Từ những chất liệu của lịch sử vùng đất này, bức tranh toàn cảnh của Bến Tre đã được phác hoạ với những nét chân thực và sinh động

Một phần của tài liệu Vùng đất bến tre trong các thế kỷ xvii xix (Trang 133 - 140)

TỔNG QUAN VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI BẾN TRE

2. Từ những chất liệu của lịch sử vùng đất này, bức tranh toàn cảnh của Bến Tre đã được phác hoạ với những nét chân thực và sinh động

Từ thế kỷ XVII, những lưu dân đã có mặt nhiều nơi trên vùng đất Bến Tre, đầu tiên định cư trên các giồng đất cao ráo giữa các cù lao, từ trên đất giồng tiến hành khai phá xuống những vùng trũng sâu. Từ cù lao Bảo qua cù lao Minh rồi từ cù lao Minh qua cù lao Bảo đến cù lao An Hóa lập nên những trại, thôn, xóm, làng…

Cuối thế kỷ XVII về sau các chúa Nguyễn thực hiện chính sách khuyến khích chiêu mộ dân từ các xứ Ngũ Quảng vào mở rộng sự nghiệp khai hoang mở đất ở những nơi còn chưa được khai phá. Có dân cư mới có thôn ấp, có làng xã mới có cơ sở thành lập

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

tổng, huyện, dinh, trấn… Người Việt có ưu thế lớn và sớm khẳng định vị trí hàng đầu của mình trong việc khai phá vùng đất này. Thực tế đó là cơ sở khách quan để chúa Nguyễn chủ động triển khai tổ chức di dân người Việt vào Nam Bộ, đồng thời tạo điều kiện cho một số người Hoa đến cộng cư với người Việt. Trên cơ sở đó nhà Nguyễn từng bước xây dựng bộ máy cai trị trên vùng đất mới này, đó là một thực tế diễn ra trong thời kỳ người Việt khai hoang mở đất lập nghiệp về phương Nam hơn ba thế kỷ trước đây.

Trong thời gian trên nửa thế kỷ (1698 – 1757), các chúa Nguyễn từng bước đặt xong cơ sở hành chính trên khắp Nam Bộ, trong đó có Bến Tre. Với chính sách khuyến khích khẩn hoang diễn ra ồ ạt, quá trình lập nên làng xã diễn ra khá nhanh, vùng đất Bến Tre cũng có nhiều sự thay đổi về tên gọi và địa giới khá phức tạp: tổng, huyện, dinh, traán, phuû…

Đến thời Minh Mạng, nhà Nguyễn đã xây dựng một thiết chế quân chủ chuyên chế hoàn chỉnh trên vùng đất mới này. Khi giặc Pháp xâm lược Bến Tre, triều Nguyễn nhu nhược từng bước dâng 3 tỉnh miền Đông rồi miền Tây vào tay giặc. Thực dân Pháp tách hai phủ Hoằng An, Hoằng Trị khỏi tỉnh Vĩnh Long để thành lập Bến Tre.

Khi đặt chân lên vùng đất mới này, lưu dân người Việt sớm phát hiện những thuận lợi của phù sa màu mỡ, đồng thời cũng thấy được tính chất khắc nghiệt của vùng cù lao là đất trầm thủy, nê địa, rừng bụi hoang vu… Người xưa đã có phương thức khai phá sáng tạo, để cải tạo đất đai, chinh phục thiên nhiên, xây dựng và phát triển đời sống, tạo nên một vùng kinh tế – văn hóa mang sắc thái đặc thù của một nền văn minh sông nước.

Với dũng khí và khát vọng chinh phục thiên nhiên cùng với kinh nghiệm trồng lúa nước, lưu dân đã có công tạo ra một vùng nông nghiệp lúa nước với năng suất cao, là vựa lúa góp phần cung cấp lương thực ra Đàng Ngoài. Bờ biển dài thuận lợi cho việc phát triển kinh tế thủy, hải sản kết hợp với vốn kinh nghiệm mang theo từ quê cha đất tổ.

Nghề thủ công cũng phát triển khá sớm, có nhiều nghề nổi tiếng như dệt vải, làm đường, dệt chiếu, đóng ghe, làm muối, làm các loại mắm, làm bánh phồng, bánh tráng, chiết cây ghép cành, lai tạo giống cây mới để có một tương lai đầy hứa hẹn như hôm nay. Theo đó là sự xuất hiện của miệt vườn trù phú xum xuê bốn mùa cây trái.

