Đặc trưng riêng của vùng đất Bến Tre

Một phần của tài liệu Vùng đất bến tre trong các thế kỷ xvii xix (Trang 110 - 123)

TỔNG QUAN VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI BẾN TRE

1- Đặc trưng riêng của vùng đất Bến Tre

Bến Tre là đất cù lao, tuy diện tích thuộc loại nhỏ của đồng bằng sông Cửu Long, nhưng lại chiếm bốn cửa, cũng có nghĩa là bốn đầu “con rồng” (Cửu Long): Cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên.

Tuy là vùng đất cù lao nhưng không bị cô lập như một ốc đảo, lại càng không phải là vùng đất nơi đèo heo hút, góc bể chân trời nào đó như khi người ta hình dung về đất cù lao. Nằm ngay ngã tư thủy lộ, ngày xưa từ vị trí cù lao của Bến Tre có thể đến miền Tây và miền Đông Nam Bộ, ra miền Trung và xuống mũi Cà Mau bằng ghe thuyền. Vì vậy dù là xứ cù lao nhưng giao lưu với các nơi khác luôn được mở rộng, là điều kiện để con người học hỏi và trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau về ăn, ở, tổ chức đời sống hoạt động kinh tế và hoạt động văn hóa, thể hiện rất rõ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, cũng như trong việc đóng loại ghe cửa Đại, đánh bắt thủy hải sản, một số nghề thủ công, xây cất nhà ở, trang trí nhà ở, bố trí ngôi nhà, mảnh sân, chăm chút vườn, cây kiểng… tạo nên sắc thái “văn minh miệt vườn”.

Vị trí địa lý cùng điều kiện tự nhiên nơi đây đã hun đúc tinh thần tự lực tự cường ngay từ buổi ban đầu khai hoang mở đất, đầy rẫy những khó khăn, gian khổ. Vị trí địa lý điều kiện tự nhiên sẽ tạo ra cho con người tâm thế luôn luôn tự vượt lên, tự mình giải quyết những khó khăn gay gắt cấp thiết mà cuộc đời đặt ra cho mình, luôn tự lực cánh sinh. Sông và biển bao bọc, cách trở, muốn dựa vào ai cũng rất khó, vì vậy mỗi khi có bất kỳ chuyện gì xảy ra, tâm thế ngay từ đầu của cư dân nơi đây là phải “tự mình cứu lấy mình” phải “tự gồng mình”, gánh vác, không thể ỷ lại, không thể trông chờ, tự tìm ra con đường giải quyết. Chính những điều đó là đặc tính khá nổi bật của con người vùng đất Bến Tre, một nghị lực đặc biệt của người Bến Tre.

Tinh thần tự lực tự cường đó người dân Bến Tre đã thể hiện rõ trong cuộc hành trình khai hoang mở đất, nhất là trong sáng kiến đào mương lên liếp lập vườn. Tạo lập được mảnh vườn, vùng vườn đòi hỏi phải có sự lao động cần cù nhẫn nại, với một khả năng cải tạo và thích ứng với thiên nhiên và một sự ứng xử thông minh trước thiên nhiên ở vùng đất xa lạ.

Dân số ở Bến Tre từ buổi đầu khai phá chủ yếu là người Việt, người Khơme chỉ có con số lác đác rất ít, về sau có thêm một số ít người Hoa, lại càng không có người chăm (theo sự thống kê dân số đã trình bày ở phần trên). Chính đặc điểm này, khiến cho cư dân ở Bến Tre khác với Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, thậm chí ngay cả với Tiền Giang cạnh bên. Vì vậy tạo ra quá trình phát triển văn hóa dân gian ở Bến Tre có những nét đặc điểm tạm gọi là riêng. Tuy nhiên, Bến Tre vẫn trong tư thế sẵn sàng mở cửa đón nhận những tinh hoa văn hóa của các vùng, các địa phương khác. Bởi lẽ sống trên đất cù lao mà đóng cửa tạo sự tách biệt sẽ tự làm rộng thêm, sâu thêm ranh giới tự nhiên.

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Nhưng cũng chính vị trí địa lý điều kiện tự nhiên ấy cũng tạo điều kiện cho người dân nơi đây bảo lưu vốn văn hóa truyền thống của mình.

