TỔNG QUAN VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI BẾN TRE
3. Truyền thống đấu tranh xây dựng và bảo vệ quê hương của nhân dân Bến Tre
3.1- Đấu tranh chống áp bức cường quyền:
Có được cuộc sống yên vui, người dân vùng đất Bến Tre phải trải qua công cuộc
“khai sơn phá thạch”, chinh phục vùng đất hoang vu thật vô cùng gian nan vất vả, tưởng chừng như thế đã là quá đủ, nhưng những giây phút bình yên đó không được bao lâu, người dân Bến Tre phải đương đầu với cuộc chiến đấu mới còn hung tợn hơn cả rừng thiêng nước độc, lam sơn, chướng khí, thú dữ, đó là chế độ phong kiến hà khắc, bóc lột người dân đến tận xương tủy.
Như phần trên đã trình bày tỉ mỉ quá trình mở đất về phương Nam của các chúa Nguyễn – vua Nguyễn đã tạo điều kiện khuyến khích, nâng đỡ tầng lớp điền chủ ở Đồng Nai – Gia Định nói chung, Bến Tre nói riêng, cấu kết với bọn quan lại địa phương, dùng mọi thủ đoạn cướp đoạt trắng trợn ruộng đất của dân. Người nông dân nghèo ngoài việc bị cướp đoạt ruộng đất, trở thành tá điền nghèo khổ còn bị chế độ thuế khóa hà khắc, bị bọn quan lại các cấp nhũng nhiễu đủ cách. Cuộc sống của người nông dân nhanh chóng bị bần cùng hóa, bị phá sản, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt giữa tập đoàn phong kiến thống trị với các tầng lớp nhân dân lao động. Nửa đầu thế kỷ XIX đã có nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra ở nhiều địa phương chống lại chính quyền phong kiến.
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Ở Bến Tre, địa phương nào cũng có trường hợp người nông dân “kéo phảng”,
“dao phay” để chém chết địa chủ vì không thể chịu nổi áp bức bóc lột tàn bạo của tầng lớp thống trị.
Với tính cách nghĩa khí, hiên ngang cứng cỏi, không chịu lùi bước trước trở ngại thiên nhiên, không luồn cuối trước sức mạnh phi nghĩa, bấy lâu bị dồn nén chỉ chờ có dịp là bùng nổ. Nên khi nghĩa quân Tây Sơn tiến quân vào Gia Định, được sự ủng hộ và hưởng ứng nồng nhiệt của người nông dân nghèo Gia Định, trong đó có người nông dân nghèo Bến Tre. Thể hiện rõ nét nhất trong trận thủy chiến oanh liệt tiêu diệt quân xâm lược Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785. Chiến thắng của quân Tây Sơn trong đó có sự đóng góp rất quan trọng của người dân Bến Tre, có ý nghĩa hết sức to lớn, đến nỗi sau chiến thắng này chính sử nhà Nguyễn cũng phải thừa nhận “người Xiêm sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”.
Tinh thần đấu tranh chống áp bức cường quyền của nhân dân Bến Tre còn bộc lộ rất quyết liệt qua việc tham gia tích cực vào cuộc khởi binh của Lê Văn Khôi vào năm 1833. Lê Văn Khôi khởi binh ở Gia Định và đến tháng 6 năm đó tiến quân xuống Định Tường – Vĩnh Long, hầu hết nông dân nghèo ở Bến Tre lúc đó thuộc Vĩnh Long hưởng ứng nồng nhiệt, khí thế như nước vỡ bờ. Quan quân triều đình ở Vĩnh Long không đối phó nổi, các quan đầu tỉnh Vĩnh Long – Định Tường như tổng đốc Long – Tường Lê Phú Bảo bị triều đình cách chức, tuần phủ Vĩnh Long Tô Trần và Aùn Sát Vĩnh Long Ngô Bá Toán bị triều đình giáng làm lính. Tuy cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi thất bại, nhưng đã nói lên tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất chống áp bức cường quyền bảo vệ quyền sống của nhân dân Đồng Nai – Gia Định nói chung, Bến Tre nói riêng.
Ở vùng An Hóa (Bình Đại – Bến Tre) còn có ông Gốc vang danh về tài võ nghệ và đánh cọp, giết sấu. Ông Gốc đã từng hiên ngang mạnh mẽ chống lại bọn cường hào ở địa phương khi chúng định cướp đất đai của ông, phần đất mà ông phải tốn nhiều công lao khai phá. Ở vùng đất Bến Tre còn bao nhiêu những ông Gốc mà lịch sử ghi chưa hết được.