Cùng với việc khai phá vùng đất, là việc đào mương lên liếp lập vườn, tháo chua rửa mặn….Từ khoảng giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX miệt vườn nơi đây được biết đến với nhiều loại cây trái đặc sản mà nổi tiếng nhất là cau và dừa. Lê Quý Đôn đã phải thừa nhận “Gia Định nhất thóc nhì cau”, mà thời ấy cau nổi tiếng là cau Mỹ Lồng, còn Ba Lai “dừa khô thổ sản nổi danh Nam Kỳ”. Từ giữa thế kỷ XIX người ta đã quen gọi Bến Tre là Xứ Dừa với hàm nghĩa là một vùng quê giàu có: “Bến Tre nước ngọt lắm dừa, ruộng vườn trù phú biển thừa cá tôm”. Những đặc sản miệt vườn như cau, dừa sớm trở thành sản phẩm hàng hoá trong đời sống kinh tế nông nghiệp ở vùng đất mới, có sản phẩm hàng hóa tất nhiên có giao lưu trao đổi. Kinh tế miệt vườn góp phần thúc đẩy sự ra đời và phát triển hoạt động thương nghiệp cùng nếp sống văn minh miệt vườn với sắc thái độc đáo.

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Cùng với việc phát triển nền kinh tế đa dạng, cư dân nơi đây cũng đã tái tạo vốn văn hóa ẩn trong tiềm thức mà người Việt đã mang theo trên bước đường đi lập nghiệp, để rồi dần chuyển sang sự sáng tạo đích thực để có những sản phẩm văn hóa của mình, của chính vùng đất cù lao này.

Người Việt ở Bến Tre đã tạo ra những dòng ca dao, những điệu lý câu hò, nói vè, nói trạng… Người Việt nơi đây còn có chiếc áo bà ba, chiếc khăn rằn, các loại mắm và thức ăn đặc biệt từ dừa, rồi những kinh nghiệm đi lại trên sông nước…, kể cả tâm hồn, tư tưởng, tình cảm, tình yêu quê hương… Rõ ràng đây là những nét văn hóa Việt chỉ có ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung, Bến Tre nói riêng. Đặc điểm phong cách văn hóa của cư dân Bến Tre đã góp phần làm đa dạng văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long tạo cho nơi này một bản sắc riêng độc đáo.

Người cù lao chẳng những cật lực lo mở đất và trồng cây, mà còn biết chăm lo đến sự nghiệp trồng người. Chính vì giàu tinh thần hiếu học mảnh đất cù lao này đã sản sinh nhiều danh nhân chí sĩ đỗ đạt cao và tài năng như Lê Văn Đức, có người đỗ đại khoa đầu tiên của đất Nam Kỳ như tiến sĩ Phan Thanh Giản, có người được bầu vào hàng thế giới thập bát văn hào như nhà bác học Trương Vĩnh Ký, có các nhà thơ yêu nước nổi tieỏng nhử Nguyeón ẹỡnh Chieồu, Phan Vaờn Trũ.

Kinh tế văn hóa đầy sáng tạo và sức sống của miệt vườn Bến Tre đã góp phần tạo nên sự trù phú, giàu có ở vùng đất Phương Nam, chẳng những giàu có về vật chất mà còn rực rỡ về văn hiến.

Sự hình thành vùng đất vườn, xây dựng nên hệ thống sinh thái mới, đã đem lại cho con người một cuộc sống ổn định, khí hậu hiền hòa, thích nghi với việc định cư lâu dài, vườn cây mở ra xanh ngút ngàn, cư dân càng thêm đông đúc, nhà cửa khang trang, trên bến dưới thuyền tấp nập. Trên dòng sông, đồng ruộng vang vang tiếng hát giọng hò, điệu lý… là một sự đổi mới hoàn toàn so với thời dân cư thưa thớt, rừng bụi hoang vu…

Không còn tâm trạng khắc khoải lo âu “đến đây xứ sở lạ lùng, con chim kêu cũng sợ con cá vùng cũng kinh”. Sáng tạo môi trường sống của người Việt trên ba dải cù lao này trải qua hằng thế kỷ lao động nhọc nhằn vất vả, không biết bao nhiêu con người đã ngã xuống vì công việc chinh phục thiên nhiên đầy gian khổ này.

