1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GI i THI u CHUNG

30 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 300,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm trước đây, diện tích đồng cỏ tự nhiên trên địa bàn tương đối lớn,người chăn nuôi phát triển đàn bò chủ yếu khai thác thức ăn xanh từ tự nhiên nên sauthời gian chuyển đổi cây tr

Trang 1

1

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI

ĐỀ ÁNCẢI TẠO ĐÀN BÒ GIAI ĐOẠN 2014-2020

Trang 2

GIỚI THIỆU CHUNG

1 Tên đề án: Đề án cải tạo đàn bò giai đoạn 2014- 2020.

2 Cơ quan chủ quản: Ủy ban Nhân dân huyện Đạ Huoai.

3 Cơ quan chủ đầu tư: Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Đạ Huoai

Điện thoại: 0633.874473 ; Fax: 0633.874473

4 Thời gian thực hiện đầu tư đề án: 7 năm (2014-2020)

5 Các đơn vị tham gia thực hiện đề án:

5.1 Trung tâm Nông nghiệp huyện Đạ Huoai;

5.2 Công ty truyền giống gia súc Miền Nam;

5.3 Hội nông dân huyện Đạ Huoai;

5.4 UBND các xã, thị trấn;

7 Nguồn vốn đầu tư:

- Nguồn vốn Ngân sách địa phương

- Vốn của dân

Trang 3

Phần thứ nhất

ĐẶT VẤN ĐỀ

I Sự cần thiết phải xây dựng Đề án:

Đạ Huoai là huyện phía Nam tỉnh Lâm Đồng, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đớigió mùa điển hình, phân ra hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô Mùa khô bắt đầu từtháng 11 và kết thúc trước tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm.Rất thuận lợi cho việc phát triển đồng cỏ phục vụ chăn nuôi đại gia súc nói chung, chănnuôi bò nói riêng

Những năm trước đây, diện tích đồng cỏ tự nhiên trên địa bàn tương đối lớn,người chăn nuôi phát triển đàn bò chủ yếu khai thác thức ăn xanh từ tự nhiên nên sauthời gian chuyển đổi cây trồng, đặc biệt là thực hiện Đề án chuyển đổi cây điều và cảitạo cây ăn quả, diện tích đồng cỏ tự nhiên dần bị thu hẹp nên một số hộ chăn nuôi nhỏ

lẻ không có đồng cỏ để chăn thả và cung cấp nguồn thức ăn thô xanh cho bò nên việcphát triển chăn nuôi bò trên địa bàn ngày càng thu hẹp lại

Chính vì vậy để phát triển đàn bò theo hướng bền vững, tăng năng suất, chấtlượng và hiệu quả kinh tế, phát triển chăn nuôi bò hàng hóa nhằm tạo ra sản phẩmthịt, sữa đáp ứng nhu cầu của địa phương và khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam;đồng thời cung cấp nguồn phân bón hữu cơ đáp ứng nhu cầu thâm canh diện tích câytrồng đã được chuyển đổi trong thời gian trước, nâng cao giá trị sản xuất trên đơn vịdiện tích, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động là mục tiêu pháttriển kinh tế- xã hội của địa phương

Do vậy, việc đầu tư khoa học kỹ thuật, vật tư để cải tiến nâng cao chất lượnggiống bò địa phương, đầu tư phát triển đồng cỏ phục vụ chăn nuôi là rất cần thiết, tạođiều kiện để phát triển chăn nuôi bò hướng thịt, sữa trong thời gian tiếp theo

Được phép của UBND huyện Đạ Huoai, Phòng Nông nghiệp & PTNT lập Đề

án: “ Cải tạo đàn bò giai đoạn 2014-2015 và định hướng đến năm 2020”.

II Căn cứ xây dựng Đề án:

2 Căn cứ tình hình thực tế: Đạ Huoai có điều kiện kinh tế tự nhiên xã hội,

lao động, môi trường, đất đai thuận lợi cho phát triển chăn nuôi bò, cụ thể là:

- Trình độ nhận thức về khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm chăn nuôi của nôngdân trong việc phát triển đối tượng chăn nuôi bò

- Nguồn thức ăn phong phú đa dạng là điều kiện hàng đầu để phát triển chănnuôi bò theo hướng sản xuất hàng hóa

Trang 4

- Diện tích có khả năng phát triển đồng cỏ tương đối lớn; lượng mưa hàng nămcao, điều kiện đất đai phù hợp để phát triển đồng cỏ chất lượng cao.