3.2- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược:
Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp và Tây ban Nha nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức xâm lược nước ta.
Đầu năm 1859, quân Pháp tiến đánh vào Gia Định, trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Nam Bộ, có một người con ưu tú của nhân dân Bến Tre đã tham gia cuộc chiến đấu rất kiên cường đó là lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng.
Được lệnh của triều đình, Nguyễn Ngọc Thăng đem quân đến ứng cứu thành Gia Định, nhưng chưa kịp tới thì thành đã bị giặc chiếm (10 giờ ngày 17/2/1859). Mặc dù bị địch chiếm thành nhưng các đội dân binh chiến đấu rất dũng cảm, bao vây quân Pháp không cho chúng lấn ra. Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng được lệnh đóng giữ đồn Cây Mai, tại đây ông đã tổ chức việc phòng thủ, sẵn sàng đối phó với quân Pháp. Dưới sự chỉ huy của ông, binh lính chiến đấu dũng cảm, nhưng so sánh lực lượng giữa ta và địch quá
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
chênh lệch, nên sau một thời gian cầm cự, ông phải bỏ đồn rút quân về Gò Công tiếp tục chiến đấu chống Pháp trong hàng ngũ của nghĩa quân Trương Định.
Sau một thời gian cùng nghĩa quân vào sinh ra tử, ngày 27/6/1866, trong một trận giao chiến ác liệt với quân Pháp ông đã hy sinh. Nghĩa quân đưa thi hài ông về Mỹ Lồng – Bến Tre quê ông và được nhân dân thờ trong đình làng như một vị phúc thần. Nguyễn Ngọc Thăng còn được thờ tại ngôi đình xưa làng Nhơn Hòa, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, nay là phường Cầu Ông Lãnh, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh “Sinh vi tướng, tử vi thần” (sống làm tướng chết thành thần), đó là một con người trong sự ngưỡng mộ của người dân Nam Kỳ, ông đã chiến đấu và hy sinh với tính cách bất khuất ngoan cường của người chiến sĩ.
Thực dân Pháp từng bước xâm lược nước ta, triều đình nhà nguyễn với tinh thần chiến đấu yếu ớt và thái độ chủ hòa bạc nhược đã khiến thực dân Pháp chiếm trọn ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Với điều ước ký vào ngày 5/6/1862 (năm Nhâm Tuất) triều đình nhà Nguyễn nhường cho Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường. Lúc bấy giờ Bến Tre còn là vùng tự do, chưa có bóng giặc Pháp xâm chiếm. Trong nhân dân lục tỉnh và các sĩ phu yêu nước thuở ấy dấy lên phong trào “tỵ địa” bất hợp tác với giặc Pháp, phản đối hành động bán nước ươn hèn của triều Nguyễn. Ba Tri Bến Tre hồi ấy là nơi Nguyễn Đình Chiểu về lánh nạn. Ba Tri lúc ấy thuộc phủ Hoằng Trị, huyện Bảo An, dinh Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, nhà thơ về đây vừa dạy học, vừa sáng tác thơ văn và bốc thuốc trị bệnh cho dân, liên hệ chặt chẽ với một số sĩ phu yêu nước. Bị mù lòa dù không trực tiếp ra trận đánh giặc được, nhưng nhà thơ đã dùng ngòi bút của mình hăng hái chống giặc, tư tưởng và nhân cách của Nguyễn Đình Chiểu trở thành dòng máu của con người vùng đất này, chính dòng máu ấy khiến nhiều người tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp về sau. Cụ Đồ đã làm thơ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống bọn xâm lược phương Tây, không những biểu thị lòng thương tiếc những người anh hùng đã hy sinh mà còn bộc lộ sự căm thù sâu sắc không đội trời chung với quân xâm lược.
Nguyễn Đình Chiểu đã tô điểm cho truyền thống vốn có của một vùng đất và làm rạng rỡ nó. Nhắc đến Nguyễn Đình Chiểu, người ta như thấy Ba Tri Bến Tre phải chăng vì những điều ấy, chứ đâu phải đơn thuần là nhà thơ đã từng sống ở nơi đây.
