng có nguồn gốc là nông cụ của người Khơme được người Việt cải tiến thành công cụ phát cỏ làm đất rất có hiệu quả nhất là vùng đất sình lầy không dùng trâu được. Cái cày có hai loại cày ta cày mênh, nhưng sự sáng tạo của cư dân Bến Tre là việc cải tiến cày ta cho thuận lợi hơn trong quá trình canh tác. Các bộ phận chính của cày như tay cầm, trạnh cày, lưỡi cày được đẽo nối liền với nhau thành một chỉnh thể thống nhất bề thế, trạnh cày bè ra vỡ đất dày. Trục kéo được thu ngắn lại và nối vào đó một đoạn tre, gắn dây nài vào hai bên cho trâu kéo, rất cơ động, dễ quay trở khi quanh gốc. Ngày xưa khi chưa có máy bơm nước, công trình thủy lợi chưa phát triển, người nông dân dùng gàu giai, gàu sòng để tát nước là nông cụ rất phổ biến, vì đối với việc trồng lúa nước điều quan trọng là phải có nước ngọt đầy đủ để tưới tiêu.

Theo lời kể của một số vị cao niên ở những địa phương qua điền dã, chúng tôi được biết ngày xưa khi lúa gặt xong được bó lại thành từng bó, phần lớn dùng những chiếc xuồng, có nơi dùng xe bò hay xe trâu để chuyển về sân trước nhà. Tại đó người ta chất thành “cà lang” gom lại để lúa đỡ phải rơi rớt, sau đó chất thành “bã lúa”, người sẽ dẫn trâu đi vòng quanh “bã lúa” trâu sẽ đạp cho đến khi nào rụng hết hạt lúa, sau đó người nông dân giũ lấy rơm ra riêng, phần hạt được giê sạch rồi phơi nắng, khi hạt lúa hoàn toàn khô người ta đem vào nhà “ví thành từng bồ lúa” trữ lúa lại để dành ăn cho đến mùa lúa sau.

Ngày xưa, ở nông thôn vùng đất Bến Tre, đến mùa gặt lúa chín là những ngày làng quê bừng lên một sức sống nhộn nhịp. Từ 4, 5 giờ sáng, khói bếp nhà nhà đã vút lên không gian với những nồi cơm nếp thơm lừng, hoặc những nồi canh bí nấu dừa, tép rang dừa, tất cả được mang ra đồng cho “công gặt” ăn. Những đêm đạp lúa trên sân là những đêm rộn rã vui ngày mùa của nông dân, với những nồi cơm nếp, nồi cháo gà, cháo vịt

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

thơm lừng, hoặc những câu hò đối đáp, những câu đố, những chuyện trạng, chuyện cười vang lên làm tăng thêm niềm vui hạnh phúc của mùa bội thu sau những ngày lao động vất vả.

Về tổ chức lao động, trong nghề trồng lúa này nếu gia đình nào không đủ lao động thì họ tổ chức bằng các hình thức hội vạn, tổ vần công, tổ đổi công, thường chỉ có hai ba gia đình ở gần cạnh nhau, hoặc trong cùng một xóm ấp, làm vần công đổi công cho nhau.

Bước sang thế kỷ XIX, tổng Tân Minh (tức cù lao Minh) đất đai được khai phá nhiều, thời gian này dân cư ngày càng đông đúc hơn, sản xuất lương thực đã có phần dư thừa, nên việc trao đổi nông sản, hàng hóa đã dần dần được hình thành. Theo đà tăng dân số, thời vụ trồng lúa và lao động trồng lúa cũng thay đổi. Tuy nhiên, kỹ thuật canh tác vẫn còn thô sơ, chưa có gì thay đổi. Về sau đến cuối thời Pháp thuộc, người nông dân mới bắt đầu làm quen với phân bón hóa học, những năm 70 và 80 của thế kỷ XIX, người dân vùng đất Bến Tre đã tiến hành đào một số kinh lớn nhỏ ở cù lao Bảo và cù lao Minh, những con kênh này có vai trò quan trọng trong việc phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Năm 1878: Kênh Chẹt Sậy (An Hoá) được đào, nối liền rạch Bến Tre với sông Ba Lai.

Kênh Sơn Đốc: Được đào từ năm 1885, dài 5km nối liền rạch Bến Tre và rạch Sơn Đốc.

Kênh Đồng Xuân: Được đào năm 1888 đến 1890, nối liền rạch Ba Tri và rạch Taân Xuaân.

Kênh Mỏ Cày – Cái Quao: Đào vào năm 1876, dài 8km nối liền rạch Mỏ Cày và rạch Cái Quao [59,38].

Những con kênh này có vai trò quan trọng trong việc phục vụ sản xuất nông nghiệp, tạo phong cảnh thiên nhiên xinh đẹp, ngoài ra còn cung cấp thức ăn như cá, tôm, cua.

Trong khoảng thời gian hơn hai thế kỷ, Bến Tre từ một vùng đất hoang vu, sình lầy, muỗi mòng, rắn rết, cọp, sấu… với một tinh thần lao động cần cù, nhẫn nại và óc sáng tạo, xứ sở cù lao nằm giữa sông Tiền, Hàm Luông, Cổ Chiên đã trở thành nơi nhiều lúa gạo ngon nổi tiếng. Lúa là một trong bốn mặt hàng được bán ra vùng đất khác với một sản lượng cao.

3.1.2- Nghề trồng hoa màu trên đất giồng:

Ở vùng đất Bến Tre, cùng với nghề trồng lúa nước, nghề trồng giồng xuất hiện rất sớm trước nghề làm vườn. Nghề trồng giồng ra đời kể từ khi lưu dân người Việt đến lập nghiệp ở Bến Tre. Nghề trồng giồng có nguồn gốc từ nghề làm nương rẫy của cư dân miền gò, đồi, nổng ở ven biển. Khi mới tới, có thể lưu dân người Việt đã gặp những cư dân Khơme, họ cùng nhau khai phá vùng này, người dân Khơme hầu hết quen làm đất giồng hơn đất sình lầy.

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Ngoài cây lúa, ở những giồng đất cao này, người nông dân – lưu dân còn trồng nhiều loại rau và hoa màu như bắp, khoai, sắn (mì), đậu, dưa chuột, dưa gang, dưa hấu, dưa leo, bầu, bí, cà, mướp, khổ qua, rau cải, ớt, hành, tỏi, hẹ. Đất giồng còn trồng được cây công nghiệp ngắn ngày như bông vải, dâu tằm, đậu phộng, thuốc lá. Trồng được nhiều loại nông sản làm cho đời sống kinh tế của vùng này thêm phong phú đa dạng.

Trong số các loại nông sản có thuốc lá ở Mỏ Cày đã trở thành sản phẩm nổi tiếng ở Nam Kỳ từ xưa.

Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn

Nghêu sò Cồn Lợi, thuốc ngon Mỏ Cày

Từ xưa, sở dĩ thuốc mà mọi người quen gọi “thuốc giồng” vì nó chỉ trồng phù hợp, ngon nhất ở vùng đất giồng. Ở Mỏ Cày, thuốc giồng trồng nhiều nhất là ở các xã An Định, Đa Phước Hội, Khánh Thạnh Tân, Nhuận Phú Tân và An Thới. Thuốc ngon Mỏ Cày có hương thơm, cháy đượm và tàn trắng. Khâu chọn giống và kỹ thuật chăm bón rất quan trọng, nhưng khâu chế biến cũng góp phần quyết định đến chất lượng thuốc từ khâu ủ, xắt đến phơi, sấy, lấy sương đêm… thuốc khi chế biến đều được róc sạch cọng nên rê thuốc khi khô cầm trên tay vẫn mềm mại, có màu vàng sậm. Ở Mỏ Cày có câu ca dao:

“Thuốc rê chồng hút vợ say

Thằng nhỏ mồi thuốc lăn quay chín vòng”

Chính là để khen ngợi chất lượng thuốc lá nơi đây thuộc loại thượng hạng.

Trên đất giồng cư dân còn trồng nhiều dưa hấu, nổi tiếng nhất là dưa hấu ở Bình Đại, tập trung nhiều ở làng Thừa Đức. Bởi thế “Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca” đã ca ngợi.

“…Tư bề Thừa Đức nội thôn

Đất trồng dưa hấu ngọt ngon quá chừng”…

Dưa hấu Bình Đại có nhiều giống: Giống pháo đài, hồng cúc, dưa qui, xiêm ô, dưa keo… Ai đến đây cũng sẽ được thưởng thức miếng dưa đỏ thắm, ruột dày, vỏ mỏng, ít hạt, ngọt dịu và mùi thơm thanh nhẹ dễ chịu. Cái ngọt ngào đặc sắc của dưa hấu ở đây ngoài đất giồng rất thích hợp còn do nguồn phân cá, các loại cá quá nhỏ, cá nát, tép ươn, vỏ tôm, đầu tôm đem phơi khô làm phân bón cây dưa hấu, làm cho trái dưa hấu lớn hơn, vị ngọt đậm, chắc thịt, để lâu không hỏng. Trước đây vào mùa dưa, từng đoàn ghe buôn tấp nập đi về mua dưa Bình Đại đem bán khắp các chợ Nam Bộ.