Trên ba dãy cù lao, mỗi nơi đều có những đặc sản, phù sa sông Tiền, sông Hậu, nước ngọt quanh năm bồi đắp nên một cù lao màu mỡ, để rồi tạo ra một hương vị cây trái đặc thù không nơi nào sánh kịp. Ở Nam Bộ có nhiều vùng cây trái, nhưng khi nói đến người ta chỉ nói Chợ Lách Cái Mơn, cây trái nước ngoài đã dừng chân đầu tiên ở Chợ Lách Bến Tre, để rồi chúng được sinh sôi nảy nở trên mảnh đất phù sa màu mỡ. Nơi đây còn có sự phong phú của các giống cây với nhiều chủng loại, cây giống ở Chợ Lách càng lớn dần theo năm tháng, ở tận miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ, mỗi khi muốn lập vườn đều hướng về giống cây trồng ở Chợ Lách Bến Tre. Hàng năm cung cấp cho thị trường 4.000 – 5.000 cây giống các loại, khẳng định mình với khu vực, tạo ra mùa hoa trên quê hương mình mà còn cho cả đất nước những hương vị ngọt ngào từ một xứ sở đáng yêu. Ngày nay, hoa kiểng ở Chợ Lách Bến Tre còn đường hoàng theo tàu viễn dương ra nước ngoài, đem lại một nguồn thu lớn cho Bến Tre.

Những dừa, những lụa vàng, mía, bánh phồng bánh tráng, dưa hấu, trái cây chỉ có ở Bến Tre, hay nói khác đi nó đã làm nên Bến Tre, để có ngày hôm nay không thể không có những điều đó. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long thống nhất trong đa dạng không thể không có đất cù lao này, trong một dịp mạn đàm về đất Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long xưa nhà văn Sơn Nam nói: “Bến Tre là vùng đất không thể không đề cập đến khi nghiên cứu về Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, là một khu vực văn hóa, nhờ vị trí cù lao nên Bến Tre bảo lưu được những gì tích cực của dân tộc trên đường mở nước” [36,29].

Một đặc điểm đáng lưu ý và đáng để tự hào đó là con người Bến Tre luôn có tinh thần hiếu học, biết nuôi dưỡng nhân tài và có ý thức bảo vệ vốn văn hóa truyền thống của ông cha. Người cù lao chẳng những lo cật lực khai hoang mở đất mà còn biết chăm lo việc học hành, biết nuôi dưỡng những nhân tài. Truyền thống hiếu học của người dân đất cù lao đã sản sinh ra những nhân vật có trình độ học vấn uyên thâm trở thành những danh nhân bậc đại thần thời cận đại: Võ Tường Toản, Lê Văn Đức. Nơi đây từng là nơi cất tiếng khóc chào đời của người sau này đỗ tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ đó là Phan Thanh Giản; nơi đây cũng là quê hương của nhà bác học Trương Vĩnh Ký, đồng thời nhà thơ bút chiến quyết liệt với Tôn Thọ Tường khi thực dân Pháp vào xâm lược Nam Bộ: Phan Văn Trị cũng sinh ra trên mảnh đất này. Còn phải kể đến ba anh em nhà họ Bùi ở làng Đa Phước (Mỏ Cày) đã đỗ cử nhân, khi xưa trong một gia đình có ba người đỗ cử nhân là một điều hiếm có. Bên cạnh còn có những anh hùng liệt sĩ kháng Pháp như lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, đốc binh Phan Ngọc Tòng, tán lý Lê Tán Kế (tức Lê Quang Quan) đã để lại tấm gương hy sinh oanh liệt vì dân vì nước.

Nếu như Gia Định – Đồng nai là nơi hội tụ nhân tài tiêu biểu cho sĩ khí Đồng Nai, thì Bến Tre chính là một trong những nơi của lục tỉnh gieo mầm cho những tài năng ấy. Giới nho sĩ ngày xưa thường gọi Bến Tre là xứ “địa linh nhân kiệt”, bởi thế “Nam Kỳ phong tục, nhân vật diễn ca” đã hết lời ca ngợi:

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

- Dừa cau vườn tược quá nhiều

Địa linh nhơn kiệt mỉ miều người ta…

- Ba Tri phong thủy một phương

Phan công Thanh Giản cổ hương lưu tồn Quê ngài ở Bảo Thạnh thôn

Đại khoa tiến sĩ tiếng đồn Nam Trung…

Một sự tôn vinh đáng trân trọng trong lịch sử mở nước và dựng nước Phương Nam.

Nếu xếp theo thứ tự tuổi đời, năm tháng cống hiến cho quê hương đất nước có thể kể đến trước tiên đó là:

* VÕ TRƯỜNG TOẢN (? – 1792)

Võ Trường Toản sinh trưởng ở Bình Dương, lúc đó thuộc phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, ông là người học rộng, tài cao, tinh thông kim cổ, ông sinh ra ở Gia Định nhưng đã gửi phần xác cuối cùng ở vùng đất Bến Tre.

Ông là một nhà mô phạm, không tham gia vào chính sự, ông đã đào tạo hằng trăm học trò, đều là những danh sĩ của miền Nam. Lúc bấy giờ có ba người nổi tiếng được gọi là “Gia Định tam gia thi” đó là: Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh. Ngoài ra còn có Ngô Tùng Châu, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Bá Phẩm. Những danh nhân tài giỏi thế hệ sau như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Phan Văn Trị, họ là những người cùng chịu ảnh hưởng tài đức của Võ Trường Toản. Lúc sống ông đã đem hết tài năng của mình đào tạo những nhân tài cho đất nước.

