Công tác bê tông

Một phần của tài liệu 2 thuyết minh bptc 07 phung hung (Trang 163 - 169)

PHẦN VI. BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG

IV. BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CỦA SẢN PHẨM TRÊN CÔNG TRÌNH

2.8. Công tác bê tông

* Vật liệu dùng để chế tạo bê tông:

Xi măng:

Xi măng sử dụng phải thỏa mãn các quy định của các tiêu chuẩn:

+ Xi măng poóc lăng TCVN 2682 - 2009.

+ Xi măng poóc lăng hỗn hợp TCVN 6260:2009.

+ Xi măng Poóc lăng trắng TCVN 5691:2009

Chủng loại và mác xi măng phù hợp thiết kế, các điều kiện, tính chất, đặc điểm môi trường làm việc của các kết cấu công trình.

Việc sử dụng xi măng nhập khẩu (nếu có) nhất thiết phải có chứng chỉ kỹ thuật của nước sản xuất. Khi cần thiết phải có kiểm tra để xác định chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành.

Việc kiểm tra xi măng tại hiện trường nhất thiết phải tiến hành trong các trường hợp sau:

+ Khi thiết kế thành phần bê tông.

+ Có sự nghi ngờ về chất lượng bê tông.

+ Lô xi măng đã được bảo quản trên 3 tháng từ ngày sản xuất.

Tại mọi thời điểm, Nhà thầu phải cung cấp các chứng chỉ xác nhận của nhà máy sản xuất xi măng (Phiếu xuất xưởng, số lô hàng...) đảm bảo các tiêu chuẩn yêu cầu trong thời gian sử dụng phải được lấy mẫu thực tế tại hiện trường và được một cơ quan tư vấn độc lập xác nhận chất lượng.

Xi măng cần phải được xếp vào kho kín, kê lên trên cao để tránh ẩm, không được sử dụng xi măng sai nhãn, mác, xi măng đã quá hạn sản xuất.

Cốt liệu:

Cốt liệu cho bê tông và vữa phải tuân thủ TCVN 7570: 2006 "Cốt liệu cho bê tông và vữa - Yêu cầu kỹ thuật" và TCVN 7572: 2006 "Cốt liệu cho bê tông và vữa - Các phương pháp thử"

Cốt liệu cần phải sạch, không lẫn tạp chất làm ảnh hưởng đến cường độ và độ bền của bê tông, ví dụ: như hạt sét, hạt mica, các tạp chất hữu cơ, muối sunfat, canxi. Cốt liệu không được lẫn vỏ nhuyễn thể.

Cốt liệu trước khi đưa vào thi công cần phải nêu rõ nguồn gốc xuất xứ và phải có kết quả thí nghiệm của cơ quan tư vấn độc lập.

Nước:

Nước dùng cho công tác bê tông phải bảo đảm yêu cầu của TCVN 4506:2012 “Nước trộn bê tông và vữa - yêu cầu kỹ thuật”.

Các nguồn nước uống đều có thể dùng để trộn bê tông và bảo dưỡng bê tông. Không dùng nước thải của các nhà máy, nước bẩn từ các hệ thống thoát nước sinh hoạt, nước hồ ao chứa nhiều bùn, nước lẫn dầu mỡ để trộn và bảo dưỡng bê tông.

Bê tông trộn săn:

Bê tông trộn sẵn bảo đảm yêu cầu của TCVN 9340:2012 “Hỗn hợp bê tông trộn sẵn - Yêu cầu cơ bản đánh giá chất lượng và nghiệm thu".

Nhà thầu sử dụng bê tông trộn sẵn cho phần cọc bê tông, kết cấu móng nhà chính, kết cấu cột dầm sàn mái các nhà, sân đường nội bộ (Có hợp đồng nguyên tắc cung cấp bê tông thương phẩm).

Bê tông tại hiện trường:

Vị trí máy trộn và kho cốt liệu phải thuận tiện cho việc giao nhận vật liệu và bê tông.

Đường, điện, nước... phải được bố trí hợp lý, đầy đủ.