- Nhiệt độ bình quân hàng năm ổn định, biên động nhiệt ngày-đêm và các mùatrong năm thấp, là điều kiện lý tưởng để phát triển chăn nuôi bò

Với các chương trình dự án cải tạo đàn bò địa phương bằng phương pháp thụtinh nhân tạo của Trung tâm Khuyến nông tỉnh giai đoạn 1998-2001 và phát triển bòđực giống lai của Trung tâm Nông nghiệp huyện thời gian trước đây đã nâng tầm vócđàn bò địa phương từ 140 kg/con lên 160 kg/con là điều kiện thuận lợi để tiếp tục cảitạo, nâng cao tầm vóc đàn bò nền trong thời gian tới

III Khái quát về điều kiện tự nhiên, dân số và lao động:

1 Điều kiện tự nhiên:

a Vị trí địa lý

Huyện Đạ Huoai nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lâm Đồng, trung tâm huyện lỵcách thành phố Đà Lạt khoảng 156 km về phía Đông - Bắc, ranh giới hành chính củahuyện như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Đạ Tẻh và Bảo Lâm

- Phía Nam giáp huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận

- Phía Đông giáp thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm

- Phía Tây giáp huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai

b Khí hậu và thời tiết

Đạ Huoai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, phân ra hai mùa

rõ rệt mùa mưa và mùa khô Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc trước tháng 4năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm Do ảnh hưởng của địa hìnhphức tạp, núi đồi xen kẽ đặc biệt là bị ngăn cách bởi đèo Chuối – Hà Lâm nên chế độkhí hậu của huyện chia làm 2 vùng Vùng phía Bắc có khí hậu cao nguyên gần giốngkiểu khí hậu Bảo Lộc ôn hoà mát mẻ, lượng mưa lớn, phân bố tương đối đều Vùngphía Nam chịu ảnh hưởng khí hậu của miền Đông Nam bộ có nhiệt độ cao, mùa mưađến sớm và cũng kết thúc sớm hơn

Khí hậu của huyện diễn biến theo mùa rõ rệt, biên độ nhiệt độ và số giờ nắngchênh lệch giữa các tháng nhỏ, ít gây biến đổi đột ngột về thời tiết Lượng mưa lớn,tập trung vào mùa mưa gây lũ và ngập úng cục bộ; mùa khô gây hạn làm hạn chế tiềmnăng đối với sản xuất nông nghiệp

c Nguồn nước

Sông suối trên địa bàn huyện có tổng lưu lượng dòng chảy năm lớn, nhưng phânphối không đều giữa mùa mưa và mùa khô, trong đó: Mùa khô dòng chảy nhỏ, mựcnước và cao trình đồng ruộng chênh lệch lớn, nên ít có khả năng khai thác nếu không

Trang 5

có các công trình thuỷ lợi; mùa mưa dòng chảy lớn, nhất là thời kỳ mưa lũ, đã gây ratình trạng ngập nước ở các khu vực đất thấp.

Nước ngầm tầng mặt (giếng đào): Có độ cứng khá cao (>50mg CaCO 3 /lit), mực

nước thay đổi theo vùng và theo mùa: Vùng thấp ven sông Đạ Huoai có mực nướcngầm của các giếng đào từ 2-6m, vùng đồi núi có mực nước ngầm từ 15-20m Vàomùa mưa, mực nước cách mặt đất từ 1-2m, nhưng về mùa khô mực nước hạ xuốngcách mặt đất 5-6m ở những khu vực bào mòn tích tụ và 7-12m ở những khu vực tích

tụ xâm thực gần thềm sông Đạ Huoai

Nước ngầm tầng sâu (giếng khoan với độ sâu >20m): Có độ cứng và độ kiềm

khá cao (độ cứng toàn phần 1.950 mg CaCO3/lit, độ kiềm toàn phần 1.325 mg CaCO3/lit, môi trường axít 0,8 mg oxy/lit) Như vậy, nếu khai thác nước ngầm cung cấp nướcsạch cho các khu dân cư tập trung như thị trấn và các khu công nghiệp thì đòi hỏi phải

e Tài nguyên đất đai và hiện trạng sử dụng đất

Nhìn chung, tài nguyên đất của Đạ Huoai có nhiều hạn chế như: Độ dốc lớn,tầng đất không dày và độ phì không cao, cùng với cường độ mưa lớn dễ làm đất bị xóimòn Vì vậy, trong quá trình sử dụng, cần đặc biệt coi trọng biện pháp cải tạo, bảo vệchống xói mòn

2 Dân số và lao động.

a Dân số: Đến tháng 12/2013 dân số trên địa bàn là 35.502 người Trong đó:

đồng bào dân tộc là 6.917 người (chiếm 19,48%)

b Lao động: Tổng số lao động của huyện là 21.095 người Lao động đang làm

làm việc là 19.358 người chiếm 91,77%

+ Tổng số hộ: 9.131 hộ Trong đó số hộ nghèo là 497 hộ chiếm 5,44%

Tóm lại: Với điều kiện tự nhiên, dân số và lao động trên địa bàn là những điều

kiện cần thiết cho phát triển chăn nuôi bò thịt, bò sữa Trên cơ sở khai thác hiệu quảtiềm năng hiện có và được đầu tư con giống, đồng cỏ và cơ sở vật chất kỹ thuật tốt làđiều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi bò trên địa bàn hiện tại và trong tương lai

Trang 6

Phần thứ hai

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VÀ ĐỒNG CỎ CHĂN NUÔI BÒ

I Tình hình chăn nuôi bò huyện Đạ Huoai.

1 Tổng đàn và phương thức chăn nuôi.

Chăn nuôi bò ở huyện Đạ Huoai trong thời gian qua chủ yếu dựa vào tự nhiêntheo phương thức chăn thả là chính ở quy mô chăn nuôi hộ gia đình, phổ biến từ 3-5con/hộ; Đàn bò phân bố tại các xã, thị trấn nhưng tập trung nhiều ở các xã, thị trấn

phía Nam của huyện (Xã Đạ Oai, Đạ Tồn, Madaguoil và thị trấn Madaguoil) đa số

nông dân nuôi bò sinh sản

Số lượng đàn bò qua các năm ít biến động và được thể hiện qua Biểu 1:

SỐ LƯỢNG ĐÀN BÒ QUA CÁC NĂM

Qua điều tra đánh giá đàn bò trong huyện, tính đến 31/3/2014 có 2.556 con Hai

xã có đàn bò lớn nhất là xã Đạ Tồn (733 con); xã Đạ Oai (567 con) và đơn vị có đàn

bò thấp nhất là xã Đoàn Kết (65 con)

Phương thức chăn nuôi bò trên địa bàn chăn thả là chính, vì vậy bò chỉ tăngtrọng vào mùa cỏ tốt và giữ xác, thậm chí giảm cân khi mùa khô khi đồng cỏ tự nhiênthiếu cỏ Kỹ thuật chăn nuôi bò gần như chưa được cải tiến, chưa có chuyển biến chănnuôi từ bò đàn truyền thống sang chăn nuôi hàng hoá, nguồn thức ăn bổ sung chỉ mớiđược quan tâm tại các hộ gia đình có số lượng bò từ 10 con trở lên, còn đa số các hộkhác chưa được quan tâm đúng mức; các loại thức ăn tinh, thức ăn cung cấp khoáng

Trang 7

Đối với bê con theo mẹ, trong thời gian nuôi dưỡng không được bổ sung đầy đủthức ăn và khoáng chất, bò mẹ không được bổ sung thức ăn tinh trong thời kỳ nuôicon nên năng suất và chất lượng sữa thấp; đặc biệt bê con sau 6 tháng tuổi, do khôngđược bổ sung thức ăn nên khi bò mẹ vào giai đoạn cạn sữa, bê cũng bị ảnh hưởngnhiều đến khả năng tăng trọng; mặt khác, trong thời gian theo mẹ, bê con do không đủkhoáng chất nên hay ăn các loại đất, sét trên đồng cỏ là nguồn cung khoáng bị ônhiễm các loại bệnh, nhất là bệnh ký sinh trùng đường ruột… làm cho bê con bị tiêuchảy, còi cọc sau này

2 Giống và công tác cải tạo giống bò:

Với sự giúp đỡ của Sở Nông nghiệp & PTNT, Trung tâm Khuyến Nông LâmĐồng; sự chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện và các ngành chức năng công tác pháttriển các giống bò lai tại địa phương có bước tăng trưởng khá và có sự chuyển dịchtích cực, nhiều tiến bộ kỹ thuật mới trong công tác giống, phòng trừ dịch bệnh, cácgiống bò có tính năng sản xuất tốt, như: Reddsindhi, Sahiwall, Brahman… có đặc tínhsinh học phù hợp với điều kiện địa phương được giới thiệu; phương thức chăn nuôibán thâm canh đang từng bước thay thế phương thức chăn nuôi truyền thống, vừa giảiquyết việc làm vừa tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp

Tuy nhiên, do công tác giống và chương trình cải tạo giống bò trên địa bànkhông được đầu tư thực hiện thường xuyên, liên tục nên đến nay đàn bò đang nuôitrên địa bàn có tỷ lệ máu ngoại tương đối thấp chỉ chiếm 25-50%; giống bò nuôi phổ

biến vẫn là bò vàng địa phương có tầm vóc và trọng lượng thấp (Bình quân chỉ đạt

140-160 kg/con) rất khó khăn trong việc lựa chọn các phẩm giống bò ngoại để tiến

hành lai tạo trong thời gian tới.

Việc theo dõi, kiểm soát đàn bò, đặc biệt là đàn bò cái trong giai đoạn động dụcchưa kịp thời làm cho thời gian giữa 2 lứa đẻ tăng; có nhiều trường hợp bò cái bị bòcóc hoặc bò đực cùng đàn nhày trực tiếp gây nên tình trạng đồng huyết, chất lượngcon giống ngày càng thoái hóa…

Mặt khác, do số lượng đàn bò ít nên công tác tuyển chọn đàn bò hậu bị để phốigiống chưa thực hiện chặt chẽ, chỉ có những bò cái hậu bị không đạt nhiều tiêu chuẩnmới được loại bỏ còn những bò cái có trọng lượng thấp, khả năng tiết sữa kém… vẫnđược giữ lại làm bò sinh sản nên chất lượng đàn bò sinh sản nói riêng và đàn bò trênđịa bàn nói chung còn thấp

3 Công tác thú y.

Qua theo dõi cho thấy, đàn bò địa phương thường mắc một số bệnh như: Tụhuyết trùng, Lở mồm long móng, Ký sinh trùng đường ruột, một số bê con thườngmắc bệnh ỉa phân trắng, viêm phổi Do mùa khô trời nắng kéo dài, thiếu thức ăn

Trong những năm qua, công tác thú y, vệ sinh phòng trừ dịch bệnh, đặc biệt làcông tác tiêm phòng đã được UBND huyện, BCĐ PCD huyện chỉ đạo sát sao, cácngành liên quan và UBND các xã thực hiện nghiêm túc, tỷ lệ tiêm các đợt đạt tươngđối cao, ý thức của người chăn nuôi trong việc tiêm phòng, vệ sinh thú y ngày càngđược nâng lên… nên trong thời gian dài trên địa bàn không có dịch bệnh nguy hiểm

Trang 8

bùng phát thành dịch Tuy nhiên, do công tác vệ sinh, phòng trừ dịch bệnh cho bò,nhất là đối với những hộ chăn nuôi bò nhỏ lẻ chưa được quan tâm đúng mức nên vẫntiềm ẩn khả năng xuất hiện những ổ dịch nhỏ, có nguy cơ phát triển thành dịch.

II Thực trạng đồng cỏ và công tác chế biến thức ăn chăn nuôi bò.

1 Thực trạng đồng cỏ chăn nuôi bò:

Trước năm 2005, chăn nuôi bò trên địa bàn chủ yếu dựa vào đồng cỏ tự nhiên,nhưng sau thời gian chuyển đổi các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao diện tích đồng

cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp Do đó, các hộ chăn nuôi đã đầu tư trồng cỏ để cung

cấp thức ăn cho đàn bò, với các giống cỏ: cỏ lông Para, Kingrass (cỏ voi), cỏ hỗn hợp

úc, cỏ VAO6 với diện tích trên 80 ha nhưng được trồng tận dụng tại các khe, lạchnhỏ là chủ yếu đã giải quyết được một lượng thức ăn thô xanh cho bò vào mùa khô

Tuy nhiên, do việc phát triển đồng cỏ trên địa bàn chủ yếu được tận dụng trênnhững diện tích ven sông, suối nên khả năng chăm sóc, thâm canh đồng cỏ và phươngpháp thu hoạch không đúng thời điểm đã làm cho năng suất, chất lượng cỏ trồng đạtrất thấp, bình quân năng suất chỉ đạt 110-125 tấn/ha/năm, tương đương với khả năngcung cấp cỏ cho 10-12 bò trưởng thành/ha

Di n tích c tr ng qua các n m ện tích cỏ trồng qua các năm được thể hiện tại Biểu 2: ỏ trồng qua các năm được thể hiện tại Biểu 2: ồng qua các năm được thể hiện tại Biểu 2: ăm được thể hiện tại Biểu 2: được thể hiện tại Biểu 2:c th hi n t i Bi u 2:ể hiện tại Biểu 2: ện tích cỏ trồng qua các năm được thể hiện tại Biểu 2: ại Biểu 2: ể hiện tại Biểu 2:

Trang 9

- Đối với thức ăn xanh: Ngoài việc cung cấp cỏ tươi cho bò hàng ngày, dự trữ rơmkhô trong những tháng thiếu cỏ, thì hiện nay người chăn nuôi trên địa bàn chưa có tậptính ủ chua thức ăn từ phế phụ phẩm nông nghiệp như thân các loại cây bắp, đậu hoặc

cỏ (khi nguồn thức ăn dồi dào) để dự trữ thức ăn vào thời điểm mùa khô.

- Đối với thức ăn tinh: Thức ăn tinh chỉ được một số hộ chăn nuôi bổ sung thêmcho bò mẹ trong thời gian nuôi con, với thức ăn phổ biến là cám gạo, cám ngô chưaquan tâm đến chế biến thức ăn tinh như bánh dinh dưỡng từ rỉ mật đường và việccung cấp thức ăn dinh dưỡng không thường xuyên, liên tục

- Đối với thức ăn cung khoáng: Hầu hết các hộ chăn nuôi bò chưa cung cấp thức

ăn cung khoáng cho bò, do đó, đàn bò tìm kiếm nguồn khoáng chất từ tự nhiên trongquá trình chăn thả

* Những thuận lợi, khó khăn và tồn tại trong phát triển chăn nuôi bò:

- Thuận lợi: Đạ Huoai có khí hậu, thời tiết thuận lợi, phù hợp với quá trình

sinh trưởng, phát triển cảu hầu hết các giống bò, như: bò thịt, bò kiêm dụng thịt sữa,

bò sữa Mùa mưa kéo dài 6 tháng là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loạicỏ; thời gian khô hạn thiếu nước thực tế chỉ hơn 3 tháng trong năm Do đó, nếu đượcđầu tư phát triển các giống bò có khả năng sản xuất cao kết hợp với phát triển và cảitạo đồng cỏ, chế biến thức ăn cho đàn bò thì khả năng mở rộng quy mô đàn, đưa pháttriển chăn nuôi bò là ngành mũi nhọn trong chăn nuôi của địa phương là rất lớn

Diện tích đất có khả năng phát triển đồng cỏ trồng tương đối lớn, phân bố đều ởcác xã, thị trấn, đặc biệt là các xã phía Nam của huyện rất thuận lợi cho việc cải tạođồng cỏ cũng như xây dựng các mô hình chăn nuôi bò ở quy mô trang trại

Cơ cấu đàn bò đã có phần thay đổi tỷ lệ bò lai trong tổng đàn ngày một tăng, tỷ

lệ bò nuôi thịt đã dần dần chiếm ưu thế

Nhu cầu về phân bón hữu cơ để phát triển các vườn cây ăn trái chất lượng cao tạiđịa phương là rất lớn, đó cũng là điều kiện thuận lợi để người chăn nuôi hoạch định và

mở rộng quy mô chăn nuôi đàn bò của gia đình, cơ sở mình

- Khó khăn:

+ Chất lượng giống bò còn thấp, tầm vóc nhỏ bé là một trong những khó khăntrong quá trình lựa chọn giống bò ngoại vừa có tính năng sản xuất tốt, vừa có tầm vócphù hợp với bò cái nền của địa phương

+ Điều kiện kinh tế của các hộ dân còn nhiều khó khăn nên việc phát triển tăngđàn phù hợp với quy mô gia trại, trang trại phát triển chăn nuôi bò còn hạn chế

+ Hệ thống giống và dịch vụ kỹ thuật chăn nuôi tuy đã được quan tâm nhưngchưa hoàn thiện, chưa đáp ứng được nhu cầu về giống cho phát triển, cụ thể:

Con giống chưa được quản lý chặt chẽ về tiêu chuẩn, chất lượng, chế độ khaithác sử dụng nên rất dễ xảy ra tình trạng đồng huyết; chất lượng bò đực giống chưacao; hệ thống dịch vụ thụ tinh nhân tạo bò hiện nay chưa có

Trang 10

Tình hình dịch bệnh tuy đã được phát hiện và xử lý kịp thời, không để phátsinh thành dịch nhưng dịch vụ thú y còn kém phát triển; độ ngũ thú y viên hoạt độngtại các xã, thị trấn hầu hết chưa đáp ứng được khả năng cung cấp dịch vụ thú y- TTNTtrên bò.

Sản phẩm bò giống, bò thịt thương phẩm chưa có thị trường tiêu thụ ổn định,giá cả bấp bênh

- Những tồn tại, hạn chế:

+ Phương thức chăn nuôi còn mang tính quảng canh, chăn nuôi theo truyềnthống là chính; chưa có sự chuyển biến về nhận thức và đầu tư về phát triển đồng cỏ,chế biến thức ăn chăn nuôi bò, quy trình kỹ thuật tiến tiến chưa được áp dụng vào cáckhâu trong chuỗi giá trị sản xuất

+ Giống và công tác cải tạo giống bò chưa được quan tâm đúng mức nên chấtlượng đàn bò giống rất thấp, tầm vóc và trọng lượng nhỏ là một trong những khó khăntrong quá trình lựa chọn hướng lai cải tạo với các giống bò ngoại có khả năng sảnxuất cao

+ Mạng lưới thú y cơ sở đã được quan tâm xây dựng và củng cố nhưng chưađáp ứng được yêu cầu về cung cấp dịch vụ Thú y - TTNT bò của người chăn nuôi

Trang 11

- Củng cố và nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán

bộ kỹ thuật, lực lượng thú y viên, Khuyến nông viên đảm bảo tốt công tác quản lý,theo dõi, cung cấp dịch vụ thú y- TTNT đáp ứng nhu cầu phát triển ngành chăn nuôi

bò, bò thịt tại địa phương

2 Mục tiêu cụ thể

- Phát triển đàn bò dựa trên cơ sở lai tạo giữa đàn bò địa phương với các giống

bò nhóm Zebu, tuyển chọn những cá thể tốt bổ sung vào đàn bò nền của địa phươngPhấn đấu đến năm 2015 tổng đàn bò trên địa bàn là 2.925 con; đến năm 2020 là 4.700con, trong đó đàn bò lai 3.150 con, chiếm 67% tổng đàn;

- Năm 2015: tầm vóc và chất lượng đàn bò: bò cái lai có trọng lượng bình quân280-320kg/con; bò giết thịt lúc 24-30 tháng tuổi có trọng lượng 250-300 kg; tỷ lệ thịt

xẻ 50%; đến năm 2020 đàn bò cái lai có trọng lượng bình quân 350-400kg/con; bògiết thịt lúc 24-30 tháng tuổi có trọng lượng 300 -480 kg; tỷ lệ thịt xẻ 62%

- Xây dựng và củng cố lực lượng thú y viên, dẫn tinh viên cơ sở tại các xã, thịtrấn đảm bảo tốt dịch vụ TTNT và các dịch vụ thú y trên bò trong toàn địa bàn huyện

- Phát triển đồng cỏ trồng để chủ động cung cấp thức ăn thô xanh cho bò, phấn

đấu đến năm 2020 diện tích cỏ trồng trên toàn huyện đạt 230 ha (Tăng 150 ha so với

năm 2014), trong đó chú trọng công tác đầu tư thâm canh cỏ trồng, đưa năng suất cỏ

trồng đạt bình quân 250 tấn/ha, đủ cung cấp thức ăn xanh cho trên 20-22 bò trưởngthành/ha

II KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÀN BÒ GIAI ĐOẠN 2014- 2020:

1 Kế hoạch đào tạo, tập huấn:

a Đào tạo dẫn tinh viên, thú y viên:

Trang 12

Để thực hiện thành công Đề án cải tạo đàn bò làm cơ sở phát triển ngành chănnuôi bò của địa phương hiệu quả, bền vững theo đúng định hướng đề ra, trước hếtphải xây dựng đội ngũ dẫn tinh viên phụ trách công tác thụ tinh nhân tạo và cung cấpcác dịch vụ thú y trên đàn bò để hỗ trợ cho người chăn nuôi.

*Năm 2014:

Phối hợp với Công ty truyền giống gia súc Miền Nam, tổ chức đào tạo kỹ thuậtphối giống cho đội ngũ cán bộ thú y cơ sở xã, thị trấn và 02 cán bộ phụ trách chănnuôi của Trung tâm nông nghiệp huyện

Kinh phí dự kiến như sau:

+ Kinh phí đào tạo: 12 học viên x 6 triệu đồng/người/khóa = 72 triệu đồng;

+ Kinh phí hỗ trợ: 12 học viên x 2 triệu đồng/người = 24 triệu đồng

* Năm 2016:

Tiếp tục đào tạo thêm 08 dẫn tinh viên cho các xã, thị trấn nhằm củng cố độingũ dẫn tinh viên đã xây dựng, đảm bảo mỗi xã, thị trấn có 1- 2 dẫn tinh viên để duytrì mạng lưới dẫn tinh viên có đủ năng lực phụ trách công tác thụ tinh nhận tạo bò,phấn đấu sau năm 2016, tỷ lệ bò cái được thụ tinh nhân tạo chiếm tỷ lệ 85% trở lên

Kinh phí dự kiến như sau:

+ Kinh phí đào tạo: 08 học viên x 6 triệu đồng/người/khóa = 48 triệu đồng;+ Kinh phí hỗ trợ: 08 học viên x 2 triệu đồng/người = 16 triệu đồng

b Tập huấn, chuyển giao KHKT:

Thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, trong giai đoạn

2014-2020 sẽ tập trung mở 38 lớp đào tạo nghề hệ thường xuyên cho khoảng 1.350 lượtngười tham gia, với 02 nội dung, cụ thể:

- Nội dung Kỹ thuật chăn nuôi bò:

+ Số lớp tập huấn: 14 lớp;

+ Số người tham dự: 500 người;

- Nội dung Kỹ thuật chế biến thức ăn cho bò:

+ Số lớp tập huấn: 24 lớp;

+ Số người tham dự: 850 người;

(Kinh phí đào tạo nghề chăn nuôi bò sẽ thực hiện từ Đề án đào tạo

nông nghiệp cho lao động nông thôn).

Trang 13

2 Kế hoạch phát triển đồng cỏ:

Nhằm chủ động nguồn thức ăn xanh cho đàn bò, đặc biệt khi phát triển đàn bòtheo hướng thịt thì nhu cầu về thức ăn thô xanh vừa phải đảm bảo về lượng vừa ổnđịnh về chất lượng Do vậy, trong thời gian tới phải tập trung đẩy mạnh phát triểndiện tích đồng cỏ, đồng thời áp dụng các biện pháp thâm canh, áp dụng tốt quy trìnhthu hoạch để nâng cao năng suất và chất lượng đồng cỏ trên địa bàn

Xây dựng Quy hoạch vùng chuyên canh trồng cỏ nuôi bò tại các xã, thị trấnphía Nam của huyện, gồm: Xã Đạ Oai, xã Đạ Tồn, xã Madaguoil và thị trấnMadaguoil nhằm thúc đẩy phát triển chăn nuôi bò gắn với phát triển đồng cỏ và bảo

vệ môi trường nông thôn

Qua theo dõi tiến độ sản xuất trên địa bàn các xã, thị trấn cho thấy diện tích đấtđang canh tác các loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp như mía, bắp, lúa nếu đượcchuyển đổi sang trồng cỏ kết hợp chăn nuôi bò sẽ cho hiệu quả kinh tế cao và bềnvững, mang lại thu nhập ổn định cho người chăn nuôi

Biểu 3 DIỆN TÍCH ĐẤT CÓ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN ĐỒNG CỎ

Trang 14

- Đến năm 2015: Diện tích đồng cỏ trồng trên địa bàn đạt 101,5 ha; năng suất

bình quân đạt 160 tấn/ha/năm (Năng suất cỏ trồng năm 2013 đạt 125 tấn/ha/năm),

tương đương với khả năng cung cấp thức ăn xanh cho 15-16 bò trưởng thành/ha

- Đến năm 2020: Diện tích cỏ trồng đạt 229,5 ha; năng suất bình quân đạt 250tấn/ha/năm, tương đương với khả năng cung cấp thức ăn xanh cho 20-25 bò trưởngthành/ha; chủ động cung cấp toàn bộ thức ăn thô xanh cho đàn bò của huyện

Sau năm 2020, tiếp tục đầu tư thâm canh diện tích cỏ hiện có, đặc biệt là đầu tưtrồng các loại cỏ cung cấp đạm xen với các vụ cỏ truyền thống nhằm nâng cao năngsuất và chất lượng cỏ trồng của địa phương.

Biểu 1: KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN DIỆN TÍCH ĐỒNG CỎ TRỒNG

- Cây mía: Thu nhập đạt 34,829 triệu đồng/ha/năm;

- Cây Lúa: Thu nhập đạt 36,24 triệu/ha/năm;

- Cây bắp lai: Thu nhập đạt 94,923 triệu đồng/ha/năm;

Trang 15

- Cây dâu thường kết hợp nuôi tằm: Thu nhập đạt 134,943 triệu đồng/ha/năm.

- Cây dâu lai kết hợp nuôi tằm: Thu nhập đạt 193,265 triệu đồng/ha/năm

- Trồng cỏ nuôi bò: Thu nhập đạt 205,174 triệu đồng/ha/năm

(Kèm phụ lục 6 – So sánh Hiệu quả đầu tư một số loại cây trồng)

3 Kế hoạch phát triển đàn bò:

3.1 Công tác điều tra, bình tuyển, quản lý đàn bò giống:

Nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quá trình phát triển đàn bò trongthời gian trước đây, chủ động xây dựng kế hoạch phát triển đàn bò trong thời gian tới,trước hết cần tổ chức điều tra, đánh giá chất lượng đàn bò và theo dõi, quản lý đàn bògiống trên địa bàn, với các nội dung sau:

- Tổ chức điều tra hiện trạng đàn bò cái sinh sản trên địa bàn các xã, thị trấntrên cơ sở đó tổ chức bình tuyển bò cái giống, bò cái hậu bị có trọng lượng từ 140 kg/con trở lên được nuôi tại các hộ gia đình để phục vụ cho công tác theo dõi, gieo tinh,quản lý đàn bò trong thời gian tới

- Lập sổ theo dõi, bấm số tai cho bò:

+ Mỗi xã, thị trấn lập 01 số theo dõi đàn bò của từng hộ gia đình, trang trại

+ Dùng biển số nhựa để gắn số tai cụ thể cho từng bò cái sinh sản, (dự kiến:Xã

Đoàn Kết T0 .; Xã Đạ Ploa: T1 ; Thị trấn Đạ M’ri: T2 .; Xã Đạ M’ri: T3 .;

Xã Phước Lộc: T4 .; xã Hà Lâm: T5 .; Thị trấn Madaguoil: T6 .; xã Madaguoil: T7 .; xã Đạ Oai: T8 .; xã Đạ Tồn: T9 .).

- Lập sổ theo dõi đàn bò cái nền toàn huyện: Trên cơ sở số liệu đàn bò của các

xã, thị trấn sẽ xây dựng hồ sơ theo dõi tình hình phát triển đàn bò và tiến độ lai cảitiến đàn bò trên toàn huyện

3.2 Kế hoạch phát triển đàn bò đến năm 2020:

a Kế hoạch phát triển tổng đàn:

- Đến năm 2015: Tổng đàn bò của huyện đạt 2.925 con, trong đó:

+ Bò cái sinh sản: 1.557 con;

+ Bò cái hậu bị: 746 con;

+ Bê đực: 622 con;

- Đến năm 2020: Tổng đàn bò của huyện đạt 4.700 con, trong đó:

+ Bò cái sinh sản: 2.475 con;

Ngày đăng: 08/01/2022, 09:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w