Tình hình xã hội

Một phần của tài liệu Vùng đất bến tre trong các thế kỷ xvii xix (Trang 57 - 72)

4.1- Tình hình xã hội vùng đất Bến Tre (1757 1801):

Năm 1757, Tổng Tân An (tiền thân đất Bến Tre) sau khi được thành lập từng bước ổn định và phát triển theo tiến trình hoạt động khai hoang của cư dân. Khi ấy tổng Tân An đã có hàng trăm thôn, trại, ấp. Ba Vác (Ba Việt) là lỵ sở đầu tiên của tổng Tân An, châu Định Viễn (1757) là điểm hội tụ náo nhiệt nhất của cư dân vùng đất Bến Tre thời kỳ đầu mới khai hoang mở đất lập thành các đơn vị hành chính đầu tiên. Trong các hoạt động kinh tế lúc đó, sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vị trí chủ yếu, phần lớn trồng lúa với hai phương thức canh tác phù hợp với hai loại đất ruộng đó là: sơn điền và thảo điền.

Về sau với sáng kiến đào mương lên liếp lập vườn, nghề làm vườn xuất hiện mang lại thu nhập gấp nhiều lần so với nghề trồng lúa, vùng đất Bến Tre trở thành nơi có nhiều cây trái trù phú được mệnh danh là miệt vườn.

Sản lượng lúa của Bến Tre thời kỳ ấy không chỉ cung cấp đủ cho nhu cầu của cư dân tại chỗ mà còn dư thừa góp phần cung cấp cho miền Trung hoặc trở thành hàng hóa trao đổi với các nơi khác.

Vùng đất Bến Tre thời kỳ đầu từ năm 1757 đến 1771 có thể xem là thời kỳ bình yên của cư dân nơi đây. Hoạt động sản xuất ngày càng tăng, việc buôn bán trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển. Có thể nói vùng Ba Vác là vùng trù phú vào bậc nhất của Bến Tre lúc ấy. Đến năm 1777, khi cuộc chiến tranh của quân Tây Sơn và Nguyễn Aùnh xảy ra thì vùng này mới bị suy tàn.

Giai đoạn đầu dưới thời chúa Nguyễn, quá trình chiếm hữu ruộng đất xảy ra có chậm hơn so với quá trình khai phá đất đai. Qua việc nghiên cứu các tài liệu lịch sử, các thư tịch cổ, cho phép chúng ta có một sự phỏng định, thế kỷ XVII, XVIII, vùng đất

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

phương Nam còn nhiều nơi hoang vu, đất rộng người thưa, chính quyền chúa Nguyễn cho phép lưu dân được tự do tìm lấy đất khai hoang cày cấy, thậm chí các chúa Nguyễn còn cho phép cả đám tù binh vào khai hoang mở đất. Tất cả xuất phát từ việc chúa Nguyễn muốn nhanh chóng phát triển kinh tế, tăng thêm nguồn lương thực có thể cung cấp cho cả xứ Đàng Trong, Đàng Ngoài, hơn nữa nhằm để thực hiện nhiệm vụ chiến lược của chúa Nguyễn là mở rộng phạm vi và củng cố cứ địa ở đàng trong đủ sức đối chọi với họ Trịnh ở đàng ngoài, vì vậy ngoài việc cho lưu dân tự do chiếm đất cày cấy, và còn thi hành chính sách khuyến khích việc trưng đất khẩn hoang, lập thành ruộng đất tư cho riêng mình. Điều này được ghi trong các thư tịch như Phủ biên tạp lục, Gia Định thành thông chí. Lê Quý Đôn ghi: “Những người nào sức lực khai khẩn những nơi rừng núi hoặc những đất hoang nhàn, khi nào ruộng đất thành thục thì chủ khẩn phải làm giấy tờ khai trình, tức thì nhà nước cho phép các chủ khẩn được khai các ruộng đất mới trưng khẩn làm khoảng ruộng đất tư của mình…” [19,226].

Ngoài những chính sách thừa nhận quyền tư hữu về những ruộng đất khẩn hoang.