Máy trộn phải đúng kích cỡ, công suất để đảm bảo hoàn thành khối lượng công việc theo đúng tiến độ quy định. Nhà thầu phải tính toán cấp phối cho một mẻ trộn và phải được trình lên Chủ đầu tư trước khi tiến hành đổ bê tông.

Cấp phối dùng cho công tác đổ bê tông phải được tính toán và thí nghiệm do trung tâm thí nghiệm có đủ tư cách pháp nhân tiến hành. Chủ đầu tư có quyền chỉ định hoặc phê duyệt chọn trung tâm thí nghiệm. Trung tâm thí nghiệm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thí nghiệm do mình đưa ra.

* Công tác bê tông:

Công tác bê tông bao gồm: Chuẩn bị vật liệu cho bê tông; xác định thành phần cấp phối cho từng loại mác bê tông và mẻ trộn.

+ Trộn bê tông;

+ Vận chuyển bê tông từ nơi trộn đến nơi đổ;

+ Đổ bê tông vào ván khuôn, san rải và đầm bê tông;

+ Bảo dưỡng bê tông;

+ Tháo dỡ ván khuôn;

* Công tác trộn và vận chuyển bê tông:

Trước khi đổ bê tông nhà thầu sẽ chuẩn bị và trình lên Chủ đầu tư để phê duyệt, nhà thầu sẽ có trách nhiệm về chất lượng sản phẩm bê tông:

Không đổ bê tông cột, dầm, sàn... khi chưa có nghiệm thu và phê duyệt của Chủ đầu tư.

Bê tông được trộn theo mác chỉ định của thiết kế, xi măng và cốt liệu phải được tính bằng trọng lượng, nước phải được tính bằng trọng lượng hay thể tích, lượng nước không được vượt quá 1% lượng nước cần thiết cho một mẻ trộn. Cấp phối và cường độ do phòng thí nghiệm của nhà thầu hoặc phòng thí nghiệm do Chủ đầu tư chỉ định tính toán và xác định. Nhà thầu và bên cung cấp bê tông cùng có trách nhiệm giám sát việc thực hiện cấp phối và sản xuất bê tông. Cường độ và kết quả do phòng thí nghiệm đưa ra phải được chấp nhận. Cường độ bê tông là cường độ tối thiểu được chấp nhận theo qui trình kỹ thuật trên cơ sở kết quả thí nghiệm.

Khi cần đảy nhanh tiến độ thi công của các hạng mục công trình việc sử dụng bê tông cho các kết cấu chính Nhà thầu sẽ có đề xuất sử dụng bê tông R7; R14.

Bê tông thương phẩm được chuyển đến công trường bằng xe chuyên dụng.

Độ sụt được kiểm tra ở từng mẻ trộn.

Thời gian từ khi trộn đến khi đổ bê tông không quá 60 phút.

Đổ bê tông phải tránh sự phân tầng và chuyển vị của cốt thép và ván khuôn.

Bê tông được đổ liên tục và nếu có mạch ngừng thì để mạch ngừng theo vị trí thiết kế.

Vải bạt che mưa sẽ được chuẩn bị phòng khi có mưa.

* Công tác đổ bê tông:

Trước khi đổ bê tông phải kiểm tra nghiệm thu ván khuôn, cốt thép, hệ thống sàn thao tác để đảm bảo yêu cầu kỹ thuật;

Làm sạch ván khuôn, cốt thép, sửa chữa những khuyết tật sai sót;

Tưới nước trước vào ván khuôn, dùng vật liệu mỏng để trải sẵn chống dính bê tông vào cốt pha;

Trước khi đổ bê tông lên lớp vữa khô đã đổ trước phải làm sạch mặt bê tông, đánh sờm, tưới lớp nước hồ xi măng lên đó;

Đảm bảo cung cấp đủ vữa bê tông để đổ liên tục theo dự kiến kế hoạch tiến độ.

Khống chế chiều cao đổ bê tông không vượt quá 2,5m;

Phải đổ bê tông từ trên xuống; không làm sai lệch cốt thép;

Phải đổ bê tông từ xa đến gần so với vị trí tiếp nhận vữa bê tông, không dùng đầm dùi để chuyển ngang bê tông;

Khi đổ bê tông các khối lớn, kết cấu có chiều dày lớn phải đổ thành nhiều lớp và tạo mạch ngừng.