3. Quá trình lao động chinh phục thiên nhiên, đấu tranh xây dựng bảo vệ cuộc sống đã thử thách, tôi luyện nên phẩm chất, tính cách đặc trưng của con người trên đất cù lao Bến Tre.

Trong hoàn cảnh đi phá rừng lấn biển khai hoang mở đất, người dân sống giữa thiên nhiên, dựa hẳn vào thiên nhiên đồng thời vật lộn với nó để mà tồn tại và phát triển, con người đã đối đầu với bao nỗi khó khăn. Người dân ở đây đã tạo cho mình một lối sống phù hợp, một phong cách ứng xử để mà tồn tại theo dòng chảy của lịch sử. Chính cuộc đọ sức kiên trì và quyết liệt ấy đã đào luyện nên bản sắc và tính cách của con người trên đất cù lao. Tình làng nghĩa xóm thấm đẫm, một lối sống phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, không luồn cúi, năng động, sáng tạo, khẳng khái và chân thành, bộc trực nhưng rất nhân hậu và bao dung… Nổi bật nhất vẫn là tinh thần yêu nước đi đôi với sự đấu tranh bất khuất và khả năng chịu đựng vượt qua mọi khó khăn gian khổ, ác liệt.

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Khi cuộc sống đi vào ổn định họ phải đối đầu với ách áp bức bóc lột của những tên địa chủ, những kẻ quyền thế, những tên thực dân xâm lược, giày xéo quê hương thì tinh thần yêu nước một lần nữa phát huy cao độ, khi cần họ có thể chiến đấu “một mất một còn”, không lùi bước trước những thế lực phi nghĩa.

Các thế lực cường hào, địa chủ đua nhau áp bức những người dân hiền lành, chăm chỉ làm ăn. Bàn tay của những người quen cầm phảng, cầm cày bừa, cầm nọc cấy lại phải cầm gươm, cầm dao phay… để đánh bọn cường hào ác bá, giặc ngoại xâm.

Lịch sử dân tộc đã để lại nhiều tấm gương về lòng yêu nước, mỗi người một vẻ.

Lịch sử mãi mãi không quên hình ảnh của Nguyễn Ngọc Thăng, Phan Liêm, Phan Tôn, Phan Tòng, Tán Kế… đã đứng lên đánh Pháp rất ngoan cường bất khuất, thà chết chứ không để rơi vào tay giặc. Người dân xứ dừa không bao giờ quên hình ảnh người anh hùng Phan Tòng đã hiên ngang xông trận đánh Pháp và hy sinh cho độc lập của quê hương, một sĩ phu yêu nước mà Nguyễn Đình Chiểu đã khóc thương trong mười bài thơ điếu thống thiết. Xin được chép đoạn thơ của cụ Đồ Chiểu khóc Phan Tòng để gợi nhớ lại hình ảnh người anh hùng dân tộc, người con của xứ dừa với tất cả lòng thành kính:

Tinh thần hai chữ phau sương tuyết Khí phách ngàn thu rỡ núi sông Gẫm chuyện ngựa Hồ, chim Việt cũ Lòng đây tưởng đó mất như còn!

Những tấm gương chiến đấu ấy đều khắc đậm tính cách của người dân Việt trên đất cù lao, nhân dân Bến Tre tự hào và học tập lòng yêu nước, yêu quê hương của những bậc tiền nhân, khí phách hào hùng ấy đã hun đúc và sản sinh lớp lớp những thế hệ thanh niên yêu nước chiến đấu anh dũng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quyết giữ lấy độc lập tự do cho mảnh đất này.

Cuộc Đồng Khởi lịch sử nổ ra ngày 17/1/1960 là dấu ấn lịch sử lớn nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân trên đất cù lao. Người dân Bến Tre nối tiếp ý chí quật cường và truyền thống yêu nước của cha ông, đã tự mình đứng lên với sức mạnh tự lực tự cường, để rồi cùng nhân dân cả nước đi đến điểm hẹn mùa xuân lịch sử 30/4/1975.

Kế tục nền kinh tế nông nghiệp đa dạng, Bến Tre vẫn tiếp tục phát triển các ngành nghề, nhất là lúa và dừa. Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu về diện tích trồng dừa. Từ dừa đã tiếp tục làm ra một đặc sản nổi tiếng không những trong nước biết đến mà còn ra đến một số nước trên thế giới đó là kẹo dừa, là đặc sản của riêng Bến Tre. Phát huy truyền thống của người xưa nghề làm bánh tráng bánh phồng hiện nay đã nổi tiếng với những làng nghề sản xuất vượt ra ngoài tỉnh và đến một số các nước trên thế giới.