Các chúa Nguyễn còn có chính sách “mở”, “khuyến khích” người dân có vật lực, tài lực đi khai hoang lập nghiệp, đối với những tù phạm, chúa Nguyễn chủ trương xá tội cho họ, miễn sưu dịch cho các đinh sưu. Các tầng lớp dân cư miền ngoài theo chính sách động viên của nhà Nguyễn đã vào Đồng Nai – đồng bằng sông Cửu Long (trong đó có Bến Tre) để khẩn hoang.

Khi đến định cư ở vùng đất Bến Tre, buổi ban đầu những lưu dân thường có tập quán sống quần tụ với nhau theo quan hệ gia đình dòng họ, có khi cùng quê quán, cùng một tôn giáo, họ sống quần cư trên những thế đất cao ráo, gần bến sông hay mé rạch, thuận lợi cho nguồn nước tưới tiêu và đi lại vận chuyển. Dần dần về sau thôn ấp được hình thành, họ cùng nhau lập chợ, lập đình, chùa, họ cùng hỗ trợ nhau trong sản xuất sinh hoạt… Tuy nhiên, buổi ban đầu kỹ thuật canh tác còn đơn sơ, sức lao động, phương tiện canh tác còn rất nhiều hạn chế. Cách thức khai hoang vẫn là theo lối “móc lõm”, nghĩa là những nơi nào hội đủ những điều kiện tốt nhất (có địa thế đất đai hợp với cây trồng, nước tưới tiêu, điều kiện bảo vệ mùa màng…), sau đó có đủ điều kiện mới khai phá rộng dần ra nơi khác. Theo thời gian, các tụ điểm dân cư dần dần nối liền nhau và tỏa rộng ra theo dạng tia tỏa.

Tổ chức làng xã ở đồng bằng sông Cửu Long (trong đó có Bến Tre) ngay từ buổi đầu đã thiếu tính cấu kết chặt chẽ, việc quản lý của nhà nước phong kiến cũng không xiết chặt vòng kiềm tỏa quanh mọi người dân. Ở Bắc Bộ tổ chức làng xuất hiện từ sự tan rã của công xã nông thôn, các thành viên của làng không chỉ gắn bó với nhau bằng các quan hệ máu mủ mà còn gắn bó cả bằng những quan hệ sản xuất. Trái lại làng ở vùng đất Bến Tre ra đời trong tiến trình khai phá vùng đất mới từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX.

Đất đai ở Nam Bộ màu mỡ còn khá rộng rãi, thiên nhiên lại hào phóng với con người, đã vậy ở nơi đây không có tâm lý phân biệt dân chính cưdân ngụ cư (còn gọi là dân nội tịch và dân ngoại tịch) như ở đồng bằng Bắc Bộ. Thế nên, người dân có tâm lý sẵn sàng bỏ đi nơi khác một khi nơi ở củ họ cảm thấy không thể nào sống được nữa, kể cả mặt vật chất lẫn tinh thần, yếu tố này đã tác động về mặt số lượng cũng như gây nên sự xáo trộn

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

về địa bàn cư trú của dân cư trên diện rộng. Điều này diễn ra khá nhiều ở Bến Tre từ thế kỷ XVII – XIX, có nhiều gia đình từ miền Bắc, miền Trung lúc đầu vào định cư ở Ba Tri về sau lại chuyển qua vùng Bình Đại, hoặc từ Giồng Trôm chuyển qua Mỏ Cày…

Theo kết quả khảo sát cũng như nghiên cứu nhiều nguồn tài liệu, chúng ta không tìm thấy tổ chức nông thôn theo truyền thông nam giới: giáp, phe không có mặt ở vùng đất Bến Tre ngay từ buổi đầu khai phá cũng như về sau này. Điều duy nhất và hiếm hoi mà chúng ta có thể bắt gặp trong làng ở vùng đất Bến Tre là họ. Thế nhưng ở Bến Tre sự tập hợp người theo huyết thống họ lại không có tính cố kết chặt chẽ, ở đây không có hiện tượng làng và gia tộc (họ) đồng nhất với nhau, không có dấu vết hiện tượng “làng là nơi ở của một họ”, lại càng không có việc lấy tên của một dòng họ để đặt tên làng như ở Bắc Bộ.