* Công tác đầm bê tông

Việc đầm bê tông sẽ đảm bảo các yêu cầu sau:

Dùng các loại đầm khác nhau, nhưng phải đảm bảo sao cho sau khi đầm, bê tông được đầm chặt và không có rỗ.

Thời gian đầm tại mỗi vị trí khoảng cách giữa các vị trí phải phù hợp với tính năng của đầm và phải đảm bảo cho bê tông được đầm kỹ (khi vữa ximăng nổi lên bề mặt và

bọt khí không còn nữa) và phải kết thúc công tác đầm chặt bê tông trước khi ximăng đổ bắt đầu liên kết.

Bảo dưỡng bê tông

Bê tông phải được bảo dưỡng khỏi ảnh hưởng xấu của điều kiện khi hậu sau khi đổ.

Cần có các biện pháp thích hợp để tránh bê tông khỏi bị bốc hơi nước quá nhiều từ bề mặt do nhiệt độ cao hay các luồng gió khô và để duy trì nhiệt độ bê tông chỉ cao hơn 50C so với nhiệt độ môi trường.

Bảo dưỡng độ ẩm thực hiện theo TCVN 8828:2011 "Bê tông nặng, yêu cầu bảo dưỡng tự nhiên".

Thời gian bảo dưỡng bê tông không được nhỏ hơn các trị số ghi trong bảng 1 và 2 của TCVN 8828:2011.

Trong thời kỳ bảo dưỡng, bê tông phải được bảo vệ chống các tác động cơ học như:

rung động, lực xung kích, tải trọng và các tác động có thể xảy ra hư hại hoặc làm giảm liên kết giữa bê tông và cốt thép.

Trong thời kỳ bảo dưỡng bề mặt lộ ra ngoài, mặt phẳng của bê tông phải được che phủ khỏi bốc hơi quá nhanh bằng các phương pháp sau:

+ Đóng ván bề mặt bê tông;

+ Trực tiếp và liên tục dùng nước dưới dạng một lớp sương mỏng để không làm hư hỏng bề mặt;

+ Bao phủ với một lớp không thấm nước sát với bề mặt bê tông để tránh sự lưu thông quá đáng của không khí;

+ Dùng màn bảo dưỡng bề mặt;

+ Các phương pháp khác được chấp thuận.

Trong bất kỳ trường hợp nào, phương pháp bảo dưỡng không được làm hư hỏng bề mặt đã hoàn tất.

Không được đi lại hay đè tải trọng lên bê tông cho đến khi bê tông đủ cứng để có thể chịu tải mà không ảnh hưởng đến bê tông.

Xử lý các khuyết tật trong bê tông: Nhà thầu áp dụng mọi biện pháp thi công bê tông để cấu kiện bê tông sau khi tháo dỡ cốp pha không có khuyết tật. Nếu có những khuyết tật nhỏ và không gây ảnh hưởng tới khả năng chịu lực của kết cấu thì nhà thầu sẽ có phương án xử lý như mục xử lý các sai sót trong thi công.

* Mạch ngừng thi công và xử lý mối nối trong công tác thi công bê tông Mạch ngừng:

Trường hợp bê tông đổ với khối lượng lớn không thể thi công liện tục được hoặc tại những vị trí cần phân đoạn thi công thì sẽ thực hiện mạch ngừng thi công. Vị trí mạch ngừng phải tuân thủ theo các qui định của tiêu chuẩn TCVN 4453: 2012 hoặc được xác định trong bản vẽ thi công. Trường hợp trong quá trình thi công phát sinh thêm các mạch ngừng khác thì phải được sự đồng ý của giám sát kỹ thuật của Chủ đầu tư.

Trong trường hợp ngừng đổ bê tông quá thời gian qui định khi đó phải đợi đến khi bê tông đạt cường độ 25daN/cm2 mới được đổ tiếp.

Nhà thầu sẽ bố trí mạch ngừng thi công như sau:

+ Đối với cột, nhà thầu sẽ để mạch ngừng tại vị trí cách đáy dầm 50mm.

