Giải pháp kỹ thuật, biện pháp trắc đạc phù hợp với hiện trạng công trình

Một phần của tài liệu 2 thuyết minh bptc 07 phung hung (Trang 27 - 32)

PHẦN III: CÁC GIẢI PHÁP KỸ THUẬT

II. BIỆN PHÁP CHO CÔNG TÁC CHUẨN BỊ THI CÔNG

3. Giải pháp kỹ thuật, biện pháp trắc đạc phù hợp với hiện trạng công trình

3.1. Yêu cầu chung

Do công trình nằm trong khu vực trung tâm Thành phố, điều kiện mặt bằng thi công tương đối khắt khe. Vì thế công tác định vị công trình có yêu cầu rất quan trọng, nó đảm bảo cho quá trình thi công thực hiện theo đúng thiết kế đề ra.

Sau khi tiến hành đo đạc định vị chính xác vị trí công trình, lập các tài liệu hồ sơ cần thiết để tiến hành so sánh với thiết kế, nếu có sai lệch Nhà thầu sẽ báo cáo cụ thể bằng văn bản với Chủ đầu tư để có biện pháp xử lý kịp thời.

Để có cơ sở nghiệm thu lâu dài, Nhà thầu chúng tôi tiếp nhận vị trí tim cốt công trình từ Chủ đầu tư trên cơ sở bản vẽ định hình vị trí dựa trên hồ sơ hiện trạng công trình, bản đồ chỉ giới đường và qui hoạch tổng thể do Chủ đầu tư cung cấp.

3.2. Thực hiện

3.2.1. Lưới khống chế mặt bằng

Căn cứ vào bản vẽ định vị công trình và các cơ sở dữ liệu do Chủ đầu tư cung cấp, Nhà thầu chúng tôi tiến hành xác định các điểm gốc và được thực hiện bằng cách đo lặp lại 2 lần nhằm giảm sai số đảm bảo độ chính xác cao để lấy số liệu làm gốc, từ đó xác định hệ liên trục của công trình.

Từ các điểm mốc trắc đạc Chủ đầu tư bàn giao, Nhà thầu chúng tôi tiến hành xác định hệ lưới trục cho công trình theo phương pháp truyền dẫn và bình sai, tại vị trí công trình giáp với các công trình hiện có, do đó các tim trục được gửi lên các công trình đã có sẵn và được gửi lên mặt đất bằng các cọc thép đóng sâu xuống đất hoặc tại các điểm cố định trên công trình.

Sau khi có lưới mốc mặt bằng, được bên A nghiệm thu, kiểm tra bằng văn bản thi Nhà thầu chúng tôi mới tiến hành thi công.

3.2.2. Lưới khống chế cao độ thi công

Trên cơ sở mốc chuẩn do Chủ đầu tư và đơn vị thiết kế bàn giao. Nhà thầu chúng tôi tiến hành xây dựng mốc cao độ bằng cột bê tông cốt thép và được bảo vệ trong suốt quá trình thi công. Các điểm khống chế cao độ (là các điểm chuẩn) có cấu tạo mốc hình

cầu được gắn ở các công trình lân cận, mốc chuẩn này phục vụ cho kiểm tra độ lún của công trình trong quá trình thi công.

3.2.3. Phương pháp định vị mặt bằng và chuyển cao độ, chuyển trục các hạng mục

Từ các mốc chuẩn định vị tất cả các trục, theo các phương của công trình vào các cọc trung gian (theo phương pháp gửi tim).

Chuyển cao độ lên cao bằng máy thủy bình và thước thép sau đó dùng máy thủy bình của Nhật để triển khai cốt thiết kế trong quá trình thi công.

3.2.4. Phương pháp đo theo giai đoạn

Tất cả các giai đoạn thi công đều phải có mốc trắc đạc (tim – cốt) mới được thi công. Trong quá trình thi công phải luôn luôn kiểm tra bằng máy thủy bình và máy kinh vỹ.

Trước khi thi công phần sau, phải có hoàn công lưới trục và cốt cao trình từng vị trí của phần việc trước nhằm kịp thời đưa ra các giải pháp kỹ thuật khắc phục các sai số có thể và đề phòng các sai số tiếp theo trên cơ sở đó lập hoàn công cho công tác nghiệm thu bàn giao.

Các công đoạn xây tường, lát nền đều sử dụng máy trắc đạc để bật mực toàn tuyến bảo đảm độ chính xác cửa tường xây và độ phẳng toàn diện của nền dựa vào mực đứng và mực đồng mức.

Tất cả các dung sai độ chính xác cần tuân thủ các yêu cầu được quy định trong các tiêu chuẩn hiện hành có liên quan như : TCVN 197-1997; TCVN 4453-1995 và các quy định về chế độ dung sai.

4. Giải pháp kỹ thuật, biện pháp công tác trắc đạc công trình: Theo TCVN 9398:2012 - Trắc địa trong xây dựng công trình xây dựng.

Cách thức triển khai tim cốt,mốc gửi:

Dựa vào số liệu của điểm mốc chuẩn hiện có do Chủ đầu tư và tư vấn thiết kế đã bàn giao. Nhà thầu kiểm tra lại độ chính xác của các mốc gửi, đường truyền, góc mở, cốt cao độ được dẫn về công trình. Kiểm tra tính ổn định của các mốc này có đảm bảo trong quá trình thi công không. Nếu không đạt phải báo cáo với chủ đầu tư và tư vấn để có biện pháp sử lý trước khi định vị công trình.

Tiến hành gửi mốc và cốt cao độ lên các mốc kiểm tra theo hai phương mỗi phương tối thiểu là 4 mốc lập biên bản về cao độ của các mốc gửi, lưu tại BCH công trường và tư vấn giám sát để tiện kiểm tra đối chiếu sau nay.

a. Xác định sơ bộ:

Dùng máy trắc đạc xác định sơ bộ vị trí của công trình trên thực địa.

Xác định tiếp vị trí của các hạng mục trên mặt bằng.

Kiểm tra các khoảng cách, kích thước trên mặt bằng so với hồ sơ thiết kế.

Dấu cốt nền 0.00 tạm thời vào vài vị trí tường rào bên cạnh để có thể hình dung được cốt nền so với cốt đường.

Nếu các thông số, kích thước của bước xác định tương đối chuẩn thì không cần có bước điều chỉnh của Chủ đầu tư. Nếu các thông số, kích thước, khoảng cách có sự sai lệch phải được thông báo lại cho Chủ đầu tư và Tư vấn giám sát, Tư vấn thiết kế để chỉnh lý.

b. Xác định chính xác:

- Lưới khống chế mặt bằng

+ Lưới khống chế mặt bằng được xác định cho từng trục thi công tạo thành mạng lưới ô theo trục ngang và trục dọc. Mỗi trục được xác định hai vị trí mốc chính.

+ Mốc chính được chế tạo bằng bê tông mác 200 có cốt thép, tiết diện 150x150, được chôn sâu dưới đất 1 m, nối lên mặt đất 0,5 m và cách mép công trình tối thiểu 3 m.

Sau đó đổ bê tông chân cột mốc để bảo vệ. Trên mặt cột mốc được đánh dấu tim trục bằng sơn hoặc bằng đinh (sau khi đã kiểm tra lại tim trục trên đầu cọc bê tông đã chôn chặt mới đánh dấu tim trục của nhà).

+ Từ các mốc chính, Nhà thầu xây dựng xây dựng các mốc phụ để có số liệu kiểm tra và dễ thi công các mốc phụ được đổ bằng bê tông xuống nền đất mặt bằng nền, sau đó dùng đinh mũ, sơn để đánh dấu tim trục trên mốc phụ.

+ Số lượng mốc phụ tuỳ theo vị trí có thể trên một trục vừa có mốc phụ vừa có mốc chính để kiểm tra.

- Lưới khống chế chiều cao:

+ Sau khi có mốc bê tông cao hơn nền 50cm, Nhà thầu dẫn cốt từ mốc của chủ đầu tư vào tất cả các mốc chính của công trình làm cơ sở cho việc khống chế chiều cao của tất cả các trục.

+Như vậy ở mỗi cột mốc đều có 2 đại lượng, đó là tim trục và cao độ (Tuỳ theo chiều cao mốc so với cốt nền để đánh cốt tương ứng)

c. Xây dựng mốc giới để kiểm tra

Khi có mốc (tim cốt) Chủ đầu tư bàn giao và công trường đã xây dựng xong hệ thống lưới khống chế tim cốt. Nhà thầu xây dựng 1 đến 2 mốc riêng biệt nằm ngoài công trìnhở những vị trí khó thay đổi (như cột điện, công trình đã xây dựng v.v..) nhằm làm cơ sở để kiểm tra các mốc giới trong công trình.

d. Kiểm tra lại hệ thống mốc đã xây dựng

Sau khi đã xây dựng xong hệ thống lưới khống chế mặt bằng và độ cao bằng các mốc bê tông (Mốc chính và mốc phụ). Nhà thầu phải tiến hành cho dẫn lại từ mốc của

Chủ đầu tư để kiểm tra lại độ chính xác của mốc giới đã xây dựng. Chỉ khi chuẩn xác mới cho triển khai công tác thi công.

Để bảo vệ các mốc đã xây dựng, vị trí các mốc chính được nhà thầu đưa vào vị trí sát chân tường rào, để tránh mất mốc khi thi công. Trên mặt tường rào cú cũng có thể đánh dấu tương ứng với với cột mốc chôn dưới chân tường rào, sơn đỏ để dễ phát hiện và dễ kiểm tra.

Phổ biến cho mọi người trên công trường biết vị trí tim, cốt để cùng bảo vệ và sử dụng.

Trong quá trìnhthi công, sau mỗi phần móng, phần thân. Các điểm mốc giới đều phải được kiểm tra bằng máy trắc đạc lại từ cốt cơ sở ban đầu Chủ đầu tư bàn giao và mốc kiểm tra của nhà thầu. Nếu số liệu chính xác mới cho giác tim cốt của công tác thi công tiếp theo.

e. Công tác quản lý độ chính xác về mặt kích thước từng cấu kiện và toàn bộ công trình.

Đây là khâu quản lý nhằm tạo ra các sản phẩm có kích thước, hình dáng, vị trí lắp đặt đúng với Hồ sơ thiết kế.

Toàn bộ công trình Nhà thầu sẽ xây dựng hệ thống lưới khống chế độ cao, và lưới khống chế mặt bằng để đảm bảo cho vị trí các hạng mục công trìnhđúng với các bản vẽ tổng mặt bằng và quy hoạch. Từ những mốc chuẩn làm căn cứ để xác định vị trí từng bộ phận, cấu kiện của công trình. Trước khi thi công Nhà thầu phải dùng hệ thống máy trắc đạc xác định tổng thể công trình, sau đó xác định chi tiết từng vị trí kết cấu của công trình. Ví dụ công tác đào đất ép cọc phải được giác móng tổng thể, giác móng chi tiết và có đầy đủ các mốc xác định tim móng, bề rộng móng, chiều sâu đào móng, chiều cao đầu cọc. Kết thúc một công tác thi công đều phải kiểm tra lại độ chính xác của công tác thi công trước để tránh sai số cộng dồn. Các công tác thi công sau chỉ được tiến hành thi công tiếp theo nếu các công tác thi công trước đảm bảo đúng vị trí, hình dáng, kích thước, cao độ. Các sai số đều phải được nằm trong dung sai cho phép. Tất cả các mốc đều phải được ký hiệu tên, toạ độ điểm, góc mở so với điểm môc chuẩn thiết kế ban đầu.

Đối với công trình chúng tôi cử hai kỹ thuật chuyên kiểm tra công tác định vị công trình. Trong suất quá trìnhthi công thường xuyên bố trí hai máy, một máy kinh vĩ và một máy thuỷ bình, mia, thước thép để hỗ trợ công trác giám sát và kiểm tra, thực hiện việc kiểm tra bất cứ lúc nào mà tư vấn giám sát yêu cầu.

Biện pháp bảo vệ mốc gửi - cách kiểm soát hệ toạ độ điểm.

Để có thể gửi các mốc đảm bảo không bị dịch chuyển, thất lạc trong quá trìnhthi công trước tiên ta cần xác định vị trí gửi mốc sao cho hợp lý.

Mốc gửi phải đảm bảo các điều kiện sau:

Điểm gửi là điểm có thể phát triển rộng ra xung quanh. Và không bị tre khuất Điểm gửi và mốc chuẩn đảm bảo được sự kiểm soát theo 2 phương đảm bảo tránh sai sót.

Điểm gửi phải được đặt tại vị trí không bị ảnh hưởng bởi người và phương tiện cơ giới qua lại. không sát với các vị trí phải thi công đào, đắp đất hay tập kết vật tư

Điểm gửi có thể được rào hoặc che chắn nhưng vẫn không làm cản trở lối đi hoặc làm mất mỹ quan của công trình.

Cách kiểm soát hệ toạ độ điểm.

Thông qua hệ toạ độ điểm lưới để xác định mọi vị trí tim trục cho kết cấu công trình. Tuy nhiên trong quá trìnhtriển khai để tránh sự nhầm lẫn do quá trìnhsử dụng số liệu, hoặc lỗi do máy, ta vẫn có thể dùng các phép kiểm tra để kiểm soát các số liệu thi công, cách thức kiểm tra như sau:

Kiểm tra máy: Thông qua máy vi tính ta có thể xác định vị trí điểm, toạ độ điểm một cách chính xác. Từ đó ta mở góc, phóng cạnh để đối chiếu nếu sai số nằm không trong phạm vi cho phép thì ta sẽ phải hiệu chỉnh lại máy. Ngoài ra ta vẫn có thể dùng những cách đơn giản hơn mà không cần phải sử dụng đến máy vi tính, dùng trực tiếp thước thép kiểm tra trên một mặt phẳng, đối chiếu đo cạnh dài của máy tim thước thép, với ô cách thức. Như vậy ta hoàn toàn kiểm soát được máy đo đạc trước khi đưa vào sử dụng cho mỗi hạng mục công trình.

Kiểm tra sai số khi đo: Dùng phương pháp đo vòng, điểm khép kín, kiểm tra ngược để thoát được sự nhầm lẫn do người sử dụng.

Nguyên tắc căn bản đối với trắc đạc:

Mọi thiết bị liên quan đến đo đạc đều được kiểm tra, kiểm định định kỳ tại cơ quan có đủ chức năng và năng lực nhằm đảm bảo thiết bị máy móc sử dụng trong công trìnhlà được đảm bảo, tin cậy về độ chính xác.

Trong thời gian sử dụng nếu thiết bị bị va chạm nặng, hoặc người sử dụng phát hiện rằng độ chính xác của máy không còn đảm bảo chính xác thì nhất thiết phải đưa máy đi kiểm nghiệm để hiệu chỉnh.

Sau mỗi lần khai triển cần phải được kiểm tra lại theo các cách thức khác nhau nhằm đảm bảo kết quả là chính xác và đáng tin cậy nhất.

Một phần của tài liệu 2 thuyết minh bptc 07 phung hung (Trang 27 - 32)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(191 trang)
w