Võ Trường Toản mất ngày 27/7/1792, lòng vua cảm mến tiếc thương ân tứ hiệu

Gia Định xử sĩ sùng đức Võ Tiên Sinh” để ghi vào mộ, di hài của ông được an táng tại làng Hòa Hưng (tức là vùng Hòa Hưng) thuộc địa phận Sài Gòn ngày nay. Khi ba tỉnh miền Đông rơi vào tay giặc Pháp, một số sĩ phu ở Gia Định (trong đó có Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Phạm Hữu Chánh, Trương Gia Hội) không muốn phần mộ của cụ Võ nằm trong khu vực của thực dân, nên vào ngày 15/12/1865 đã đem hài cốt của ông về chôn cất tại làng Bảo Thạnh (nay thuộc xã Bảo Thạnh huyện Ba Tri – Bến Tre). Chính Phan Thanh Giản đã soạn thảo văn bia dựng tại ngôi mộ. Nguyễn Thông, lúc bấy giờ là đốc học Vĩnh Long đã viết lời tường thuật cuộc cải táng được khắc ở mặt sau bia.

Người dân nơi đây rất tự hào vì là nơi có phần mộ của một nhà nho uyên thâm, sĩ khí trong lòng đất, người dân tôn trọng như là mộ ông Hậu Tổ, người có công lớn trong sự nghiệp giáo dục.

* LÊ VĂN ĐỨC (còn có tên là Nguyễn Lê Đức) năm sinh không rõ, người quê Bảo Hựu, Vĩnh Long, thi Hương tại trường thi Quảng Đức, Thừa Thiên (vì lúc bấy giờ ở Gia Định chưa mở trường thi Hương) đỗ cử nhân khoa Quý Dậu, Gia Long năm thứ 12 (1813) làm quan trải qua các chức vụ Hiệp biện đại học sĩ, Thái tử thiếu bảo, Thượng thư

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

bộ lại, bộ Lễ và bộ Binh, Kinh lược sứ Nam Kỳ. Ông là một nhân vật văn võ song toàn, từng lãnh chức Tổng thống quân vụ đại thần chỉ huy tiểu phỉ ở Bắc Kỳ (1835) đánh tan quân Xiêm xâm lấn Trấn Tây và xâm phạm biên giới Nam Kỳ (1840), chiến công được khắc vào bia võ công của triều Nguyễn. Lê Văn Đức là tác giả của tập thơ “Chu nguyên tạp vịnh” và là người viết lời bạt cho tập “Kinh hải tục ngâm” của Lý Văn Phức. Lê Văn Đức viết không nhiều nhưng được coi là tác gia mở đầu dòng văn học chữ viết Hán – Nôm của người Bến Tre.

* PHAN THANH GIẢN (1796 – 1867) – Vị đại khoa đầu tiên của Nam Kỳ:

Phan Thanh Giản sinh ngày 12 tháng 10 năm Bính Thìn (1796) tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Ông tự là Đạm Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyeân.

Nhà nghèo, mẹ mất sớm, Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn trong học tập.

Nhưng do Phan Thanh Giản siêng năng học tập, vốn thông minh hiếu học, nên đến năm 29 tuổi (1825), ông thi đậu cử nhân tại Gia Định. Đến năm 1826, trong kỳ thi Hội ở kinh đô, Phan Thanh Giản đỗ tiến sĩ và cũng là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ. Từ đó ông bước vào con đường hoạn lộ, làm quan trải qua ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, được cử giữ nhiều chức vụ.

Đến đời vua Tự Đức, ông được cử làm kinh lược sứ trấn giữ Vĩnh Long, ngày 20/6/1867 Pháp chiếm thành Vĩnh Long, Phan Thanh Giản đã nhịn đói và uống thốc độc tự tử vào ngày 4/8/1867. Tạm gác sang một bên cuộc đời hoạt động chính trị của Phan Thanh Giản. Người đời biết Phan Thanh Giản một người thông minh hiếu học, là một trí thức lớn, một vị đại thần trọn đời cần mẫn, liêm khiết, cương trực giản dị, trọng đạo đức, thương nhân dân, học rộng hiểu nhiều, say mê văn học. Đối với người Bến Tre ông còn là một tác gia lớn của dòng văn học viết Hán Nôm cận đại.

* LÃNH BINH NGUYỄN NGỌC THĂNG (1798 – 1866):

Nguyễn Ngọc Thăng (Lãnh Binh Thăng) là một trong những tấm gương tiêu biểu cho phong trào kháng chiến của nhân dân Nam Bộ nói chung, là người con ưu tú của nhân dân Bến Tre đi đầu trong kháng chiến chống thực dân Pháp nói riêng.

Nguyễn Ngọc Thăng sinh năm 1798 tại ấp Giồng Keo, làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, Bến Tre.

Ông xuất thân trong một gia đình nông dân có ba người con, ông là con trai trưởng, là người ham học, thông minh, có thiên hướng về võ nghệ. Do vậy, ngoài việc học chữ của các thầy đồ trong làng, ông còn cùng với bạn bè trang lứa tìm đến các lò võ quanh vùng để học võ nghệ.

Lớn lên, ông đăng lính triều đình, đến năm 1848, dưới thời Tự Đức, ông được thăng chức lãnh binh.

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, được lệnh triều đình, Nguyễn Ngọc Thăng đem quân ứng cứu, nhưng chưa kịp tới thì thành Gia Định đã bị giặc chiếm.

Sau khi Trương Định hy sinh, Nguyễn Ngọc Thăng tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân chóng Pháp. Ngày 27/6/1866, trong một trận giao chiến ác liệt với quân Pháp ông đã bị tử thương, nghĩa quân đưa thi hài ông về chôn cất tại Mỹ Lồng quê của ông, được nhân dân thờ trong đình làng như một vị phúc thần. Phần mộ và đền thờ của ông ở xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Để ghi nhớ công lao của ông, chính phủ đã đặt tên một con đường và một ngôi chợ ở thành phố Hồ Chí Minh mang tên Lãnh Binh Thăng.

* ĐỐC BINH PHAN NGỌC TÒNG (1818 – 1868):

Phan Tòng quê ở làng An Bình Đông, tổng Bảo An, huyện Ba Tri, sau đó là xã An Đức, huyện Ba Tri. Phan Tòng sinh năm nào chưa có tài liệu nào ghi rõ, nhưng các nhà nghiên cứu căn cứ vào câu thơ mà Nguyễn Đình Chiểu viết điếu Phan Tòng:

Sinh naờm mửụi tuoồi aờn chụi maỏy

Người ta phỏng đoán, khi hy sinh Phan Tòng khoảng 50 tuổi, vì vậy năm sinh của Phan Tòng có thể đoán là khoảng 1818 và hy sinh năm 1868.

Ông vốn là một ông giáo làng, đã đứng ra tập hợp dân chúng tổ chức đánh Pháp và được cử làm đốc binh. Ông đã hy sinh năm 1868, phần mộ của Phan Ngọc Tòng hiện nằm ở sau đình làng An Bình Đông, huyện ba Tri – Bến Tre.

* NGUYEÃN ẹèNH CHIEÅU (1822 – 1888):

Từ xưa, người trong nước biết đến Bến Tre như một địa phương nhiều dừa nhất nước: “thấy dừa thì nhớ Bến Tre” và giới học thức thì có biết thêm đó là quê hương thứ hai của nhà thơ lớn yêu nước của dân tộc Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ đã sống hơn một phần tư thế kỷ và yên nghỉ vĩnh viễn nơi đây.

Nguyễn Đình Chiểu người Gia Định, ông thi đỗ tú tài năm 1843, gặp cơn gia biến rồi bị mù lòa lúc 25 tuổi. Năm 1858, Pháp chiếm Gia Định, ông về quê vợ ở Cần Giuộc, sau đó từ Cần Giuộc về sống ở Ba Tri Bến Tre cho đến cuối đời.

Đến Ba Tri Bến Tre cụ đồ vẫn tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, đồng thời vẫn liên lạc với những sĩ phu yêu nước như Trương Định, Nguyễn Thông, Phan Văn Trị, bọn quan Pháp ở Bến Tre cố mua chuộc lôi kéo cụ nhưng Đồ Chiểu đã khéo léo và cương quyết từ chối. Khi được tin Trương Định hy sinh (1864) nhà thơ xúc động, viết bài văn tếmười hai bài thơ liên hoàn điếu người anh hùng. Năm 1868, Phan Tòng hy sinh trong trận Giồng Gạch, Cụ Đồ đã viết 10 bài thơ điếu đốc binh Phan Tòng với những lời lẽ thống thiết khóc bạn.

Thời gian ở Bến Tre, chính con người và truyền thống lịch sử của vùng đất này là nguồn cảm hứng để nhà thơ có những tác phẩm quý giá. Tuy Cụ Đồ không trực tiếp đánh giặc với khí thế hiên ngang như Phan Tòng, Phan Tôn, Phan Liêm, Tán Kế, Trương Định.

Nhưng trong văn chương của ông đã thể hiện tinh thần không đội trời chung với kẻ thù:

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Một phần của tài liệu Vùng đất bến tre trong các thế kỷ xvii xix (Trang 110 - 123)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(144 trang)