+ Đối với dầm, sàn, cầu thang thường nhà thầu quyết định chọn giải pháp thi công liên tục không để mạch ngừng thi công trên sàn nhằm đảm bảo tính toàn khối cho dầm, sàn.

Để đáp ứng khối lượng thi công, nhà thầu phải có nhiều máy trộn bê tông cạnh công trình với đầy đủ các phương tiện vận chuyển vữa bê tông, máy vận thăng, tời, máy bơm bê tông (đối với bê tông móng nhà làm việc và hội trường xét xử dùng bê tông thương phẩm), có thể phục vụ liên tục suốt ngày đêm, đối với công nhân nhà thầu sẽ bố trí lao động theo ca thi công liên tục cho đến khi đổ bê tông xong từng sàn.

Trong trường hợp không thể thi công liên tục như thời tiết xấu... thì nhà thầu sẽ bố trí mạch ngừng thi công theo quy định, quy phạm của bê tông.

Trước khi thi công đổ bê tông mới nối tiếp với bê tông cũ, phải cố định lại cốt pha và bề mặt bê tông cũ tại mạch ngừng phải được đục nhám kỹ và dùng máy nén khí để thổi sạch, sau đó tưới nước xi măng lên bề mặt tiếp giáp giữa 2 lớp mới và cũ để đảm bảo tính liên kết toàn khối của bê tông.

Xử lý mối nối:

Sau khi bê tông đã đông cứng, cần phun cát hay dùng súng rung nhỏ để làm lộ các viên đá ra nhưng không làm hư hỏng hay lỏng lẻo các viên đá trong đó.

Những điều nêu trên cũng được áp dụng cho mặt nối phẳng nằm ngang và được thực hiện một giờ sau khi đổ bê tông, bằng cách dùng một cọ mềm hay nước. Nếu nhà thầu xây dựng không thực hiện các qui định trên, nhà thầu sẽ bị buộc phải đục bề mặt này tới độ sâu 12mm.

Ngay trước khi đổ lớp bê tông kế cận, mặt phẳng nối kết phải hoàn toàn sạch, làm ướt và tô một lớp mỏng vữa xi măng mới dày khoảng 12mm giống hệt với tất cả đặc tính hiện diện của bê tông được đổ.

Đối với các bề mặt lộ ra, nhà thầu phải cẩn thận duy trì một cạnh nằm ngang không bị gãy, nứt nẻ ở cạnh lộ ra hay tô một cạnh vát.

Bất kỳ mối nối thi công nào trong công tác nền móng đều phải giật bậc và chống nhau 600mm, các mặt phẳng nối phải được chuẩn bị và tô trát như được mô tả ở phần trên.

* Kiểm tra chất lượng bê tông:

Tại hiện trường:

+ Chất lượng vật liệu sử dụng cho công tác bê tông.

+ Sự làm việc của các thiết bị đo lường.

+ Công tác ván khuôn, đà giáo, cầu công tác, chi tiết đặt sẵn trong bê tông.

+ Chất lượng các kết cấu sau khi đổ bê tông, biện pháp xử lý sai sót.

Trong phòng thí nghiệm:

+ Cường độ bê tông được kiểm tra bằng phương pháp ép mẫu trong phòng thí nghiệm sau 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày.

+ Trường hợp mẫu bê tông không đạt yêu cầu, cần tiến hành kiểm tra bê tông trong kết cấu tại hiện trường bằng khoan lấy mẫu hoặc dùng súng bắn bê tông hay các thiết bị chức năng tương đương.

+ Kích thước mẫu lập phương: 15x15x15cm3.

Phương pháp kiểm tra: Theo cách hướng dẫn của tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và tại phòng thí nghiệm được công nhận theo luật của nhà nước Việt Nam.

Việc kiểm tra chất lượng bê tông phải tuân theo các tiêu chuẩn của nhà nước hiện hành và cần chú ý đến các yếu tố sau:

+ Kiểm tra độ sụt và độ cứng của bê tông.

+ Kiểm tra cường độ, khả năng chống thấm so với yêu cầu thiết kế. Giám sát của chủ đầu tư chịu trách nhiệm giám sát tất cả các công đoạn chuẩn bị đổ bê tông kể cả các mẫu bê tông kiểm nghiệm.

Việc kiểm tra độ cứng của mẫu sẽ được thực hiện cho mỗi 20m3 bê tông được đổ hoặc do quyết định của giám sát kỹ thuật phù hợp theo tiêu chuẩn qui định.

Mẫu thử sẽ được lấy tại các vị trí đại diện cho khả năng chịu lực của cấu kiện bê tông cốt thép, ngoài ra vị trí của mẫu thử cũng được thực hiện theo yêu cầu của giám sát.

Việc lấy mẫu và kiểm nghiệm bê tông là bắt buộc đối với những cấu kiện cơ bản gồm:

móng, cột, dầm, bản sàn, tường góc, cấu kiện đúc sẳn,...và giám sát thi công của chủ đầu tư sẽ yêu cầu tiến hành kiểm nghiệm cho các cấu kiện khác nếu cần.

Ngoài việc lấy mẫu có thể dùng súng bắn bê tông, siêu âm hoặc các thử nghiệm không phá hoại khác nếu được chấp nhận.

Nếu thí nghiệm xác định bê tông không đạt yêu cầu, việc quyết định khả năng sử dụng và biện pháp xử lý kết cấu đã thi công bị hư hỏng phải có sự thỏa thuận của nhà thầu thiết kế.

* Xử lý bê tông không đạt yêu cầu:

Bê tông đổ vượt quá kích thước phải bỏ bớt: tiến hành loại bỏ phần bê tông dư bằng cách cưa từng miếng nhỏ và đục bằng búa nhỏ. Việc đục bỏ không được làm rạn nứt phần bê tông còn lại.

Bê tông không đủ kích thước nhưng vẫn bọc kín cốt thép: trám bằng vữa xi măng mác cao.

Bê tông không đủ kích thước, không bọc kín cốt thép:

+ Nếu ở những vị trí không trọng yếu thì xử lý bằng sản phẩm chuyên dụng.

+ Nếu ở những vị trí trọng yếu: Nhà thầu sẽ lập báo cáo và đề xuất phương án xử lý và chỉ tiến hành xử lý khi được Chủ đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

Công tác bê tông phải được nghiệm thu bằng biên bản, sau đó nhà thầu mới được thực hiện công tác tiếp theo.

*Loại bỏ:

Mặc dù đã được mô tả đầy đủ trong qui định kỹ thuật này, bất kỳ bê tông nào không được chủ đầu tư hoặc giám sát chấp thuận về phương diện chất lượng hoặc kích thước hình học hoặc không được sản xuất theo qui định sẽ bị phá bỏ và thay thế cho đến khi chủ đầu tư hoặc giám sát chấp thuận với chi phí do nhà thầu xây dựng đảm nhận, trừ khi được chỉ định khác đi bởi chủ đầu tư hoặc giám sát.

*Kiểm tra và nghiệm thu:

Thực hiện theo tiêu chuẩn TCVN 4453: 1995

Kiểm tra chất lượng bê tông bao gồm: kiểm tra vật liệu, thiết bị, qui trình sản xuất, các tính chất của hỗn hợp bê tông và bê tông đã đông cứng. Các yêu cầu kiểm tra này được ghi ở bảng 19: TCVN 4453: 1995.

Độ sụt của bê tông được kiểm tra tại hiện trường với các yêu cầu sau:

+ Đối với bê tông trộn tại hiện trường cần phải kiểm tra ngay khi vừa trộn mẻ bê tông đầu tiên.

+ Đối với bê tông thương thẩm cần kiểm tra mỗi lần giao hàng tại nơi đổ bê tông.

+ Khi trộn bê tông trong điều kiện thời tiết và độ ẩm vật liệu ổn định thì kiểm tra một lần trong một ca.

+ Khi có sự thay đổi chủng loại và độ ẩm vật liệu, cũng như khi thay đổi thành phần cấp phối bê tông thì phải kiểm tra ngay mẻ trộn đầu tiên, sau đó kiểm tra thêm ít nhất một lần trong một ca.

Một phần của tài liệu 2 thuyết minh bptc 07 phung hung (Trang 163 - 169)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(191 trang)
w