Biện pháp thi công xây tường gạch

Một phần của tài liệu 2 thuyết minh bptc 07 phung hung (Trang 119 - 125)

PHẦN IV: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THI CÔNG

A. Giải pháp kỹ thuật, biện pháp thi công cải tạo, sửa chữa các hạng mục công trình

IV. Giải pháp kỹ thuật, biện pháp thi công xây bể nước, bể phốt

1.8. Biện pháp thi công xây tường gạch

- TCVN 4085 - 2011: Kết cấu gạch đá - quy phạm thi công và nghiệm thu.

- TCVN 6477 - 2016: Gạch bê tông

- TCVN 4314 - 2003: Vữa xây dựng. Yêu cầu kỹ thuật - Các tiêu chuẩn hiện hành khác có liên quan.

b) Công việc chuẩn bị:

- Gạch được đưa đến công trường theo tiến độ sử dụng, không dự trữ quá nhiều gây chật chội.

- Gạch sử dụng đúng chủng loại chất lượng theo quy định của thiết kế và các TCVN nêu trên.

- Vữa xây dựng được trộn bằng máy trộn tại công trường.

- Gạch phải được tưới nước trước khi tiến hành xây.

- Định vị khối xây:

+ Độ thẳng đứng của khối xây và tiến độ ngang bằng của từng hàng gạch được kiểm tra bằng các dụng cụ như: nivô, thước đo góc, quả dọi.

+ Công tác đà giáo phục vụ xây tường:

+ Khi xây tường đến độ cao 1,5 m kể từ mặt nền (hay mặt sàn) thì tiến hành bắc đà giáo để thi công tiếp tục.

+ Đà giáo phục vụ cho công tác xây dựng loại thép ống định hình, loại có độ cao khung giáo là 1,5 m, đà giáo thép ống có sàn thao tác chân kích, giằng.. .đồng bộ đi theo, sử dụng tiện lợi và cơ động.

c) Kỹ thuật thi công xây gạch:

- Kỹ thuật trộn vữa xây:

+ Trước khi trộn vữa, đơn vị thi công gửi mẫu vật liệu đến phòng thí nghiệm để thiết kế tỷ lệ pha trộn vữa.

+ Quá trình thi công, pha trộn vữa theo đúng tỉ lệ ghi trên phiếu thí nghiệm, thời gian trộn vữa không nhỏ hơn 2 phút.

+ Vữa đã trộn xong có màu sắc đồng đều, dẻo nhuyễn, trộn ra tới đâu dùng hết tới đó, không để lâu quá 2 tiếng.

+ Chất lượng vữa được xác định bằng phương pháp mẫu tại công trường.

- Kỹ thuật đặt gạch:

+ Gạch được tưới ẩm trước khi xây. Khi đặt gạch viên gạch theo đúng dấu kích thước vẽ trên mặt sàn (đối với hàng gạch đầu tiên) và theo hai dây cữ (đối với hàng gạch tiếp theo).

+ Đối với tường nhà, đặt gạch so le nhau một khoảng lớn hơn hẳn chiều dài viên gạch và cứ 5 hàng đặt 1 hàng gạch ngang và được đặt ở vị trí dưới cùng (chân tường) và trên cùng (đỉnh tường).

+ Mạch vữa trong khối xây không nhỏ quá 8mm và không lớn quá 15mm. Tuyệt đối không bố trí các mạch đứng trùng nhau.

- Biện pháp bảo vệ khối xây và ngăn đổ tường:

+ Trong quá trình xây, cần chèn đầy mạch vữa tại các vị trí liên kết giữa khối xây và khung nhà. Bố trí đầy đủ các hàng gạch quay ngang, nhất là quay ngang ở chân tường và đỉnh tường. Đặt đầy đủ và đúng quy cách các liên kết giữa khối xây khung nhà.

+ Đối với tường dày < 110mm, không xây cao quá 1,5m trong 1 ca và khi vữa đã khô mới xây ca tiếp theo.

+ Khối tường mới xây được che chắn tránh mưa bằng bạt nilông.

+ Bố trí thi công xây tường sao cho các tuyến tường mới xây không tạo thành túi hứng gió và có nguy cơ lật tường do gió bão.