Năm 1864, sau khi căn cứ Tân Hòa thất thủ, Trương Định hy sinh, Trịnh Viết Bằng là người thôn Tân Định, tổng Hòa Thinh tỉnh Định Tường (về sau là xã Định Trung huyện Bình Đại, Bến Tre), ông đã từng tham gia phong trào chống Pháp dưới quyền Trương Định. Sau khi Trương Định mất, ông đã cùng một nhóm người thân tín rút về hoạt động chống Pháp ở cù lao An Hóa. Trịnh Viết Bằng đã vận động nhân dân trong vùng đắp hào để ngăn không cho giặc vào được cù lao, ông tiếp tục chiêu mộ những người yêu nước thường xuyên vào làng tiêu diệt những tên tay sai gian ác của giặc. Thanh thế của nghĩa quân càng lớn mạnh, gây cho Pháp nhiều hao tốn, trong một trận ruồng bố ông đã bị Pháp bắt và bị chúng chém đầu tại thị xã Mỹ Tho, lúc chết ông vẫn không quên dặn lại con cháu: “ta chết hãy đem xác ta về chôn ở ngã tư để con cháu nhớ mà không theo giặc” [27,98], người dân trong vùng vô cùng thương tiếc ông. Cụ Đồ Chiểu bên kia Ba
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Tri nghe tin rất đau xót tiếc thương, nhưng không thể qua viếng được. Phong trào tuy thất bại, nhưng đã tô thắm truyền thống yêu nước của nhân dân Bến Tre.
Năm 1867, giặc Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, thế là vùng đất Bến Tre rơi vào tay giặc Pháp. Khi giặc Pháp đến xâm lược Bến Tre, ngay từ đầu chúng đã vấp phải một sự kháng cự anh dũng của nhân dân quê dừa, nhân dân nơi đây liên tục đứng lên chống giặc Pháp.
Tháng 8/1867, hai người con của Phan Thanh Giản đã đứng lên chống Pháp một cách anh dũng đó là Phan Tôn, Phan Liêm. Cuộc khởi nghĩa có quy mô rộng lớn, không những ở hai cù lao Bảo và Minh ở Bến Tre mà còn lan sang hai tỉnh Trà Vinh và Mỹ Tho. Giặc Pháp thú nhận, cuộc khởi nghĩa này khó đàn áp vì cả tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ, cả Vĩnh Long nữa đã nhất tề đứng lên, trung tâm cuộc khởi nghĩa là Bảo An (phần đất của huyện Ba Tri bây giờ).
Tối ngày 9/11/1867, trung úy hải quân Pháp De Champeaux chỉ huy kéo đến bao vây và đánh làng Hương Điểm đồng thời lập trại ở đó, đêm ấy, mưa to gió lớn, nghĩa quân mở cuộc tấn công bất ngờ vào trại binh địch, De Champeaux bị đâm trọng thương và ra lệnh rút quân trước khí thế quá hăng của nghĩa quân. Giặc Pháp phải đem quân từ Sài Gòn, Vĩnh Long đến tiếp viện, quân giặc kéo trở lại bao vây Hương Điểm, dưới sự chỉ huy của trung tá Angxa và tên Vian, nghĩa quân liền chặn đánh giặc trên sông rạch, trận chiến xảy ra kịch liệt, đến 2 giờ chiều giặc mới tới được Hương Điểm. Sáng 13/11, cuộc chiến đấu của nghĩa quân diễn ra hết sức quyết liệt, giặc Pháp không dám tiến sâu vào Hương Điểm mà chỉ đóng quân chụm ở Hương Điểm rồi theo tàu về Bến Tre. Trong trận này xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu anh dũng, tiêu biểu như Trương Tấn Chí, cháu ruột của Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, hiên ngang cầm cờ xung phong đi trước, bị giặt bắn chết.
Thực dân Pháp thực hiện thủ đoạn vừa đánh vừa xoa, ngày 14/11/1867, giặc Pháp sai Đỗ Hữu Phương, Tôn Thọ Tường đến gảnh Mù U dụ hàng hai anh em Phan Liêm và Phan Tôn, nhưng họ đã cương quyết không hàng, cuộc thương thuyết thất bại.
Cuộc thương thuyết bất thành, sáng ngày 15/11, giặc cho tàu chạy theo sông Hàm Luông để truy lùng quân khởi nghĩa. Sau đó địch đổ bộ lên ấp An Thới, làng An Lái, nhân dân Ba Tri làm vườn không nhà trống đánh giặc, chúng không dám vào làng mà đóng quân trên giồng cát gần làng, nơi ấy gọi là Gò Trụi, hay Giồng Gạch. Hai giờ khuya, nghĩa quân ào ạt tấn công địch khắp bốn hướng, càng về khuya nghĩa quân càng kéo đến đông, hai bên đánh giáp lá cà dữ dội, đặc biệt có sự tham gia của đốc binh Phan Tòng. Giai thoại ở Ba Tri còn kể Phan Tòng đầu đội khăn tang mẹ (mẹ Phan Tòng vừa mới qua đời trước đó mấy tháng) đã hăng hái xông trận chỉ huy nghĩa quân đánh giặc.
Trận Gò Trụi (Giồng Gạch) là trận đánh xáp lá cà lớn nhất từ khi giặc Pháp vào xâm lược Nam Kỳ cho đến lúc này, nhân dân Ba Tri gọi đây là trận giặc hè. Trong trận này, Phan Tòng đã anh dũng hy sinh (đêm 6 rạng ngày 7 tháng giêng năm mậu thìn tức này 30/1/1868). Lúc ấy, Nguyễn Đình Chiểu xúc động làm thơ điếu Phan Tòng nổi tiếng. Sau đó giặc Pháp tiến công dữ dội, chúng tìm đủ mọi cách để đè bẹp cuộc khởi nghĩa này, do
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
giặc Pháp mạnh hơn về mọi phương diện, nghĩa quân trang bị vũ khí thô sơ không có gì ngoài lòng yêu nước và chí căm thù giặc, nên cuộc khởi nghĩa dần dần tan rã. Anh em Phan Tôn, Phan Liêm chạy ra Bình Thuận tỵ địa, lúc ấy, đó là nơi đa số các sĩ phu yêu nước lánh giặc Pháp.
Dù thất bại, nhưng sự chiến đấu quyết liệt của nghĩa quân cùng sự hy sinh anh dũng của Phan Tòng, nói lên tinh thần đấu tranh bất khuất kiên cường của nhân dân Ba Tri nói riêng và Bến Tre nói chung.
Tinh thần hai chữ phao sương tuyết Khí phách nghìn thu rỡ núi sông
(Điếu Phan Tòng)
Cuộc khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm, Phan Tòng tuy thất bại, nhưng thực dân Pháp vẫn không dập tắt được phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân Bến Tre. Phong trào vẫn tiếp tục nổ ra tuy có lẻ tẻ, khi ấy, bộ tham mưu của nghĩa quân được đặt trong rừng rậm chạy dài theo sông Ba Lai, phía Đông Bắc cù lao Bảo, tập trung nhất là tại Bảo An.
Ngày 5/2/1868, nghĩa quân một lần nữa lại đánh đồn Hương Điểm, lúc đó đồn này dưới sự chỉ huy của một tên đội với 20 lính mã tà.
Tháng 7/1868, nghĩa quân nổi lên đánh ở Cái Mít, tháng 8 ở Phú Ngãi và Tân Điền, tổng Bảo Thạnh (Ba Tri).
Cùng thời gian này, một cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn hơn nổ ra ở vùng Phong Mỹ, Phong Nẫm, Ba Mỹ, Tân Xuân, Ba Châu (Châu Thới, Châu Phú, Châu Bình thuộc Giồng Trôm) do Lê Quang Quan (còn gọi là Tán Kế) lãnh đạo. Nghĩa quân do ông lãnh đạo gây ra nhiều thất bại cho Pháp, thực dân Pháp điều thêm lực lượng tăng cường đàn áp khủng bố. Mặc dù vậy dưới sự chỉ huy của ông, nghĩa quân vẫn kiên cường chống trả quyết liệt về sau do trang bị vũ khí thô sơ, lực lượng bị tiêu hao dần nên không thể kháng cự với thực dân Pháp được nữa, ông buộc phải giải tán phần lớn lực lượng để tránh sự hy sinh không cần thiết, số còn lại rút vào rừng để bảo toàn, củng cố lực lượng chờ thời cơ.
Do sơ suất mất cảnh giác, một tên phản bội đã chỉ điểm cho Pháp nơi ông ẩn náu nên ông bị sa vào tay giặc. Ngày 21/2/1869, thực dân Pháp đã đưa ông về hành quyết tại Châu Thới và bêu đầu tại chợ ba ngày, hòng lung lạc và uy hiếp tinh thần của nhân dân địa phương. Nhưng nhân dân cảm phục sự hy sinh anh dũng của ông và lập miếu thờ ông ở nhiều nơi.
Sau cái chết của Tán Kế ít lâu thì tháng 5/1869, nghĩa quân lại nổi lên tiến công vào làng Đồng Xuân ở Ba Tri. Địa phương chí tỉnh Bến Tre ghi: “tháng 5/1869, một tốp đàn ông khoảng 100 người, trang bị súng tấn công vào Đồng Xuân (Tân Xuân – Ba Tri hiện nay). Bọn họ giết chết cai tổng trị và người em là xã trưởng làng nầy” [26,18].
Nhân dân Bến Tre vẫn tiếp tục chống Pháp gây cho chúng nhiều khó khăn tổn thất. Ngoài khởi nghĩa vũ trang, phong trào còn diễn ra dưới hình thức bất hợp tác với
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
giặc, ở những nơi giặc Pháp chiếm đóng, nhân dân sẵn sàng hy sinh tài sản của mình làm
“vườn không nhà trống”. Năm 1869, nhân dân làng Quới Điền, tổng Minh Phú bỏ nhà cửa, ruộng vườn ra đi, tháng 10 – 11/1870, nhân dân làng An Lái, tổng Bảo An, dân làng An Thới, tổng Minh Huệ cũng bỏ làng đi nơi khác. Năm 1878, nhân dân Tân Bình (Mỏ Cày) đốt chợ giồng keo, năm 1879 nhân dân An Thạnh đốt chợ Thom tỏ thái độ bất hợp tác với địch…
Năm 1879 ở Mỏ Cày, Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương, Khoan Dân, Thọ Dung, lãnh đạo nhân dân nổi dậy đánh Pháp rất Kiên cường.
Tháng 4/1893, một nghĩa quân tên là Hung từ Côn Đảo vượt ngục về tập hợp lực lượng tập kích đồn Bang Tra nằm ven sông Cổ Chiên, nhưng việc không thành, các chỉ huy đã tự sát để bảo toàn khí tiết.
Ngoài các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục nói trên, nhân dân một số nơi của Bến Tre còn tích cực hưởng ứng tham gia cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân ở Mỹ Tho.
Nhân dân Bến Tre ngoài việc trực tiếp tham gia cuộc khởi nghĩa, còn ủng hộ lương thực, tiền bạc, vũ khí cho cuộc khởi nghĩa. Từ năm 1870 đến 1875, các hòa thượng Quảng Giáo, Tân Định, Chơn Quang, Tịnh Quang, Từ Quang liên tục vận động cả người và lương thực phục vụ cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân. Viên thống đốc Nam Kỳ từng ra lệnh phạt 11 làng của Bến Tre bằng tiền Pháp vì tội tham gia phong trào khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân.
Mặc dù các cuộc khởi nghĩa thất bại, nhưng nói lên tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của người dân xứ dừa, triều đình hàng giặc nhưng nhân dân không chịu cuối đầu. Tấm lòng yêu nước là vẻ đẹp trường tồn biến mất trong lòng mỗi con người Nam Bộ nói chung, Bến Tre nói riêng, tình cảm ấy dường như sâu lắng, mạnh mẽ hơn khi đất nước rơi vào tay giặc và thái độ hèn nhát, thỏa hiệp đầu hàng của triều đình Tự Đức, ý nghĩ và hành động của họ là sự kết tinh của một tấm lòng, là bản lĩnh, khí khái của người dân xứ này. Trịnh Viết Bằng, Phan Tôn, Phan Liêm, cùng với Phan Tòng, Tán Kế…
đã đứng lên đánh Pháp rất ngoan cường bằng một tinh thần bất khuất của người dân xứ dừa. Nhân dân Bến Tre tự hào và học tập kế thừa lòng yêu nước, yêu quê hương của những tấm gương bất khuất này.
Vị trí đất cù lao là một vùng đất cuối sông cận biển, từ khi người Việt vào ba cù lao này lập nghiệp, là bắt đầu một cuộc tự mình vươn lên, không có bản lĩnh, tài năng và lòng dũng cảm thì không thể chế ngự được thiên nhiên, làm chủ một vùng đất đai trù phú. Chính cuộc đọ sức kiên trì và quyết liệt ấy là nhân tố thử thách, đào luyện nên bản sắc và tính cách của con người trên đất cù lao. Con người lớn lên cùng với sự trù phú của thiên nhiên được cải tạo và sáng tạo, chính trong quá trình đó xứ sở cù lao đã sản sinh ra những võ tướng, những anh hùng, những danh nhân văn hóa nổi tiếng một thời vì những chiến công mở nước, giữ nền trị an, bảo vệ quê hương đất nước. Tìm hiểu đất và người Bến Tre là để góp phần hiểu rõ chiều sâu những gì đã nuôi dưỡng, phát huy và sáng tạo truyền thống dân tộc Việt Nam trên vùng đất mới.
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf