TRONG CÁC THẾ KỶ XVII - XIX
2. Đời sống vật chất
Dựa trên những đặc điểm về tự nhiên, đất đai và tiến trình lịch sử, họ đã sáng tạo ra một đời sống văn hóa vật chất độc đáo, với những đặc điểm cũng không khác biệt, đối lập với cư dân các địa phương khác, nhưng cũng có những nét riêng biệt đáng lưu ý trong quá trình sáng tạo của cư dân vùng đất Bến Tre, nó được thể hiện trong đặc điểm địa bàn cư trú, xây cất nhà ở, trong cái ăn, cái mặc, phương tiện đi lại.
2.1- Làng xóm, nhà cửa:
2.1.1 Làng xóm
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Làng, xã, thôn xóm ở Bến Tre cũng như ở Nam Bộ có những nét chung là quần cư trên các vùng đất cao và quần cư theo tuyến hay tỏa.
Làng xóm cư trú trên đất cao chủ yếu là đất giồng, thời lưu dân mới đến tìm đất khai hoang, họ chọn nơi cư trú trên các gò đất cao gọi là giồng. Loại làng xóm này thoạt tiên là do một nhóm người cùng họ, hoặc bà con thân thuộc định cư hình thành nên, hoặc cùng tôn giáo, cùng quê quán sống quần tụ trên thế đất cao ráo. Khi ấy những nơi đây là những giồng cao có nước ngọt để sinh sống, không lầy lội, khí hậu ít độc địa, có những dòng họ sinh sống qua nhiều đời. Nhưng ở nơi đây sự tập hợp người theo huyết thống không có tính cố kết chặt chẽ như ở đồng bằng sông Hồng.
Loại làng xóm định cư theo tuyến hay tỏa tia: là loại làng phổ biến của cư dân ở Bến Tre nói riêng và cả Nam Bộ nói chung. Làng xóm dạng này được phân bố theo dạng kéo dài lấy “kênh mương” hay “lộ” giao thông làm trục, dân cư ở hai bên “kênh rạch” hay con lộ. Làng xóm mọc lên từng cụm, nhà cửa chạy dài theo bờ sông, bờ rạch, dân đông thì tách ra làng nhỏ, trong lúc đầu tạm gọi là lân, là ấp. Loại làng xóm này phát triển nhanh và mạnh, vì điều kiện đất tốt có nguồn nước tưới tiêu đầy đủ cho việc khẩn hoang và sản xuất nhanh chóng, với quy mô rộng lớn. Đó là những thôn xóm dọc theo bờ sông như vùng Hàm Long, Tiên Thủy, Đông Thành, Bang Tra, Vĩnh Thành… (cù lao Minh); Long Định, Long Thạnh (Bình Đại); Mỹ Lồng (Giồng Trôm)… từng có những cụm dân cư đông đúc khi xưa.
Về phương diện lịch sử, loại làng này ở Bến Tre mang rõ nét tính chất làng khai phá, làng không có cổng làng, không có lũy tre bao bọc, càng không có rào tre quanh làng, con người không bị khép kín trong “lũy tre làng”, dân làng không bị ràng buộc bởi những quy ước của lệ làng như ở Bắc và Trung bộ. Trong làng lại có hệ thống kênh rạch dày đặc, đỏ ngầu phù sa quanh năm, xen lẫn những cánh đồng lúa xanh rờn thì con gái, hay màu vàng rời rợi khi mùa lúa chín về, hay những vườn cây trái trĩu quả quanh năm, nghiêng mình soi bóng xuống dòng sông, kênh, rạch. Đặc điểm làng như thế, nên việc phân bố nhà cửa của cư dân phải trải dài theo kênh rạch, nhìn từ trên cao làng mạc như những tia dài.
Làng xóm ở vùng đất Bến Tre cũng như Nam Bộ có những nét riêng do các điều kiện tự nhiên, địa lý, lịch sử, xã hội tạo ra. Làng xóm được hình thành gắn liền với công cuộc khai phá đất đai của cư dân thế kỷ XVII, XVIII, XIX. Đó cũng là thành quả lao động của những tháng ngày phải chiến đấu với những thế lực thiên nhiên ác nghiệt để đứng chưn được trên vùng đất mới. Những con người tha hương cầu thực di cư đến, gặp gỡ và tụ họp nhau hình thành nên thôn xóm làng. Nhưng xóm làng của họ có đặc điểm là thiếu sự câu kết chặt chẽ, ở chỗ họ cảm thấy nơi nào không thuận lợi cho việc làm ăn sinh sống là họ dễ dàng chia tay chuyển đi nơi khác để sống.
2.1.2 Nhà ở
Lưu dân khi đến định cư khai phá vùng đất mới, việc xây cất nhà ở là một nhu cầu không thể thiếu trong sinh hoạt đời sống hàng ngày của con người. Nhà ở được hình thành dưới tác động của nhiều yếu tố: địa lý, kinh tế, xã hội, lịch sử, văn hóa.
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Ở khía cạnh lịch sử những lưu dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung vào chính là chủ nhân mở mang bờ cõi đất phương Nam này. Các nguồn gốc mang tính truyền thống, trong đó kể cả lĩnh vực kiến trúc vẫn mang ảnh hưởng từ cội nguồn gốc gác của họ. Do vậy những đặc trưng về kỹ thuật xây cất nhà ở của Nam Bộ không tránh khỏi là một sự cải tiến, một sự phát triển từ lối kiến trúc của miền Bắc, miền Trung.
Nói về khía cạnh địa lý – kinh tế, vùng đất Nam Bộ trong đó có Bến Tre là vùng sản xuất nông nghiệp, buổi ban đầu mới khai phá đất rộng người thưa, khí hậu ôn hòa, tài nguyên thiên nhiên dồi dào, mở ra chân trời mới khá dễ dàng cho những người đi tìm đất mới. Đồng thời việc xây cất nhà cũng có vẻ dễ dãi ít châm chút như miền Bắc, miền Trung phải chịu nhiều gió bão, nóng, rét, ở đây, thậm chí có khi người dân làm nhà không cần có cửa.
Khi đặt chân vào vùng đất mới, sự lang bạt đã có trong cư dân, họ chỉ sống lâu ở nơi nào làm ăn thuận lợi, nếu không thì sẽ dời đi nơi khác, tâm lý này ảnh hưởng tới việc xây cất nhà ở, lẽ đương nhiên là tuy cùng một dáng dấp nhà ở nhưng sẽ sơ sài dễ dãi hôn.
Từ thế kỷ XVII cho mãi tới những năm đầu thế kỷ XX phần lớn người dân Nam Bộ, trong đó có Bến Tre vẫn phải sống trong những ngôi nhà tạm bợ, cây lá đơn sơ vì buổi đầu khai phá còn gặp nhiều khó khăn, phần lớn lợp, dừng vách bằng lá dừa nước, cột kèo thường bằng cây tre, cây đước, cây chà là hoặc thân cây dừa. Cuộc sống nay dừng chân chỗ này, mai lại đi nơi khác, vật liệu xây cất phải tìm ở xa và lúc ấy rất hiếm hoi. Những thành quả khai hoang lần lượt rơi vào tay bọn địa chủ cường hào ác bá, phần lớn người dân làm tá điền phải cày thuê cuốc mướn ngay trên mảnh đất của mình. Do đó việc xây cất một ngôi nhà kiên cố trên đất địa chủ không phải là điều dễ dàng đối với người dân, vì vậy chỉ còn cách dựa vào những vật liệu có sẵn, dễ tìm dựng lên những ngôi nhà tranh vách lá tạm bợ.
Do cách thức quần cư như đã nói ở trên, về phương diện bố trí nhà ở của người dân Bến Tre cũng như Nam Bộ ta sẽ bắt gặp hai dạng phổ biến là: nhà được cất trên đất giồng và nhà chạy dọc theo ven sông rạch, trục lộ, tiện đường đi lại, hướng nhà xoay ra trục lộ giao thông đường thủy, đường bộ, không cần coi thầy địa lý. Câu tục ngữ quen thuộc và phổ biến “lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam” cho thấy tâm lý của người dân rất coi trọng việc xây cất nhà ở, vẫn mang những nét truyền thống. Nhưng trong hoàn cảnh thực tế, người dân không có cách lựa chọn, hướng quay mặt của nhà hoàn toàn tùy thuộc vào địa cuộc và cảnh quan chung quanh.
Tùy theo địa cuộc rộng hay hẹp, người giàu hay nghèo, nhà lớn nhà nhỏ sẽ có khác nhau, nhưng đặc trưng của nhà ở nông thôn Bến Tre có một số dạng rất phổ biến sau: Ngõ (cổng) vào – sân – nhà – vườn – ao cá – chuồng trại. Cổng nhà thường bằng cây, hàng rào bằng cây khô, cây tre, có khi cây tươi như dâm bụt nhất là ở nông thôn đồng quê, nhiều nhà chỉ làm một cái chà gai vững chãi để đêm đến kéo ngang đủ ngăn ngõ ra vào. Ở miền quê Bến Tre, do địa hình phần lớn làm nhà dọc theo trục lộ, các con đường, dọc theo các dòng kênh, mé sông rạch, phần nhiều nhà không có cổng, thậm chí
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
không có cả ngõ nữa, cửa nhà ăn liền ra bờ đường hoặc bờ kênh, mé sông… Sân thường là nơi phơi phóng những sản phẩm, nơi để chất “cà lang” khi lúa chở về hoặc có khi trồng hoa kiểng… Bàn thờ ông Thiên dựng giữa sân trên một cây trụ, ban đêm thường thắp ngọn đèn dầu lửa và thắp nhang…
Trong xây cất nhà, người dân nông thôn thường chú trọng phải có hàng ba trước nhà, nó giúp căn nhà tránh mưa tạt, giảm sự oi bức, khi có đám giỗ, đám cưới để dọn bàn đãi khách thuận lợi, có khi để trẻ con chơi, mắc võng (đây vốn là đặc điểm kiến trúc của cư dân miền Nam Trung bộ). Dọc theo hàng ba người ta thường để một cái mái (dụng cụ chứa nước bằng sành) để hứng nước mưa, dụng cụ múc nước bằng gáo dừa có tra một cái cáng bằng cây. Gần hàng ba có khi trồng một vài cây kiểng, nhà giàu thì đấy sẽ là một hoa viên, có hòn non bộ, nhà nghèo cũng có vài khóm hoa…
Bên trong nhà, bước vào ngay căn giữa để một cái bàn, bên phải từ ngoài nhìn vào chúng ta thấy một bộ ván, bên trái thường đặt cái giường ngủ dành cho những người lớn tuổi nhất trong gia đình (ông, bà cụ). Bàn thờ ông bà tổ tiên một ở giữa, hai ở bên trái, thụt phía sau bàn thờ tổ tiên và ở trên cao thường có cái khám thờ ông Quan Công, hơi thấp một chút thờ thổ công phía sau vách thờ là buồng ngủ riêng kín đáo dành cho cha mẹ, hoặc cô con gái lớn, đây là một yếu tố văn hóa.
Đến phần nhà dưới, thường là không gian sinh hoạt thường ngày của gia đình, nơi tiếp khách, có bàn, có bộ ván, hoặc bộ vạc tre để ăn cơm, có chỗ mắc võng, có bếp nấu, nơi sản xuất phụ (như ép dầu dừa, đan lát), có nơi để cất dụng cụ, nông cụ, dựng cái bồ ví lúa để dành. Phía sau nhà bếp có bắt một sàn nước ve ra mương rạch, vũng, mọi sinh hoạt của con người từ rửa chén, vo gạo đến tắm giặt đều gắn liền với kênh rạch.
Phía sau nhà thường là ao cá, mương tôm, có chuồng trại chăn nuôi trâu, bò, gà, vịt heo. Trên các ao cá thường là nhà xí, các chuồng heo, gà, vịt cũng thường được cất cạnh ao cá để dội nước thải… nuôi cá. Hai bên hong nhà, phía sau nhà là vườn, có những mương vườn ăn thông ra sông rạch có khi trước, có khi sau nhà.
Theo kết quả khảo sát một số địa bàn ở Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Bình Đại, Thạnh Phú chúng tôi được biết từ xưa so với nhà ở miệt giồng, miệt biển, miệt đồng thì ở miệt vườn nhà cửa khang trang hơn có phần ngăn nắp và sạch sẽ hơn, vẫn giữ được dáng dấp nhà cửa làng quê Việt Nam truyền thống, phổ biến là nhà nào cũng có bồn hoa, chậu cảnh trước nhà, được chăm sóc công phu, người dân cho rằng điều này rất cần thiết làm đẹp cửa đẹp nhà, là một khía cạnh văn hóa.
Khi vườn được hình thành, đẩy lùi tình trạng sình lầy nê địa, môi trường đổi mới, cuộc sống phong phú hiền hòa nước ngọt cây lành, người miệt vườn thích trang trí trong nhà các loại tranh phong cảnh. Trên vách, giữa bàn thờ ông bà, người ta thường treo tranh tứ thời, tứ bình, hoa quả, hoặc có khi độc đáo hơn có nhà treo tranh sơn thủy, trong tranh có mái nhà, cây cối, dòng sông, bến nước, cây cầu, con đò giữa dòng nước… in đậm màu sắc quê hương, đượm hồn non nước, cách bài trí này thường là nhà từ trung nông trở leân.
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Nhà của người nghèo thường nhỏ hẹp, họ không xây cất theo một quy luật nào cả, có gì thì làm nấy, hầu hết bằng cây lá đơn sơ. Một cái nhà có thể gồm hai gian hai chái hoặc một gian một chái. Do họ không có khả năng tạo nhiều đất đai nên nhà thường không có sân, không có vườn, có khi nhà chỉ một chái nằm ngay cạnh mé sông, bờ rạch, cửa nẻo đơn sơ bằng lá, kẹp nẹp tre, có khi không có cửa, trong nhà không có vật dụng gì quý giá. Chủ nhân của loại nhà này thường là những thành phần lao động nghèo, thường là cả nhà từ sáng sớm tinh mơ đã đi làm thuê, làm mướn, bắt cá, mót lúa… để kiếm sống, tối đến mới về căn nhà nghèo ấy để nghỉ ngơi, họ không có khả năng mua sắm vật dụng bày biện trang hoàng nhà cửa.
Nhà của người trung nông, hầu hết là thành phần những người có thu nhập tương đối khá. Người trung nông Bến Tre cũng có dịp đi đây đó nên có điều kiện tiếp thu, học hỏi cái hay, cái mới của nơi khác, để bổ sung cho nếp ăn ở của mình thêm phong phú.
Thường là nhà ba gian nối dưới hai chái có khi một chái theo kiểu nhà nối dọi hoặc nhà chữ đinh, nhà này thuộc dạng bán kiên cố hay kiên cố: có sườn gỗ tốt, cột kê, lợp tôn, có khi lợp bằng lá dừa nước, vách ván, có khi vách lá, nhưng rộng rãi, chắc chắn.
Nhà của người giàu có ở Bến Tre thường là các điền chủ, quan lại, tri huyện, chánh tổng, hội đồng quản hạt, đốc phủ sứ. Nhà này thường được xây trên những khu đất rộng khang trang. Vì là nhà giàu nên thường xây bằng gạch, đá, lợp ngói hay mái đúc, cửa rộng, tường cao, có hàng rào được xây kiên cố chung quanh.
Ở Bến Tre, nhà của tầng lớp giàu có khi ấy người ta xếp thành hai loại:
Loại thứ nhất là nhà của điền chủ, quan lại, lý dịch phong kiến, hoặc những người ảnh hưởng nặng phong kiến. Nhà cửa loại này thường được xây cất theo lối cổ, trong dân gian người ta thường gọi là “nhà xưa”, lối kiến trúc giống như các ngôi đình làng, thường là ba gian, hai chái, mái thấp, lợp ngói âm dương, rất nhiều cột, ít cửa sổ.
Cột gỗ tốt và quý hiếm, cột cái to cả người ôm. Điển hình như nhà của địa chủ Hương Liêm (tức Huỳnh Ngọc Khiêm, thuộc làng Đại Điền, tổng Minh Trị, huyện Duy Minh, nay là xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre). Ngôi nhà kiểu xưa của địa chủ Hương Liêm gồm 48 cột bằng gỗ căm xe, mỗi cây cột cái một người ôm không giáp.
Những cây xiêng, trính, kèo đều được chạm trổ tinh vi, tủ, bàn, trường kỷ và hàng chục bức tranh khắc gỗ theo các điển tích xưa đều được cẩn xà cừ. Phần lớn những người thợ xây dựng được mướn từ miền Trung vào, thời gian làm kéo dài hàng chục năm trời. Đây là nhà của một điền chủ có trên 2000 mẫu đất. Qua đó ta có thể hình dung được sự giàu có, tiền của mà địa chủ đã tích lũy được trong quá trình bóc lột người dân lao động như thế nào.
Loại nhà thứ hai là tầng lớp người có quan hệ với thực dân, chịu ảnh hưởng của văn minh phương Tây, nhà cửa kiến trúc theo lối hiện đại, dân gian thường gọi “nhà xây theo kiểu Tây”. Nhà được xây cất bằng gạch, đá, bê tông cốt thép, có tường dày, nền bọc đá xanh, cao ráo, nhà có nhiều phòng, sàn lót đá hoa, mái lợp ngói tây. Tương phản hoàn toàn với địa chủ Hương Liêm, nhà của địa chủ Phủ Kiểng (tức Nguyễn Duy Hinh cũng ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú – Bến Tre), nhà này được xây cất theo kiểu Tây,
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
tọa lạc trên khu đất rộng khoảng 6000 m2, ngôi nhà được xây cao ba tầng, sát cạnh đường cái, xung quanh được bao bọc bởi thành xây bằng gạch kiên cố đồ sộ. Trước sân nhà có những cột đèn ốp đá cẩm thạch cùng với nhiều tượng phù điêu đắp nổi. Có tiền sảnh rộng để mở tiệc tùng khi bọn Tây – Đầm từ thị xã hoặc Sài Gòn về. Phía sau ngôi nhà lầu lớn là những dãy nhà phụ, nhà xe, kho lẫm, nơi ở của đầy tớ, có bể chứa nước mưa xây âm dưới lòng đất rất lớn. Các nhà nghiên cứu cho rằng vẻ nguy nga đồ sộ tráng lệ của ngôi nhà, thể hiện sự lai căng, kệch cỡm của một “trưởng giả học làm sang” nơi đồng nội.
Những ngôi nhà này là những công trình kiến trúc đồ sộ và cổ truyền tại đây, có niên đại trên 100 năm (hiện nay vẫn còn di tích ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Beán Tre).
Hơn một trăm năm về trước, ở nông thôn Bến Tre, người ta đã chứng kiến sự tương phản giữa hai cảnh sống: Đó là nhà cửa nguy nga tráng lệ, đồ sộ của quan quyền, điền chủ, đốc phủ sứ, hội đồng… bên cạnh những nhà cửa lụp xụp, tạm bợ, hay những túp liều cất bằng cây lá đơn sơ, bên bờ các con kênh, con mương nước phèn vàng quạch, cuộc sống thiếu thốn phải đi làm mướn quanh năm. Do đó, mới có cảnh tá điền muốn thuê ruộng của điền chủ, thì dịp Tết phải đi làm “công lễ” cho điền chủ như: quét dọn, lau rửa nhà cửa, bổ củi, gánh nước, dẩy mã, lau cột nhà,… Điền chủ còn bắt họ dùng bao bố tròng vào người rồi leo từ đỉnh cột, ôm cột tụt xuống nhiều lần để làm cho bóng các cây cột nhà chủ.
Người Khơme sinh sống ở vùng đất Bến Tre với số dân ít ỏi, lác đác một số nơi như Mỹ Lồng (Giồng Trôm), ở Thom (Mỏ Cày), Giồng Miễu (Thạnh Phú). Nhà của người Khơme thường cất trên những giồng đất cao ráo, mà độ cao cách mặt ruộng tới 5m, vào thời kỳ ấy, người Khơme cư trú trong những ngôi nhà xây cất sơ sài bằng những thứ sẵn có tại chỗ (tre, lá, gỗ, mây…).
Người Hoa đến định cư trên vùng đất Bến Tre có phần muộn hơn vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVIII, họ sống rải rác ở một số thôn, ấp cùng người Việt không lập thành xóm làng, lúc đầu nhà cửa họ xây cất cũng đơn sơ, có kết cấu cũng giống như nhà của người Việt, có một số cất nhà trên cọc gỗ ve ra ngoài sông chứ không cất trên nền đất nện. Lớp người cao tuổi còn biết về sự việc này đã kể lại rằng, quan niệm của người Hoa cất nhà trên cọc gỗ như vậy sẽ dễ dàng di chuyển nhà đi nơi khác, nếu thấy sống nơi này không được.
Bước sang thế kỷ XIX, số người Hoa đến vùng đất này có tăng lên, phần lớn họ hoạt động buôn bán, do đó hầu như họ sống tập trung ở thị xã, thị trấn, chợ, vào thời kỳ đó nhà cửa xây cất khang trang hơn, cột bằng gỗ tốt, cột kê, hoặc xây cất bằng gạch, đá, lợp ngói hay lợp tôn, phần lớn cột nhà người Hoa hay sơn phết màu đỏ. Nhà người Hoa ở phố chợ thường cất theo kiểu nhà Nối đọi hay còn gọi là Sắp đọi, thường có một nhà trên (nhà trước) và một nhà dưới (nhà sau sắp liền kề) cùng chiều dài với nhà trên, chiều ngang thỡ heùp hụn.
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf