CHƯƠNG 1. BÙI HIỂN- CÂY BÚT NỔI BẬT CỦA VĂN HỌC VIỆT
1.2. VỊ TRÍ CỦA BÙI HIỂN TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM
1.2.2. Bùi Hiển và sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam
Trên sáu mươi năm hoạt động nghệ thuật, Bùi Hiển đã tạo dựng cho mình một sự nghiệp văn học riêng không lẫn vào đâu được. Ông thành công với khá nhiều thể loại nhưng truyện ngắn vẫn là thể loại đặc sắc và gặt hái nhiều thành công nhất. Bùi Hiển được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá khá cao.
Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn Từ điển tác gia tác phẩm văn học Việt Nam khẳng định: “Cho đến nay ông vẫn là một trong những cây truyện ngắn tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại” [30, tr. 30]. Trong suốt những năm gắn bó với văn chương, Bùi Hiển đã chứng tỏ được sự tận tụy của một nhà văn có trách nhiệm với nghề và với xã hội. Tác giả có cái nhìn nhạy bén, một trái tim ngập tràn tình yêu thương con người. Hoàng Minh Châu cho rằng dù là viết về ai, vấn đề gì đi chăng nữa thì “chỉ bằng tình tiết ngôn ngữ của nhân vật thoảng qua cũng gợi nhớ tới nhân vật chính là tác giả, một người muốn nuôi sống hòa hợp với tự nhiên, với “đạo trời như anh tâm sự”” [6, tr. 13].
Ngòi bút của Bùi Hiển đã thể hiện được tài quan sát tinh tế, cặn kẽ những vấn đề xung quanh cuộc sống. Nếu trước Cách mạng tháng Tám nhà văn tập trung đi vào miêu tả cuộc sống người dân chài ven biển thì sau Cách mạng tháng Tám nhà văn đi sâu vào một số hình ảnh con người mang tính chất điển hình. Lần đầu tiên người đọc được biết đến hình ảnh con người vùng biển xứ Nghệ. Theo Bùi Hiển thì “người dân vùng biển có nhiều nét kỳ lạ lắm… ”. Đối với Bùi Hiển, vùng ven biển thuộc làng Phú Nghĩa Hạ, tỉnh Nghệ An luôn là mạch nguồn cảm hứng cho những sáng tác của nhà văn trước Cách mạng tháng Tám. Truyện ngắn của Bùi Hiển thường ngắn gọn, linh hoạt. Nhà văn bao giờ cũng viết rất kỹ lưỡng và thận trọng.
Cùng thời với Bùi Hiển, có khá nhiều nhà văn cũng viết về đề tài người nông dân với những phong tục lạc hậu, lỗi thời vẫn được người dân duy trì và gìn giữ. Đứng ở vị trí nhà văn, Bùi Hiển không hề có ý phê phán, lên án mà ông chỉ nhìn ở góc độ cảm thông, chia sẻ. Truyện ngắn Bùi Hiển là những trang viết chân thật về tâm hồn của người dân quê ông. Khi nói về những tật xấu của ngư dân, ông không hề có ý định bôi nhọ họ mà chỉ bộc lộ một niềm cảm thông vô hạn. Có nhiều phong tục nhưng Bùi Hiển đã nhắc đến một tục nằm vạ đặc trưng của vùng quê miền Trung nói chung và làng quê Phú Nghĩa Hạ nói riêng. Nó khác với việc nằm vạ của người dân miền Bắc. Người dân miền Bắc nằm vạ khi muốn đòi một thoả thuận vật chất nào đó. Còn tục nằm vạ ở quê nhà văn đơn giản chỉ bắt nguồn từ việc vợ giận chồng, con dâu hờn dỗi mẹ chồng. Nhân vật chị đỏ trong Nằm vạ của Bùi Hiển hờn dỗi chồng rồi lăn ra nằm vạ. Việc nằm vạ này khiến ta nhớ đến hành động nằm vạ của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Tuy nhiên hai sự việc này hoàn toàn khác nhau. Chỉ vì muốn xin tiền uống rượu, Chí Phèo đã chửi nhau với Lý Cường, rạch mặt nằm vạ tại nhà Bá Kiến. Chỉ cần Bá Kiến cho tiền là Chí thôi trò nằm vạ. Còn trong tác phẩm của Bùi Hiển, nhân vật chị Đỏ chỉ vì một chút hờn giận nhỏ với chồng đã nằm vạ bảy tám ngày liền. Sự việc càng trở nên nghiêm trọng hơn, khi người nhà chị Đỏ phải mời làng phân xử. Nằm vạ vì dỗi hờn, chứ không phải nằm vạ để đòi hỏi yêu cầu thỏa thuận, đòi hỏi để có được điều gì đó. Thế nên cuối cùng dù có giận chồng đến mấy thì chị Đỏ khi thấy vẻ lóng ngóng của chồng trong lúc rót nước mời thầy lý cũng phải bật cười và cảm thấy thương chồng hơn. Buổi xử kiện đã kết thúc một cách bất ngờ và trò nằm vạ của chị Đỏ đã chấm dứt. Ta cũng bắt gặp cái tục nằm vạ này trong một số sáng tác của Tô Hoài. Đó là chuyện hờn dỗi sinh ra nằm vạ giữa vợ chồng (Truyện Ông dỗi), giữa mẹ với con trai, giữa mẹ chồng với con dâu (truyện Chớp bể mưa nguồn). Nhưng sự việc nằm vạ trong truyện
ngắn của Tô Hoài cũng chỉ xảy ra và kết thúc trong một thời gian ngắn. Hành động nằm vạ không nghiêm trọng phải nhờ làng phân xử như truyện Nằm vạ của Bùi Hiển. Cùng một đề tài, cùng dựa vào những mâu thuẫn trong gia đình để viết truyện nhưng mỗi nhà văn lại có cách nhìn và hướng giải quyết khác nhau cho nhân vật của mình. Nhân vật của Bùi Hiển là những người dân chài ở Phú Nghĩa Hạ ở Nghệ An, còn nhân vật của Tô Hoài lại là những người dân sống ở làng Nghĩa Đô. Hai nhà văn đã chọn cho nhân vật của mình những cách bộc lộ tính cách riêng. Chính những nét cá tính đó giúp chúng ta hiểu hơn phong tục, tập quán của từng vùng miền. Cuộc hờn dỗi của chị Đỏ với chồng được nhà văn đẩy tới đỉnh điểm của sự mâu thuẫn. Tưởng chừng mẫu thuẫn ấy không thể giải quyết nhưng cuối truyện nhà văn đã đưa ra sự giải quyết nhẹ nhàng, nhanh gọn có chút tiếng cười nhẹ. Còn ở truyện của Tô Hoài, người kể chuyện thường xuyên bộc lộ nhận xét, tình cảm, cảm xúc trong câu chuyện. Sự việc này đã xảy ra thường xuyên trong đời sống nhân vật, nên người đọc tiếp nhận ở một thái độ bình thường hơn.
Có thể nói Bùi Hiển là một trong những nhà văn đầu tiên viết về cuộc sống người dân chài ven biển miền Trung mà cụ thể là người dân vùng Nghệ An. Từ những truyện ngắn của nhà văn, người ta biết rõ hơn về hình ảnh, phong tục, tập quán mang đậm sắc thái địa phương Nghệ Tĩnh. Đây chính là hình ảnh, đề tài khá mới trong những sáng tác truyện ngắn cùng thời. Chính vì thế mà Nằm vạ được xem là một trong những tác phẩm có giá trị của dòng văn học hiện thực giai đoạn 1939-1945.
Nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đã đánh giá rất cao sở trường truyện ngắn của Bùi Hiển, cũng như sự đóng góp to lớn của ông vào sự nghiệp văn học nước nhà. Trong bài nghiên cứu Những chặng đường sáng tác của Bùi Hiển, Chu Nga nhận định: “Bùi Hiển là nhà văn viết truyện ngắn có nhiều kinh nghiệm. Anh rất thận trọng và có tinh thần trách nhiệm…” [47,
tr.390]. Tập truyện ngắn Nằm vạ ra đời đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà phê bình. Có nhận xét khác về tập nằm vạ: “Truyện ngắn Bùi Hiển đã ghi lại một cách trung thực đời sống đầy vật lộn gian lao của những người dân vùng biển quê ông cũng như cuộc sống nhỏ nhoi, mòn mỏi, bế tác và hết sức tẻ nhạt của giới viên chức nghèo thành thị” [47, tr. 5]. Những trang truyện ngắn đã đi sâu vào mạch nguồn cuộc sống nhân dân lao động nghèo khổ. Điều đó càng thể hiện rõ bản lĩnh, tài năng cũng như sự nhạy bén của nhà văn trước hiện thực đời sống. Tấm lòng nhân đạo, sự đồng cảm sẻ chia thấu hiểu với người dân của nhà văn được đánh giá cao. Chất hiện thực trong Nằm vạ được bắt nguồn từ một cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa, từ sự gần gũi, thương cảm những con người bình thường trong xã hội.
Bên cạnh đó, Bùi Hiển không lặp lại cách viết của các nhà văn khác.
Ông luôn tìm tòi những cái mới lạ, khác biệt trong truyện ngắn của mình.
Chính vì thế mà đề tài của nhà văn khá phong phú, đa dạng. Điều này được các nhà nghiên cứu khẳng định: “Bùi Hiển thường viết về những đề tài giản dị: những cảnh sinh hoạt, những phong tục ngồ ngộ ở nông thôn, những mẩu đời viên chức tỉnh nhỏ, những cảnh bố con, vợ chồng, bè bạn gặp gỡ và trò chuyện với nhau…” [7, tr. 13].
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, nhà văn có dịp trải nghiệm trên chiến trường quân khu Bốn. Chính những năm tháng gắn bó, hòa mình cùng cuộc sống chiến sĩ và nhân dân nơi đây nên truyện ngắn giai đoạn này của nhà văn mang tính hiện thực cao độ. Trong cuốn Tuyển tập Bùi Hiển, tập 1, Phan Cự Đệ cho rằng “Khối lượng truyện ngắn thật là phong phú, đa dạng, đã góp phần phản ánh trung thực những chặng đường Cách mạng Việt Nam, khắc họa được những khuôn mặt đẹp, những điển hình của con người Việt nam mới trong cuộc đời và sản xuất cũng như trong sinh hoạt thường ngày”
[7, tr. 48].
Tập truyện Ánh mắt dựng lên hiện thực kháng chiến của vùng Bình Trị Thiên. Đọc tập truyện ta có thể bắt gặp nhiều hình ảnh nhân vật trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Đó là hình ảnh anh bộ đội Út; là hình ảnh chị Luyến từ một người đàn bà bình thường bước vào cuộc chiến; là hình ảnh bà mẹ Mãng lo lắng sự sống còn của các anh anh bộ đội; là chị Miên, chị Nết đảm đang hiền hậu cho đến tên đội Pháp bị ta bắt làm tù binh,… Nổi bật hơn cả vẫn là hình ảnh người nông dân kiên cường dũng cảm đối mặt với kẻ thù. Bùi Hiển rất thành công khi miêu tả mối tình quân dân. Không khí chiến tranh nhân dân bao trùm tất cả các truyện tạo nên một bối cảnh, không gian sinh động. Đây là điều mà rất ít nhà văn khắc họa được trong tác phẩm của mình. Đánh giá về sự nghiệp văn học của nhà văn trong nền văn học nước nhà, Hà Minh Đức đã khẳng định: “Mỗi truyện ngắn của Bùi Hiển đều gắn liền với những vấn đề cơ bản của đời sống cách mạng… Nhưng quan trọng hơn là đi sâu vào miêu tả tính cách, những mối quan hệ giữa con người với nhau để từ đó nói lên những vấn đề sâu sắc của hiện thực” và “từ những năm đầu chống Mỹ, cứu nước đến nay, Bùi Hiển viết đều tay” [47, tr. 413].
Quả thực, những trang văn viết về cuộc kháng chiến dân tộc của nhà văn Bùi Hiển luôn khiến cho độc giả thổn thức, suy nghĩ. Đặc biệt khi viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ nhà văn đã chứng tỏ một “ngòi bút chính luận đanh thép và sắc sảo” [52, tr. 7].
Tiểu kết:
Với những thành công ở thể loại truyện ngắn, Bùi Hiển rất xứng đáng là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam. Cho đến bây giờ, trong giới phê bình văn học vẫn luôn nhấn mạnh đến vị trí cũng như sự đóng góp của nhà văn Bùi Hiển về thể loại truyện ngắn- một phong cách một phong cách riêng trong nền văn học Việt Nam hiện đại, một phong cách “đã có những nét ổn định và bền vững, tuy nhiên vẫn luôn luôn mở ra những hướng
tìm tòi, trăn trở, khám phá…”[7, tr. 14]. Năm 2001, nhà văn Ma Văn Kháng đã khẳng định thêm những thành công mà Bùi Hiển để lại: “Vẫn là truyện ngắn của ngày hôm nay, hiện đại, không hề xưa cũ”.