+ Khi thi công và cả khi mới xây (vẫn chưa khô cứng) các khối tường trên cao, tường vượt mái cần để biển cấm đi lại hoặc làm mái che cho lối đi lại phía bên dưới.

d) Kiểm tra và nghiệm thu công tác xây tường:

- Trong qúa trình thi công, luôn dùng thước góc, quả dọi, thước tầm kiểm tra độ thẳng đứng của mặt khối xây: cứ 0,5m độ cao tường thì kiểm tra 1 lần, khi phát hiện sai lệch (có độ nghiêng) thì tiến hành sửa ngay.

- Độ ngang bằng của các hàng gạch được kiểm tra bằng nivô, ống nước và thực hiện thường xuyên cho từng hàng gạch ngay trong quá trình thi công.

- Khi một khối tường đã xây xong, tiến hành kiểm tra các yếu tố kỹ thuật như: Độ thẳng đứng của một khối xây, độ bằng phẳng của mặt tường, độ vuông góc của góc giao giữa các khối xây, mạch vữa... Yêu cầu khối xây đặc chắc, ngang bằng, thẳng đứng, phẳng phiu, không trùng mạch. Các sai số không vượt quá, trị số của bảng 4 của TCVN 4085 - 2011: Kết cấu gạch đá - Quy phạm thi công và nghiệm thu.

2.9. Công tác trát.

Công tác trát nên tiến hành sau khi đã hoàn thành xong việc lắp đặt mạng dây ngầm và các chi tiết có chỉ định đặt ngầm trong lớp trát cho hệ thống điện, điện thoại, truyền hình, cáp máy tính...

Trước khi trát tiến hành chèn các vị trí đục lắp ống kỹ thuật. Sau đó mới tưới ẩm vệ sinh. Dùng thước tầm kiểm tra ướm thử các phía để xem độ lồi lõm của tường.

Nguyên tắc trát từ trên trát xuống. Dùng vữa làm các điểm mốc trên mặt trát mốc hình vuông (5x5cm) dày bằng chiều dày cần trát phía trên. Sau đó dùng quả dọi để làm các mốc ở dưới. Căn cứ vào mốc và thước tầm để trát.

Bề mặt nền trát cần được cọ rửa bụi bẩn, làm sạch rêu mốc, tẩy sạch dầu mỡ bám dính và làm sạch. Trước khi trát, cần chèn kín các lỗ hở lớn, xử lý cho phẳng bề mặt nền trát.

Khi tiến hành trát nhiều lớp trên bề mặt kết cấu, cần lựa chọn vật liệu trát sao cho giữa nền trát, lớp trát lót và lớp trát hoàn thiện có sự gắn kết và tương thích về độ dãn

nở, co ngót. Khi trát tường, trát trần với diện tích lớn, nên phân thành những khu vực nhỏ hơn có khe co dãn hoặc phải có những giải pháp kỹ thuật để tránh cho lớp trát không bị nứt do hiện tượng co ngót.

Nếu bên trong lớp trát có các hệ thống đường ống kim loại, vật chôn sẵn, vật liệu chế tạo vữa trát phải được lựa chọn thích hợp hoặc phải có biện pháp phòng tránh sao cho không xảy ra hiện tượng ăn mòn, phá hoại.

Nếu bề mặt nền trát không đủ độ nhám cho lớp vữa trát bám dính trên bề mặt, trước khi trát phải xử lý tạo nhám bằng cách vẩy hoặc phun hồ xi măng cát, đục nhám....

và các biện pháp tạo khả năng bám dính khác. Phải trát thử một vài chỗ để xác định độ dính kết cần thiết trước khi tiến hành trát đại trà.

Nhà thầu chúng tôi sẽ tưới nước cho ẩm tường xây trước khi trát. Khi chiều dầy lớp trát lớn hơn 15mm, phải tiến hành trát làm nhiều lớp. Chiều dày mỗi lớp không mỏng hơn 5mm và không dày hơn 8mm. Các lớp trát đều phải phẳng khi lớp trước đã se mặt mới trát tiếp lớp sau, nếu lớp trước đã khô quá thì phải tưới nước cho ẩm.

Vữa trát đảm bảo mác thiết kế được trộn bằng máy trộn đảm bảo độ dẻo và tính đồng nhất. Không dùng vữa đã đông cứng và thời gian trộn của máy ngắn hơn 2 phút.

