CHƯƠNG 1. BÙI HIỂN- CÂY BÚT NỔI BẬT CỦA VĂN HỌC VIỆT
1.2. VỊ TRÍ CỦA BÙI HIỂN TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM
1.2.1. Nhà văn có quan niệm nghệ thuật riêng biệt, độc đáo
Trong quá trình sáng tác Bùi Hiển luôn tỉ mỉ, cẩn thận trong từng vấn đề nhỏ. Ông là một trong ít nhà văn viết riêng sách nói về kinh nghiệm viết mẩu truyện và truyện ngắn. Ngay từ thưở đầu ông đã tự tạo dựng cho mình một quan niệm nghệ thuật riêng. Nhà văn nhấn mạnh đến: “Chất sống” trong văn chương, văn chương phải “thật hơn sự thật”, và văn chương phải có “tính thiện” .
Bùi Hiển luôn đề cao “chất sống” trong văn chương. Ông cho rằng văn chương phải bắt nguồn từ hơi thở cuộc sống và gắn chặt với hiện thực đời sống. “Chất sống” chính là một trong những quan điểm nghệ thuật tiêu biểu của nhà văn. Có thể nói quan điểm này đã chi phối khá đến cách tạo ra những sáng tác của nhà văn. Ông quan niệm “chất sống” là vật liệu tối ưu để tạo nên tác phẩm. Thế nên ta bắt gặp nhiều tác phẩm phản ánh cuộc sống của những con người bình dị xung quanh. Nhà văn cho rằng: “nhà văn viết và hình thành
tác phẩm nhanh hay chậm là do sự nhuần nhuyễn đến đâu của chất sống trong nhà văn quyết định, tác phẩm của nhà văn hay hay dở, thành hay bại là do mức độ nhuần nhị của vốn sống nhà văn, và rồi, tác phẩm ấy có lợi hay có hại là do chất sống đã nhuần thấm đến đâu vào con người nhà văn” [8, tr. 549].
Vấn đề “chất sống” theo quan niệm của Bùi Hiển chính là hiện thực đời sống đang diễn ra, là những cảnh đời đang trải. Tác giả vì thế viết bằng cả cảm nhận, bằng sự trải nghiệm của chính bản thân. Ông luôn viết về những gì mình đã có dịp quan sát, chứng kiến và nhập cuộc. Chính tính thật trong từng câu chuyện, lời văn cùng với sự cảm nhận trải nghiệm của bản thân người cầm bút sẽ làm văn chương có “chất sống” hơn. Tập truyện ngắn đầu tay của Bùi Hiển đã thể hiện rất rõ cái “chất sống” ấy . Sự am hiểu về phong tục, tập quán, sinh hoạt, công việc làm ăn, cuộc sống của những người dân chài đã giúp Bùi Hiển bắt sâu hơn vào cái mạch quần chúng. Hiện thực đời sống khi đưa vào tác phẩm, được gọt dũa qua câu chữ của tác giả vô tình trở thành
“chất sống” nuôi dưỡng tác phẩm. Những nhân vật trong tập truyện phần lớn có nguyên mẫu từ những người thân của nhà văn. Nằm vạ hầu như đã đưa cuộc sống của người dân chài vào trong từng câu chuyện. Mỗi truyện ngắn là mỗi câu chuyện khác nhau. Tất cả rất thật và sinh động. Không những tả cảnh vật lộn của ngư dân với biển cả trong những lần đánh bắt cá xa bờ nhà văn còn có những nhận xét tinh tế về nghề câu cá, đánh cá, những kinh nghiệm xem thời tiết của người dân chài. Những câu văn miêu tả sóng biển ngoài khơi thật đến nỗi khiến người tan liên tưởng, tưởng tượng ngay đến khung cảnh hãi hùng đó như đang ra trước mắt mình: “Sóng dâng cao, xô đẩy nhau nháo nhác. Biển phình hẳn lên, sùi bọt trắng. Phía phương nam mây đen kéo nghịt, thoáng cái đã tới đỉnh đầu chúng tôi và thả xuống một làn nước rào rạt. Rồi lại một đám rải nữa, mọc lên không biết từ đâu; một trận mưa nữa tiếp liền. Gió phùn phụt mỗi lúc một mạnh, phải hạ buồm mũi xuống. Thuyền nghiêng
chếch về phía tay phải, cứ thế mà đi như người làm xiếc”- Bám biển [7, tr.
22]. Bên trong nét đẹp về một miền quê với những con người chất phác, hiền lành, yêu đời lạc quan thì vẫn có một số điểm xấu khác. Tác giả miêu tả cả một số tập tục cỗ hủ, mê tín ngay trong chính người dân. Đó nỗi sợ hãi về sự huyền bí của biển cả, trước sự hoành hành của dịch tễ và mọi thiên tai của trời đất. Đó là nỗi ám ảnh về ma đậu, ma biển, thần trùng, quan ôn (Ma đậu, Chiều sương). Cuộc sống nghèo khó, túng quẫn đôi khi đẩy họ đến những hành động nóng nảy, liều lĩnh, cục cằn (Thằng Xin).
“Chất sống” trong truyện ngắn Bùi Hiển còn là sự chú ý, quan sát cả những chi tiết, sự việc nhỏ bé trong cuộc sống. Những tình tiết tưởng chừng nhỏ bé đơn giản ấy khi đưa vào văn chương qua cái nhìn tinh tế của nhà văn lại có sức lay động lòng người. Không chỉ có Nằm vạ thể hiện “chất sống” mà về sau tập Ánh mắt cũng thể hiện cái “chất sống” rất rõ nét. Ánh mắt là tập truyện thể hiện tình cảm thiết tha, cảm phục của nhà văn đối với nhân dân Bình Trị Thiên trong năm kháng chiến gian khổ. Nhiều truyện ngắn trong tập truyện đã đi sâu miêu tả kĩ lưỡng từng khía cạnh, từng con người trong trận chiến. Đôi khi nhà văn đi sâu vào tình cảm, tình huống điển hình trong chiến tranh. Đó là cuộc gặp gỡ của đôi vợ chồng trẻ trên đường đi công tác, là sự lựa chọn đấu tranh giữa một bên là tình cảm riêng và một bên là trách nhiệm đối với công việc, trách nhiệm nghĩa vụ đối với nhân dân. Truyện ngắn Gặp gỡ khiến không ít người bùi ngùi xúc động, xót thương. Tác giả đi sâu vào diễn biến tâm lý cũng như những trăn trở của hai vợ chồng Miên- Đương:
“Hồi chiều em thấy thằng Chuyên con chị Hoàng hắn chơi ngó dễ ghét quá…
Đôi khi cũng có một đứa con nít mà bồng… Nhưng mà trở ngại công tác lắm.
Thôi, chờ khhi nào kháng chiến thành công đã…” [7, tr. 277]
Những câu chuyện riêng tư của đôi vợ chồng được nhà văn miêu tả qua những câu văn hết sức bình dị. Đó đều là những con người vì công việc chung
mà quên đi tình riêng cá nhân. Những chi tiết nhỏ tưởng chừng vụn vặt ít người để ý lại chính là “chất sống” cho một tác phẩm văn học.
“Chất sống” còn từ việc người viết phải biết cách đi vào tâm hồn những con người bất hạnh để miêu tả cuộc sống của họ. Nhà văn đi từ sự đồng cảm với một số hoàn cảnh không may trong cuộc sống. Từ sự đồng cảm, chia sẻ nỗi đau của những người bất hạnh, độc giả có thêm cái nhìn cảm mới thông hơn trước số phận cuộc đời của từng nhân vật. Chất sống chính là từ sự đồng cảm, đồng điệu đó. Chiếc lá đề cập đến số phận của cô gái mù tên Lựu từ nhỏ.
Mặc cảm bản thân, Lựu luôn có suy nghĩ: “Tôi giừ thì thủ phận, cốt sao đỡ gánh nặng cho xã hội là may rồi… Cái lá tre rụng ngoài ngõ còn có tác dụng hơn tôi” [7, tr. 441]. Dù có suy ngĩ như vậy nhưng bên trong cô gái này vẫn tiềm tàng niềm khát khao sống mãnh liệt. Bị mù nhưng Lựu vẫn tham gia những đêm tát nước ngoài đồng Dăm Phe cùng tốp thanh niên trong làng. Cô vẫn nuôi niềm hi vọng chữa lành mắt để có cuộc sống mới, sống có ích, làm nhiều việc cho đời hơn. Cơ hội đến, nhưng thật không may, Lựu hi sinh trong lần đánh bom của giặc Mỹ xâm lược. Sự ra đi của cô không chỉ khiến tác giả bùi ngùi xúc động mà còn khiến bạn độc xót xa, thương cảm. Đối với Bùi Hiển thì nhân vật Lựu “chưa bao giờ chịu đành phận làm một chiếc lá thui chột hoặc tàn úa, dính lỏng lẻo trên cành. Em muốn góp phần chuyển chút nhựa làm nên hoa trái của cuộc đời. Đối với tôi, em mãi mãi là chiếc lá xanh non căng nhựa, một hi vọng hoa thơm và quả ngọt, một khát vọng đẹp tươi không bao giờ tắt, không gì có thể phai mờ” [7, tr. 462]. Cái chết của Lựu đã mang một ý nghĩa tố cáo tội ác giặc Mỹ sâu sắc. Không chỉ đồng cảm với số phận nhân vật Lựu, ở truyện ngắn Đợi, nhà văn cũng đã chú trọng đến những biến đổi trong tâm hồn nhân vật Đợi. Đợi hay Lựu đều là những nhân vật có số phận không may nhưng luôn khát khao sống sao cho có ích với đời. Chính
nét đẹp trong tâm hồn của hai nhân vật này đã làm cho tác phẩm có sức sống hơn trong lòng độc giả bao thế hệ.
“Chất sống” trong văn chương của Bùi Hiển không chỉ tập trung miêu tả những con người với những phẩm chất đẹp mà con miêu tả nhiều khía cạnh. Tác phẩm Bùi Hiển vì thế mà rất thật, y như những gì cuộc sống đang diễn ra.
Suy ngẫm về văn chương, Bùi Hiển cho rằng văn chương phải “thật hơn sự thật”. Nhà văn luôn chú trọng đến vấn đề hiện thực trong sáng tác.
Ông cho rằng “phải biết vận dụng khả năng sáng tạo của ngòi bút để làm nên một thứ văn mà ông gọi là “thật hơn cả sự thật” để “nâng chất thật và thường lên thành chất cũng vẫn thật nhưng cao hơn thường”” [8, tr. 549]. Trong nhiều tác phẩm của mình, nhà văn miêu tả những chi tiết, sự việc thực ngoài đời bằng lối viết tinh tế khéo léo. Tất cả hiện lên như thật, người đọc như tận mắt chứng kiến cái hiện thực cuộc sống đó qua mỗi trang văn. Bùi Hiển hiểu rõ sự gắn kết khăng khít giữa hiện thực đời sống và văn học. Văn học phải bắt rễ sâu vào cuộc sống. Nếu nhổ cái rễ ấy khỏi đời sống thực tế thì văn học sẽ chết. Nhà văn là người phải hiểu rõ, sức sống cho mỗi tác phẩm chính là khởi nguồn từ hiện thực đời sống. Không khoa trương, không bịa đặt chủ quan sáng tạo… mà là phản ánh đúng hiện thực. Trong bài viết Nghề nghiệp truyện ngắn ông cũng đã khẳng định rằng: “Nói chung những nhân vật chủ yếu của tôi đều có nguyên mẫu trong đời sống. Đó là những con người mà tôi quen biết, tôi hiểu họ đến một mức nào đó khiến có thể dựng, không những các nét bề ngoài mà cái tâm lý cốt yếu bên trong và khi đặt họ vào một tình huống mới do mình tưởng tượng, thì tôi có thể đoán biết họ sẽ ăn nói sử xự ra sao.”[37, tr.19]
Vấn đề “thật hơn sự thật” trong văn Bùi Hiển được thể hiện qua việc miêu tả chi tiết cuộc sống khốn khó của người dân. Trong truyện ngắn Bạc và
Chuyện ông Ba Bị dân chài, Bùi Hiển đã phản ánh sinh động vấn đề cuộc sống nghèo khó nên thiếu thốn nhiều thứ, người dân chưa ý thức giữ gìn vệ sinh trong ăn uống, sinh hoạt. Trong truyện ngắn Bạc miêu tả quán thịt cầy rất thô sơ ở chợ phủ của một mụ già: cãi chõng, cút rượu, vài cái chén cáu bẩn.
Hằng ngày mụ bán cho khách những “đĩa thật cầy, trông đen đen hơi bẩn”
[47, tr. 8]. Khi khách đến ăn thì “Mụ hàng lanh lẹn lấy thêm rượu, đặt thêm một đôi đũa và một cái chén mà mụ đã thò ngón tay ngoáy cho bớt bẩn” [47, tr. 9]. Tất cả những chi tiết, hành động hiện lên rất thật. Cái cảm giác hơi ghê cứ hiện lên trong đầu những ai đọc ngang qua. Còn trong Chuyện ông Ba Bị dân chài thì thằng Còi- con chị Ngò bị mọc mụn ghẻ lở được Bùi Hiển miêu tả khá chi tiết “ Thằng bé bị lở lói; những nốt lở mưng mủ làm một vòng vàng vàng, xanh xanh quanh cái vảy tròn nâu thẫm; khi tắm, nốt lở bị cọ loét để lộ những chấm thịt hồng” [7, tr. 93]. Cuộc sống nghèo khó, vấn đề vệ sinh chưa được người dân coi trọng. Không chỉ quan sát mô tả vấn đề sinh hoạt ăn uống của người dân, Bùi Hiển còn chú ý tới những nguyên nhân làm nảy sinh tính cách xấu của con người. Cuộc sống khốn khó không chỉ ảnh hưởng đến cái ăn, cái mặc mà còn làm nảy sinh một số tính xấu như tham lam, độc ác, ăn cắp, nóng nảy, bạo lực… Nhân vật Xin trong Thằng Xin là một ví dụ điển hình. Vì thiếu thốn nó có thể nhẫn nại ngồi rình để bốc trộm một nắm cá trong rổ của người dân chài. Nhưng bao nhiêu bực tức, ấm ức, tủi nhục nó lại gắt lên với người mẹ già. Không chấp nhận được cuộc sống thực tại thằng Xin có những hành động chống đối lại hiện thực. “Mỗi khi ăn không đủ no, hắn đá phắt niêu cơm rõng, vừa chửi đổng vừa nhìn mẹ hắn và mấy đứa em gái đông lít nhít bằng cái nhìn thấm thía. Mùa đông, những đêm quá rét, không ngủ được hắn xé toạc cả những chăn bì vứt lung tung, lấy chổi hoặc giật tranh mái nhà đốt ngồi sưởi”[7, tr. 102]. Nhưng đỉnh điểm của sự chống đối lại cuộc sống khốn khó đó chính là hành động giết chết thằng Năm Chột vì nghi ngờ
Năm Chột lấy trộm tiền tiết kiệm của mình. Người đọc không khỏi xót xa thương cảm cho Xin khi trước cái chết của đồng loại thì y vẫn bình tĩnh như không có vấn đề gì. Điều y quan tâm nhất vẫn là “ngồi đè lên hòm tiền như sợ mất cắp lượt nữa” [7, tr. 106]. Sống trong cảnh thiếu thốn, thằng Xin muốn được làm một chân phụ ở thuyền đánh cá. Hắn đã để dành được một chút ít tiền và ước ao được hầu hạ bạn chài, được thổi cơm tát nước, dành dụm tiền để hỏi cưới vợ. Ước mơ nào có xấu xa, ước mơ được tự tay lao động và tận hưởng từ công sức lao động. Nhưng thật xót xa. Bùi Hiển tỏ ra cảm thông và đồng cảm với những nỗi buồn, những mơ ước của từng người dân.
Truyện ngắn của Bùi Hiển đã khám phá được những nét rất thường của cuộc sống người dân lao động. Mỗi truyện ngắn của nhà văn đều thể hiện một khía cạnh đáng quan tâm trong cuộc sống. Những vấn đề mà ông đề cập đến kì thực rất nhỏ bé, vẫn đang hiện hữu xung quanh cuộc sống hằng ngày của người dân quê hương ông. Tất cả đều hiện lên qua cái nhìn đầy tinh tế, cảm nhận sâu lắng và đầy trải nghiệm của chính nhà văn.
Không chỉ miêu tả sự thay đổi trong bản tính con người, Bùi Hiển còn miêu tả rất thực cuộc vật lộn gay go quyết liệt của ngư dân trước biển cả.
Dường như đã quá quen với cảnh hoành hành của bão nên người dân nơi đây rất bình tĩnh khi bão ập tới bất ngờ. Nhà văn miêu tả khá kĩ lưỡng sự nổi giận của biển cả trong nhiều truyện ngắn khác nhau như Chiều sương, Bám biển, Một trận bão cuối năm…: “Quá nửa đêm, gió càng lên mạnh. Ngoài kia bể réo sôi, sự náo động của những sức mạnh phi thường, bởi diễn trong bóng tối dầy, càng rợn một sự dọa mạt ghê sợ. Làng đã tỉnh dậy, bỗng rộn hẳn lên.
Tiếng người gọi nhau, gió mưa át mang đi. Ngoài sông, một giọng còn ngái ngủ la hét hốt hoảng: có chiếc thuyền nào đã bứt dây neo, trôi đi theo chiều gió. Người ta hồi hộp chờ đợi một tiếng đụng rầm rột…”[7, tr. 84]. Đối với ngư dân sự sống và cái chết khi đánh bắt cá xa bờ cận kề trong gang tấc.
Sương mù, mưa to, gió lớn, bão tố… thiên tai với vô vàn tình huống rất dễ gặp nạn giữa biển khơi. Có khi sự chóng chọi đó nguyên đêm. Thuyền nào cũng sũng nước. Lạnh và đói nhưng nỗi lo sợ nhất vẫn là nỗi sợ không được sống sót trở về đất liền.
Viết về nỗi khổ đi biển của người dân quê, Bùi Hiển đã miêu tả khá chi tiết, cận cảnh những vấn đề mà người dân phải gánh chịu. Không màu mè, tô trát, không dùng những câu từ mỹ miều, tác giả diễn tả đúng như những gì nó đang diễn ra. Cùng với việc sử dụng từ ngữ địa phương đã làm cho truyện ngắn của Bùi Hiển rất thật như đúng những gì mà nó đang mang. Tác giả đã có sự linh hoạt chọn lọc để biến thứ ngôn ngữ đời thường của người dân quê thành ngôn ngữ của văn chương. Tầng lớp ngôn ngữ đó đi vào trang sáchrất dỗi tự nhiên, rất thật và lấy được sự đồng cảm, thích thú của nhiều độc giả hơn. Viết về cuộc sống người dân chài, nhà văn đã tỏ ra rất am hiểu và cảm thông sâu sắc trước khó khăn, nguy hiểm mà người dân phải phải gánh chịu.
Đối với Bùi Hiển, văn chương phải phản ánh sự thật nhưng như vậy không có nghĩa là đưa nguyên xi hiện thực vào trong trang văn. Hiện thực đời sống phải được “tái tạo”, cách điệu qua lăng kính của nhà văn. Để có được sự cách điệu hóa này đòi hỏi nhà văn phải có sự trải nghiệm tinh tế. Người viết qua việc quan sát cuộc sống, tự cảm nhận, tạo cho mình một thế giới quan hoàn chỉnh để truyền tải cái ý nghĩa của cuộc sống qua từng câu chữ lời văn.
Văn chương có khả năng nhận thức vô cùng to lớn trên nhiều bình diện của hiện thực đời sống về tự nhiên cũng như về xã hội. Hơn hết, nhà văn phải là người giúp người đọc nhận thức cuộc sống và hiện thực qua những khám phá và sáng tạo của nhà văn. Khi miêu tả hiện thực đời sống, nhà văn cho rằng
“người viết phải bằng con mắt bên trong, thấy biểu hiện lên đối tượng mình miêu tả, mình có thấy mới làm cho người đọc có thấy. Có thấy rõ mới biết lấy ra những cái chủ yếu để làm nổi bật trong mấy nét bút gọn, sắc. Không tỉa tót,