Người dân Bến Tre vẫn chăm chỉ, chịu khó cần cù trong lao động, trong học tập…, người dân nơi đây biết kết hợp kinh nghiệm truyền thống cùng khoa học kỹ thuật để phát triển quê hương, lưu giữ những tinh túy của cha ông xưa như một báu vật, danh bất hư truyền “Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc”, “Sầu riêng cơm vàng hạt lép”.

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Đất cù lao đang từng phút từng giờ có nhiều thay đổi, rồi đây người dân Bến Tre sẽ không còn nỗi ám ảnh bởi sự cách bức của một xứ sở cù lao, với những cây cầu vĩnh cửu đã bắc qua sông Ba Lai, qua kênh Chẹt Sậy, qua kênh An Hóa nối liền hai cù lao Bảo – An Hóa. Bước vào thế kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba, người dân Bến Tre sẽ nhìn thấy cầu Rạch Miễu bắc ngang sông Tiền, cầu Hàm Luông nối liền cù lao Minh và cù lao Bảo. Những con đường rải nhựa về tận nông thôn… Những công trình thế kỷ mà lớp tiền nhân khi xưa đến định cư khai phá chưa bao giờ mơ ước tới, cũng như hơn trăm năm trước Nguyễn Đình Chiểu ngậm ngùi mơ ước:

“Biết thuở nào cờ phất trống rung,

Hỡi nhật nguyệt hai vầng sao chẳng đoái”

Hay:

“Ngày nào trời đất an ngôi cũ Mừng thấy non sông bặt gió Tây”

Thì hơn 200 năm sau, cũng những con người mình trần, chân lắm, tay bùn đã đứng lên nối tiếp truyền thống cha ông xưa phất cờ khởi nghĩa đuổi giặc, thống nhất quê hương, từng giờ từng ngày xây dựng ba đảo dừa xanh càng xanh càng đẹp hơn. Từ một đất cù lao hoang vu, có được diện mạo như ngày nay người dân Bến Tre thấy thấm thía bieát bao.

Tuy nhiên, với thời gian ba thế kỷ để Bến Tre trưởng thành và phát triển trong đó khoảng một phần ba là quá trình khai phá xây dựng, hai phần ba còn lại bị địa chủ cường hào áp bức, chiến tranh tàn phá, hoặc vừa khai phá đan xen với chống áp bức cường quyền, chống chiến tranh tàn phá, cướp bóc của giặc ngoại xâm, rồi thực dân Pháp, đế quốc xâm chiếm Bến Tre, địch chà đi xát lại mảnh đất này. Chiến tranh đã đi qua, nhưng cuộc sống và con người còn lại, từ trong cuộc sống nghèo nàn lạc hậu, mang nhiều hậu quả của chiến tranh kéo dài, ác liệt, người dân Bến Tre phải vất vả làm lại từ đầu để hàn gắn vết thương chiến tranh, kiến thiết lại quê hương. Bến Tre là nơi nổi tiếng lúa gạo, dừa nhưng vẫn là một tỉnh nghèo vì nền kinh tế dựa trên cơ sở nông nghiệp. Con đường phía trước đi lên công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đòi hỏi nhiều thử thách gian nan, đó không phải là con đường đơn giản, suông sẻ, thẳng tấp đến tương lai.

4. Lịch sử đặt ra yêu cầu gì cho Bến Tre hôm nay?

Ba mươi năm sau ngày thống nhất đất nước, Bến Tre cùng cả nước khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, nền kinh tế vẫn tiếp tục phát triển và tăng trưởng khá, từng bước ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, nhìn lại thực tế Bến Tre cho đến nay vẫn còn nhiều mặt hạn chế, thể hiện rõ nhất là nền kinh tế có tăng trưởng nhưng còn chậm và chưa vững chắc. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch dần theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng cũng rất chậm, tỉ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP còn cao, công nghiệp dịch vụ phát triển chậm và đạt tỉ trọng thấp. Cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội được đầu tư xây dựng nhanh hơn, toàn diện hơn, nhưng chưa đủ mạnh, thiếu đồng bộ, chậm phát huy

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

hiệu quả và chưa tạo điều kiện để phát huy lợi thế, tạo sự đột phá để thúc đẩy sự phát trieồn chung cuỷa tổnh.