Phải kiểm tra độ bám dính của vữa bằng cách gõ nhẹ trên mặt trát, tất cả những chỗ bộp đều phải trát lại bằng cách phá rộng chỗ đó ra, miết chặt mép vữa xung quanh để cho se mặt mới tiến hành trát sửa lại.

Mặt tường sau khi trát không được có khe nứt, gồ gề, nẻ chân chim hoặc vữa chảy, phải chú ý chỗ trát dưới bệ cửa sổ, gờ cửa, chân tường, chỗ lắp thiết bị và những chỗ dễ bị bỏ sót.

Các cạnh cột, gờ cửa, tường phải phẳng, sắc cạnh; các góc vuông phải được kiểm tra bằng thước vuông. Các gờ, bệ cửa sổ phải thẳng hàng với nhau. Mặt trên của bệ cửa sổ phải có độ dốc theo thiết kế và lớp vữa trát ăn sâu vào dưới khung cửa sổ ít nhất 10mm.

Trước khi tiến hành trát đồng loạt phải tiến hành đắp mốc thả dọi kiểm tra bằng nivô và thước. Những phòng thường xuyên ẩm ướt như khu WC giữa lớp trát phải dùng vữa XM để chống thấm và tăng độ dính bám giữa các lớp trát. Khi lớp trát chưa thật sự cứng không được va chạm hay rung động, bảo vệ mặt trát không có nước chảy qua hay chịu nóng lạnh đột ngột hay cục bộ. Đối với lớp vữa trát bề mặt bên trong nhà không cho phép sử dụng phụ gia có chứa Clo.

Công tác trát ngoài thì việc đảm bảo an toàn là rất quan trọng vì vậy Nhà thầu sẽ sử dụng công nhân có tay nghề cao được trang bị đầy đủ bảo hộ, dây an toàn và được kiểm tra chặt chẽ trong suốt quá trìnhthi công.

Trát cột vuông, trụ, dầm, trước khi trát căng dây và dọi kiểm tra độ phẳng vuông góc của kết cấu. Sau đó dùng thước ke để truyền sang mặt khác. Trường hợp có nhiều cột dầm liên tiếp nhau trên 1 hàng thì làm mốc cho 2 kết cấu 2 đầu rồi dùng dây chuyền vào giữa. Sau khi làm xong mốc tiến hành trát lớp lót và lớp áo. Khi trát cột trụ dầm dùng 2 thước kẹp trát.

Tường trát khi đủ độ khô được bảo dưỡng bằng nước phun nhẹ trong thời gian một tuần.

* Kiểm tra nghiệm thu công tác trát

Độ lệch cho phép của bề mặt trát hoàn thiện như sau:

Độ không bằng phẳng kiểm tra bằng thước dài 2m; trát đơn giản thì số chỗ lồi lõm không quá 3mm, độ sâu vết lồi lõm <5mm.

Độ không bằng phẳng kiểm tra bằng thước dài 2m : Trát kỹ thì số chỗ lồi lõm không quá 2mm, độ sâu vết lồi lõm <3mm.

Độ không bằng phẳng kiểm tra bằng thước dài 2m: Trát chất lượng cao thì số chỗ lồi lõm không quá 2mm, độ sấu vết lồi lõm <2mm.

Độ sai lệch theo phương thẳng đứng của mặt tường và trần nhà: trát đơn giản thì

<15mm suốt chiều dài hay chiều rộng phòng.

Độ sai lệch theo phương thẳng đứng của mặt tường và trần nhà: trát kỹ thì <2mm trên 1m dài chiều cao và chiều rộng và 10mm trên toàn chiều cao và chiều rộng phòng.

Độ sai lệch theo phương thẳng đứng của mặt tường và trần nhà : trát chất lượng cao thì <1mm chiều cao hay chiều dài và <5mm trên suốt chiều cao hay chiều dài phòng.

Đường nghiêng của gờ mép tường cột: Trát đơn giản thì <10mm trên suốt chiều cao kết cấu.

Đường nghiêng của gờ mép tường cột: Trát kỹ thì <2mm trên 1m chiều dài và 5mm trên toàn bộ chiều cao kết cấu.