Các tài liệu lịch sử để lại, cùng kết quả khảo sát việc thờ phụng tổ tiên ông bà ở Bến Tre, chỉ tìm thấy mỗi một dòng họ có nhà thờ họ: đó là trường hợp họ Đoàn lúc đầu vào định cư ở huyện Tân Minh thuộc cù lao Minh (nay là xã Hương Mỹ, thuộc huyện Mỏ Cày – Bến Tre). Ngoài nhà thờ họ ra, họ Đoàn không phải là một tộc họ vận hành theo những quy ước chặt chẽ, không hề quy định gì cho rõ ràng đối với ứng xử của các thành viên theo lối đại gia đình, đại gia tộc (tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường…).

Nếu ở nông thôn Bắc Bộ tổ chức họ được duy trì qua việc thờ phụng tổ tiên, có quy ước chặt chẽ cho một thành viên (trưởng họ, tộc trưởng), có nhà thờ họ, từ đường, ruộng kị, giỗ họ, giỗ tổ… thì trong các làng ở nông thôn Bến Tre, việc thờ phụng tổ tiên chủ yếu là hoạt động trong từng gia đình nhỏ, nhưng vẫn duy trì được truyền thống uống nước nhớ nguồn.

Trong một làng ở nông thôn Bến Tre, phần lớn người dân là làm nghề nông.

Ngoài những nghề chính như trồng lúa, làm vườn, đánh bắt tôm cá, nghề thủ công ở vùng đất Bến Tre phát triển cũng khá sớm, có nhiều nghề nổi tiếng như nghề dệt vải, nghề đóng ghe, nghề dệt chiếu, làm muối, làm bánh phồng… Nhưng cho đến nay, chưa có một tài liệu nào khẳng định ở vùng đất Bến Tre có nguyên tắc tổ chức theo nghề nghiệp, để rồi tạo thành đơn vị gọi là phường hay làng nghề như ở Bắc Bộ. Ở miền Bắc, ta có thể gặp hàng loạt phường như phường gốm làm sành sứ, phường nề làm nghề xây cất, phường vải làm nghề dệt vải. Ở Bến Tre chỉ có những tên gọi rất mộc mạc như “miệt đồng”, “miệt giồng”, “miệt vườn, “xóm cói”. Cuối thế kỷ XVIII Bến Tre đã nổi tiếng là

“miệt vườn” với trái cây trù phú cũng vào hạng nhất, nhì của đồng bằng sông Cửu Long.

Nhìn chung, ở Bến Tre cũng như Nam Bộ con người gắn bó với nhau thành một cộng đồng không phải là quan hệ dòng họ, thân phận tha hương cầu thực đến vùng quê mới, khi quan hệ thân tộc không còn chặt chẽ nữa, mối gắn bó con người với nhau chỉ còn là nghĩa tình giữa họ với nhau. Trong cách đối xử của từng người với mọi người, chất dân chủ, quan hệ bình đẳng là trên hết. Vì vậy, thái độ trọng nghĩa kinh tài của người dân Bến Tre cũng như Nam Bộ thể hiện trong cách sống, không phải không có cơ sở.

Cuối thế kỷ XVIII, có thể nói rằng diện mạo của cộng đồng dân cư Bến Tre về cơ bản đã định hình trên cơ sở một nền sản xuất vật chất chủ yếu nông nghiệp và ngư

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

nghiệp bên cạnh nghề thủ công khá đa dạng. Tổ chức quản lý hành chính được kiện toàn, trật tự xã hội được thiết lập, sinh hoạt xã hội đi dần vào nề nếp ổn định, chặt chẽ hơn, trên cơ sở đó đời sống tinh thần – văn hóa của cộng đồng phát triển.

Quá trình phát triển của vùng đất Bến Tre luôn chịu sự chi phối bởi diễn biến lịch sử của cả nước nói chung và của xứ Đàng Trong nói riêng.

Năm 1770 (Canh Dần), khi Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát chết, chính quyền Đàng Trong rơi vào sự khủng hoảng, quyền thần Trương Phúc Loan nắm mọi quyền bính trong tay. Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt lên đến đỉnh cao giữa một bên là nhân dân Đàng Trong, một bên là tập đoàn thống trị. Tất cả đã tạo điều kiện cho quân xâm lược Xiêm La nhòm ngó, quấy nhiễu và cũng chính là nguyên nhân dẫn tới cuộc khởi nghóa Taây Sôn.

Ở Bến Tre cũng như Nam Bộ, quá trình chiếm hữu ruộng đất xảy ra có chậm hơn so với quá trình khai phá đất đai. Lúc ban đầu, sự sở hữu ruộng đất, phụ thuộc vào công sức của người đi khai hoang mở đất. Sau đó, khi chúa nguyễn đưa những người có “vật lực” từ Ngũ Quảng vào dần dần dẫn đến sự chiếm hữu ruộng đất.

Tiến trình phát triển công cuộc khai khẩn đất đai, đồng thời cũng là tiến trình diễn ra sự phân hóa xã hội theo hai cực ngày một sâu sắc. Tình trạng ruộng đất khai khẩn được ngày càng tập trung vào tay tầng lớp điền chủ, mức sống của người lưu dân không tỷ lệ thuận với những thành quả mà công cuộc khai khẩn đất đai đã đạt được.

Trong tác phẩm Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn viết ở thế kỷ XVIII, ông đã ghi lại rằng: “Nhà Nguyễn cho chiêu mộ những người dân có vật lực từ các xứ Quảng Nam, Phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn di cư vào đất Đồng Nai thuộc phủ Gia Định. Những người di cư mới ra sức chặt phát cây cối, cắt cỏ rậm và mở mang đất đai thành những vùng đất bằng phẳng, cho dân được tự do chiếm đất mở vườn trồng cau và xây dựng nhà cửa”, không những thế Lê Quý Đôn còn cho biết thêm: “còn cho họ thu nhận những con trai, con gái người Mọi từ trên đầu nguồn xuống, đem về làm đầy tớ, đứa ở… cho bọn người Mọi này tự lấy nhau thành vợ chồng, sinh con cái để ra sức làm ruộng tạo lập sản nghiệp riêng” [19,440]. Những người này do có nhiều tiềm lực về kinh tế, tài chính nên họ thuê mướn được nhiều nhân công, đã nhanh chóng khai phá nhiều diện tích đất đai, họ đã trở thành những điền chủ nhiều đất đai, nhiều thế lực. Nói về sự giàu có của những điền chủ này Lê Quý Đôn cho biết: “Những người giàu có ở các địa phương (nói chung về vùng Đồng Nai – Gia Định), nơi thì có 40 – 50 nhà, nơi thì có 20 – 30 nhà, mỗi nhà có đầy tớ làm ruộng hoặc đến 50 – 60 người, có 300 – 400 trâu bò cày cấy, trồng trọt, gặt hái bận rộn suốt ngày, không lúc nào nghỉ ngơi. Hàng năm đến tháng 11, tháng chạp, thường giã lúa thành gạo bán lấy tiền để ăn lễ chạp, lễ tết… Những lúc bình thường, họ chuyên chở gạo thóc ra bán tại thành Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc như lụa, lãnh, trừu đoạn, nên quần áo của họ toàn là hàng hóa màu tươi tốt, đẹp đẽ, ít khi họ dùng quần áo bằng vải thô” [19,440,441].

Qua những dòng sử liệu này cho chúng ta khẳng định, những chính sách của nhà Nguyễn đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự lớn mạnh giàu có của tầng lớp điền chủ cùng

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

với bọn cường hào làng xã, để rồi tầng lớp này trở thành chỗ dựa cho chính quyền phong kiến họ Nguyễn, đồng thời còn nắm giữ các chức vụ trong bộ máy chính quyền ở địa phương. Chính quyền họ Nguyễn đã lợi dụng thành quả khai hoang đó để củng cố chính quyền cát cứ, tạo ra một giai cấp địa chủ làm chỗ dựa cho vương triều. Ngược lại bọn địa chủ này dựa vào chính quyền, chiếm đoạt ruộng đất khai phá, biến nông dân tự do thành những tá điền hay nông nô. Người nông dân đã đổ biết bao công sức để khai hoang từng mảnh đất vỡ từng miếng ruộng, lập thành xóm làng, nhưng cuối cùng họ cũng vẫn là những người nghèo khổ không mảnh đất cày cấy. Ruộng đất khai phá đến đâu thì bị địa chủ chiếm đoạt đến đấy, ở vùng đất này, ruộng đất tư hữu chiếm ưu thế tuyệt đối và tập trung haàu heỏt trong tay giai caỏp ủũa chuỷ.

Lúc đầu người nông dân tìm cách đấu tranh chống lại nạn chiếm đoạt ruộng đất và sự bóc lột của địa chủ bằng cách bỏ đi khai phá vùng đất mới ở nơi khác. Nhưng rồi ở nơi đó, thành quả lao động mà họ đã đổ biết bao công sức để khai phá lại bị cướp đoạt và rồi số phận của họ vẫn không thay đổi, đã vậy, chính quyền phong kiến còn đặt ra hàng loạt thứ thuế: Thuế ruộng, thuế đinh, thuế tàu thuyền, thuế chợ, thuế sản vật… Bộ máy thu thuế thì cồng kềnh, bọn quan lại mặc sức tham ô hối lộ đục khoét nhân dân. Trong cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam có trích dẫn lời Lê Quý Đôn – nhà sử học thế kỷ XVIII đã nhận xét về chế độ thuế khóa Đàng Trong như sau: “Mỗi năm có hàng trăm thứ thuế, mà trưng thu thì phiền phức, gian lận, nhân dân khốn khổ về nỗi một cổ hai tròng”

[24,413].

Về thổ sản thì có hàng trăm hàng ngàn thứ thuế, nhà nước cần gì thì đặt ra thứ thuế ấy để thu, chỉ riêng thuế sản vật, người dân Đồng Nai – Gia Định trong đó có Bến Tre, thường phải nộp từ thuế vườn dừa, vườn cau đến thuế các loại lâm sản khác khai thác được như gỗ, sáp ong, trầm hương. Riêng khoảng đóng thuế này đã là quá nặng nề.

Trong Địa chí Bến Tre có dẫn lời Lê Quý Đôn nhận xét: “Hết thảy các sản vật đều lấy ở xã, thôn, phường, khi thì nộp thuế, khi thì trưng mua. Những phiền phí về sự đốc thúc, lao động, vận tải làm cho dân địa phương không thể nào kham nổi” [64,298].

Chính sách thuế khóa của chúa Nguyễn đã làm cho cuộc sống của nông dân ngày càng khổ cực, bấp bênh, mặc dù sức lao động, chí kiên nhẫn của họ có thừa, đất đai ở Nam Bộ còn rộng rãi chưa khai phá hết.

Người nông dân ở Bến Tre cũng như đồng bằng sông Cửu Long vốn là con cháu của người Việt đã từng có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm oanh liệt (chống Mông Nguyên, giặc Minh…) Khi vào vùng đất mới, họ mong muốn tìm chân trời tự do bình yên hơn, họ đã giúp đỡ đùm bọc nhau trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội đầy chông gai, thử thách. Vì vậy, trong cuộc sống nơi vùng đất mới xa lạ, họ vẫn giữ được truyền thống tốt đẹp, khi bọn phong kiến Đàng Trong áp bức bóc lột họ tàn bạo không kém giai cấp phong kiến thống trị Đàng Ngoài, và một khi mà tôn tri trật tự phong kiến cũng như ý thức hệ Nho Giáo chưa kịp ăn sâu bám rễ vào nếp sống của nhân dân nơi đây. Chính những yếu tố đó mà người nông dân nơi đây đã vùng lên đấu tranh vô cùng quyết liệt với giai cấp thống trị, để bảo vệ cuộc sống của mình. Các thế lực địa chủ,

gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Một phần của tài liệu Vùng đất bến tre trong các thế kỷ xvii xix (Trang 57 - 72)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(144 trang)