Ngày xưa, trồng giồng là nghề chuyên canh khi chưa phá ruộng những nơi sát ven biển ít ruộng hoặc không có ruộng. Thời điểm ấy, đất giồng là nơi canh tác lý tưởng, chắc ăn nhất, nơi nào đất cao ráo, người lưu dân xưa không bỏ qua. Nguyễn Liên Phong trong quyển “Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca” có ghi:

Tốt thay nhà ở theo giồng

Hết giồng tới ruộng ruộng giồng cao lương

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Và:

Các nơi giồng án cù lao

Nhân dân đông đảo thổ hào phì nhiêu

Gia Định thành thông chí còn cho biết: Ở bãi cát Nhật Bản (cực Nam cù lao An Hóa – Bình Đại): trồng bông vải, khoai lang, khoai nước. Nhà cửa ẩn hiện trong đám tre coồ thuù [20,55,56].

Sách sử học số 2 có dẫn sự ghi chép trong Phủ biên tạp lục: “Ở miền biển Ba Lai:

trồng bông vải, khoai lang, dâu, gai, có các thôn lạc dân cư [74,272]. Đó là các giồng Bến Lứt, giồng Du Tản (nay gọi là Tán Dù), giồng Giếng. Bãi cát Nhật Bản hay cồn Nhật Bản ở xã Thừa Đức (Bình Đại).

Trên đất giồng ngoài hoa màu người ta còn trồng cây che mát, cây lấy gỗ để có chỗ ở lâu dài. Giồng ở vùng Bến Tre xưa còn là nơi các loại tre trúc thiên nhiên mọc thành rừng đến tận bờ sông. Khi ấy, trong đời sống hàng ngày của cư dân tre lại là một sản vật cần thiết không thể thiếu: dùng để làm nhà, làm nên các dụng cụ sinh hoạt, đặc biệt để làm hàng rào bao quanh nhà ngăn chặn cọp dữ và heo rừng.

Thời gian sau, dân cư ngày càng đông đúc, họ khai phá rừng lấy đất làm ruộng, kế tiếp là lên liếp lập vườn, ruộng vườn mở mang, đất giồng biến thành thổ cư, nghề giồng dần dần trở thành nghề trồng hoa màu phụ. Người nông dân đã chuyển sang nghề làm ăn mới có thu hoạch cao hơn. Mặc dù vậy, một số nơi như trên những giồng cát, vùng ngoại ô thị trấn, thị xã, các xã ven biển vẫn còn nhiều hộ vẫn sống bằng nghề trồng giồng. Những nơi ấy họ trồng củ hành, tỏi, khoai lang, dưa hấu, đậu phộng, đậu xanh, cà, các loại rau cung cấp cho thị trường những sản phẩm phong phú và đóng góp một phần cho xuất khẩu (tư liệu điền dã địa phương Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại).

3.1.3- Nghề làm vườn:

Trải qua nhiều năm tích lũy kinh nghiệm tiếp xúc với thiên nhiên nơi vùng đất mới, lưu dân khai phá đã nhận ra được một điều: đất cù lao là đất phù sa, vùng đất ngập nước ven kênh rạch, ven sông là nơi lắng đọng phù sa màu mỡ nhất. Hơn nữa đất cù lao này lại không cao hơn mặt nước, dòng chảy của các con sông lớn ở đây theo chế độ bán nhật triều, ngày đêm theo hai con nước lớn ròng. Do vậy, con người có thể cải tạo vùng đất nê địa thành vùng đất trồng trọt được, điều quan trọng là có đủ nước tưới thường xuyên mà sẽ không bị ngập úng vào mùa mưa, không khô cạn vào mùa nắng hạn. Sáng kiến lớn nhất của lưu dân là đào mương lên liếp lập vườn.

Trước nhất, muốn có vườn thì phải đào một hệ thống kinh mương như câu ca dao quen thuộc từ bao đời nay: “lập vườn thì phải khai mương”. Người ta đào mương, lấy mương đắp lên liếp, mương đào càng sâu thì liếp càng cao. Từ các sông rạch thiên nhiên, nước được đưa vào những mương nhỏ, ăn thông liên tục với nhau. Sự thông thương này qua các “bọng” (cóng có nắp đậy, đóng hoặc mở theo ý muốn), các bọng này được đóng vào mùa khô để giữ nước và ngăn khi có nước mặn, mở ra để thay nước khi triều lên.

Mương thường được đào song song, giữa những mương ấy là liếp đất cao. Trên liếp người

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Một phần của tài liệu Vùng đất bến tre trong các thế kỷ xvii xix (Trang 40 - 57)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(144 trang)