Đường nghiêng của gờ mép tường cột: trát chất lượng cao thì <1mm trên 1m chiều cao và 3mm trên toàn bộ chiều cao kết cấu.

Sau khi kiểm tra xong Nhà thầu mời Chủ đầu tư và Tư vấn giám sát tổ chức nghiệm thu.

2.10. Công tác trát.

* Chuẩn bị lớp nền

Lớp nền phải được chuẩn bị theo thiết kế, nếu thiết kế không quy định thì theo yêu cầu của nhà sản xuất vật liệu láng nền. Lớp nền phải đảm bảo phẳng, ổn định.

Lớp nền phải có độ bám dính, làm sạch và tưới ẩm trước khi láng.

Trường hợp láng bằng thủ công, trên mặt lớp nền phải gắn các mốc cao độ láng chuẩn với khoảng cách giữa các mốc không quá 3 m.

* Chuẩn bị vật liệu láng

Vật liệu láng phải đúng chủng loại, chất lượng, màu sắc. Việc pha trộn, sử dụng và bảo quản vật liệu láng phải tuân theo yêu cầu của nhà sản xuất vật liệu. Vật liệu láng có thể là vữa xi măng cát hoặc vữa polyme.

Với vật liệu láng là vữa phải tuân theo TCVN 4314:2003

* Dụng cụ láng

Gồm bay xây, bay đánh bóng, thước tầm 3 m, thước rút, ni vô hoặc máy trắc đạc, bàn xoa tay hoặc máy xoa, bàn đập, lăn gai.

* Tiến hành láng

Dàn đều vật liệu láng trên mặt lớp nền, cao hơn mặt mốc cao độ lát chuẩn. Dùng bàn xoa đập cho vật liệu láng đặc chắc và bám chặt vào lớp nền. Dùng thước tầm cán phẳng cho bằng mặt mốc. Sau đó dùng bàn xoa để xoa phẳng.

Với mặt láng có diện tích lớn phải dùng máy để xoa phẳng bề mặt. Việc xoa bằng máy thực hiện theo trình tự sau: dùng máy trắc đạc định vị đường ray của máy xoa trên phạm vi láng, điều chỉnh chân máy ở cao độ thích hợp, cấp vật liệu láng vào phạm vi láng, điều khiển máy dùng quả lu nhỏ lăn trên bề mặt láng và cánh xoa để xoa phẳng.

Với mặt láng có diện tích lớn phải dùng máy để xoa phẳng bề mặt. Việc xoa bằng máy thực hiện theo trình tự sau: dùng máy trắc đạc định vị đường ray của máy xoa trên phạm vi láng, điều chỉnh chân máy ở cao độ thích hợp, cấp vật liệu láng vào phạm vi láng, điều khiển máy dùng quả lu nhỏ lăn trên bề mặt láng và cánh xoa để xoa phẳng.

Với những mặt láng trên nền bê tông có yêu cầu như: tăng cứng bề mặt chống mài mòn, axít … phải tuân theo thiết kế hoặc yêu cầu kỹ thuật của nhà sản xuất vật liệu.

Nếu thiết kế không chỉ định, thi công theo trình tự: sau khi đổ bê tông nền từ 1 h đến 2 h rải đều chất làm cứng bề mặt. Đợi đến khi chất làm cứng se mặt, dùng máy xoa nền xoa bóng bề mặt. Sau khi xoa bóng bề mặt có thể phun lớp bảo dưỡng.

Trường hợp lớp láng cuối cùng bằng vữa xi măng cát thì kích thước hạt cốt liệu lớn nhất không quá 2 mm, xoa phẳng mặt theo độ dốc thiết kế.

* Bảo dưỡng

Khi thời tiết nắng nóng, khô hanh sau khi láng xong 1 h đến 2 h, phủ lên mặt láng một lớp vật liệu giữ ẩm, tưới nước trong 5 ngày.

Không đi lại, va chạm mạnh trên mặt láng trong 12 h sau khi láng.

Với mặt láng ngoài trời cần có biện pháp che nắng và chống mưa xối trong một ngày đến ba ngày sau khi láng.

Một phần của tài liệu 2 thuyết minh bptc 07 phung hung (Trang 119 - 125)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(191 trang)
w