Trên lĩnh vực xã hội, công tác xóa đói giảm nghèo được tập trung dồn sức khá nhiều nhưng hiệu quả chưa cao, chưa chuyển biến căn cơ, bền vững. Tình trạng lao động thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn còn, tệ nạn xã hội, trật tự xã hội từng lúc còn diễn biến phức tạp. Công tác giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa phát triển chưa đồng đều, vẫn còn sự cách biệt giữa Thị xã, Thị trấn với một số vùng nông thôn ở vùng sâu, vùng xa.

Nhìn chung, kinh tế chủ yếu vẫn là kinh tế sản xuất nông nghiệp và thủy sản, các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ trọng nhỏ. Đằng sau những thành tựu thời gian qua đang tiềm ẩn nguy cơ tụt hậu, nếu như các ngành công nghiệp và dịch vụ không được tập trung đầu tư. Đây là vấn đề rất nan giải, là bài toán khó đặt ra, là thử thách lớn cho những nhà lãnh đạo Bến Tre trong thời gian tới, làm thế nào để Bến Tre có sự phát triển đồng bộ, cân đối giữa các ngành nghề, có bước đột phá trong sản xuất nông nghiệp, tạo đời sống nhân dân ổn định vững chắc hơn về vật chất lẫn tinh thần.

Theo chúng tôi thời gian tới các nhà lãnh đạo tỉnh, cũng như những người đứng đầu các ban ngành tỉnh, nên tập trung hướng mạnh vào phát triển nông nghiệp chủ yếu là chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa, tăng cao hiệu quả sản xuất, tạo nhiều việc làm và tăng mức thu nhập cho nông dân, tạo tiền đề cho nông thôn phát triển toàn diện, hiện đại và bền vững, phát triển mạnh các ngành công nghiệp phục vụ cho sản xuất, cần nhanh chóng hình thành những ngành công nghiệp mới, không truyền thống khác. Đồng thời tạo được mối liên kết bền vững trong phát triển công nghiệp (giữa sản xuất nguyên liệu và công nghiệp chế biến, giữa sản phẩm của ngành công nghiệp này là nguyên liệu của ngành công nghiệp khác, giữa hiện đại và truyền thống).

Trong thời gian tới ở Bến Tre nên có kế hoạch sản xuất nông nghiệp gắn liền với khai thác có hiệu quả các nguồn nguyên liệu nông – thủy sản vốn rất phong phú đa dạng của vùng đất này. Trong đó cần chú trọng đúng mức việc chế biến nông sản nhằm nâng cao giá thành sản phẩm nông nghiệp, từ đó tạo thu nhập ổn định căn cư cho người dân, đồng thời góp phần tích cực vào công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, tập trung hơn nữa vào việc phát triển dịch vụ du lịch, phát triển trung tâm thương mại – chợ gắn với phát triển sản xuất phù hợp với phát triển kinh tế của từng vùng.

Nói về cây dừa ở Bến Tre, từ thuở người Việt đến định cư trên ba dãy cù lao thì cây dừa đã có mặt, nó thủy chung và gắn liền với đời sống của nông dân, nhưng hiện tại Bến Tre chưa làm giàu bằng cây dừa trong khi Bến Tre có sản lượng dừa lớn nhất nước.

Những bước thăng trầm của cây dừa trong những năm gần đây đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhiều gia đình, dừa rớt giá, do không có nơi tiêu thụ, tư thương ép giá… thật khủng khiếp khi đã qua thời kỳ chạy theo kinh tế thị trường, người ta thẳng tay chặt phá bỏ cây dừa để trồng các loại cây khác. Chúng tôi thiết nghĩ, Ban lãnh đạo Bến Tre nên có kế hoạch đầu tư hơn nữa vào công nghiệp chế biến dừa, có khả năng tiêu thụ, nâng cao giá thành của dừa để người dân tin tưởng an tâm vào việc trồng dừa. Cây dừa là sản phẩm quý, tất cả các thành phần của cây dừa đều có thể chế biến nhiều mặt hàng

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Một phần của tài liệu Vùng đất bến tre trong các thế kỷ xvii xix (Trang 133 - 140)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(144 trang)