Bên cạnh đó, ngành xuất khẩu gạo Việt Namvẫn tồn tại những hạn chế như chất lượng gạo xuất khẩu còn thấp; giá xuấtkhẩu thấp so với các nước Thái Lan, Ấn Độ; năng lực cạnh tranh trên thịt
Trang 1Chương1 GIỚI THIỆU1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, ngành xuất khẩu gạo của Việt Nam đã tạo đượcmột số thành tựu nổi bật Tổng lượng gạo xuất khẩu trong năm 2014 đạt 7,5triệu tấn, kết cấu chủng loại gạo đặc biệt là các loại gạo thơm giá trị cao đã cónhiều cải thiện, thị trường xuất khẩu không ngừng được mở rộng Xuất khẩugạo đã góp phần quan trọng đưa đất nước vượt qua thời kỳ khó khăn, tạo sự ổnđịnh về kinh tế, chính trị, xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển đất nước Khôngchỉ thế, xuất khẩu gạo còn có vai trò quan trọng đối với phát triển nông nghiệpnông thôn, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo ở nông thônnói riêng và cả nước nói chung Hơn nữa xuất khẩu gạo góp phần hội nhậpquốc tế ngày càng sâu rộng hơn Bên cạnh đó, ngành xuất khẩu gạo Việt Namvẫn tồn tại những hạn chế như chất lượng gạo xuất khẩu còn thấp; giá xuấtkhẩu thấp so với các nước Thái Lan, Ấn Độ; năng lực cạnh tranh trên thịtrường quốc tế còn yếu
Do vậy, việc Việt Nam đứng thứ hai thế giới trong xuất khẩu gạo làkhông bền vững nếu chúng ta không chú ý tới chất lượng mà chỉ chạy theo sốlượng Như vậy, trong sản xuất lúa gạo Nhà nước và chính quyền địa phươngphải có định hướng, tuyên truyền, khuyến cáo người nông dân muốn xuất khẩubền vững thì phải chú ý đến chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường, tăngcường sản xuất những loại gạo đang được thị trường ưa chuộng và có giá cảhợp lý Từ đó, người nông dân sẽ thấy được hiệu quả và lợi nhuận mang lại từviệc sản xuất các giống lúa thơm, nhận thức được sự gắn kết giữa sản xuất vàxuất khẩu Bởi lẽ việc tham gia vào các chuỗi cung ứng, các chuỗi giá trị toàncầu của Việt Nam còn yếu, nhiều sản phẩm nông sản của Việt Nam xuất rabên ngoài nhưng lại bị dùng nhãn mác của nước khác đây là một yếu kém, một
sự tồn tại trong vấn đề quảng bá và xúc tiến thương mại Một lý do quan trọng
khác là Việt Nam chưa có bộ giống lúa quốc gia tiêu chuẩn Một quốc gia xuấtkhẩu đến 7 triệu tấn gạo mỗi năm mà chưa có bộ lúa giống quốc gia là điềuđáng ngạc nhiên, theo lời Phó Giáo sư - Tiến sĩ Võ Công Thành, Trưởng Bộmôn Giống, Đại học Cần Thơ Song, hiện nay trong điều kiện hội nhập kinh tếquốc tế của Việt Nam ngày càng sâu và rộng, xuất khẩu gạo của Việt Namđang phải đối đầu với những thách thức lớn như thị trường không ổn định, xuhướng cạnh tranh của các nước mới xuất khẩu gạo ngày càng gay gắt Hơnnữa, xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng về lượng nhưng giá trị lại không tăng
Trang 2hoặc tăng với tốc độ thấp hơn tăng sản lượng Thiết nghĩ Việt Nam sản xuất ralúa, gạo nhưng cái chúng ta cần bán là thương hiệu gạo Có thương hiệu khôngchỉ là việc bán được giá cao mà còn ghi dấu ấn vào thị trường với những sảnlượng và giá trị ổn định Thương hiệu không chỉ là nhãn hiệu, tên gọi mà nócòn hàm chứa sở hữu trí tuệ khác như bao bì, mẫu mã, kiểu dáng, quảng bá,tiếp thị giới thiệu sản phẩm Trong khi đó, nhắc đến Thái Lan, ai cũng có thể
kể tên những giống gạo ngon nổi tiếng của nước này Những sản phẩm nàycủa Thái Lan có mặt ở nhiều quầy kệ của các siêu thị, nhà bán lẻ trên khắp cácchâu lục Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, đặc biệt là việc tham giacác hiệp định thương mại như FTA với EU, TPP mở ra cho gạo Việt Nam cơhội thâm nhập một số thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản và châu Âu Tuynhiên, đây không chỉ là cơ hội về thị trường xuất khẩu mà còn là thách thức vềkhả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam, đặc biệt là chất lượng và mức độ định
vị sản phẩm trên thị trường các nước Một lợi thế khác của gạo Việt nam là sựphong phú của các giống lúa bản địa, có tiềm năng xuất khẩu với các thịtrường ngách, đặc sản trên thế giới Chính vì thế, việc phát triển thương hiệugạo Việt Nam trên thị trường thế giới cho quốc gia là rất cần thiết và khả thi
trong bối cảnh hội nhập hiện nay, cho nên tôi đã chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới”
nhằm tìm hiểu về thực trạng gạo Việt Nam trong những năm qua, bên cạnh đó
đề ra những giải pháp cụ thể trong việc xây dựng thương hiệu gạo nước nhà
Trang 31.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam nhằm quảng bá hình ảnh thươnghiệu gạo Việt Nam chất lượng đến doanh nghiệp, người tiêu dùng trong vàngoài nước để thúc đẩy hợp tác quốc tế và xúc tiến thương mại Xây dựngthương hiệu gạo quốc gia thể hiện nền văn hóa, lịch sử, nền văn minh nôngnghiệp, đất nước con người Việt Nam nhằm khẳng định giá trị và lợi thế củasản phẩm, tăng cường năng lực của các doanh nghiệp, nâng cao khả năng nhậnbiết của nhà phân phối và người tiêu dùng tạo cơ sở để phát triển thị trường,thị phần và sức cạnh tranh của thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường thếgiới
Mục tiêu 3: Xác định những thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựngthương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới
Mục tiêu 4: Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao giá trị và xây dựngthương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Phạm vi không gian
Nghiên cứu trên toàn lãnh thổ Việt Nam
1.3.2 Phạm vi thời gian:
Thời gian thực hiện đề tài từ 21/05/2015 - 24/06/2015
Số liệu sử dụng trong đề tài lấy từ năm 2013 đến hết 2014
1.3.3 Phạm vi đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu về “Thực trạng và giải pháp xây dựng thương hiệu gạo ViệtNam trên thị trường thế giới”
Trang 4Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm thương hiệu:
Thương hiệu là một khái niệm chung, được hiểu theo nhiều cách khácnhau, tùy thuộc vào cách tiếp cận:
Dưới góc độc marketing có nhiều khái niệm khác nhau, như: “Thươnghiệu (brand) là tên gọi, biểu tượng, dấu hiệu, kiểu dáng hoặc sự phối hợp tất cảcác yếu tố này để có thể nhận biết hàng hoá hoặc dịch vụ của một người báncũng như phân biệt nó với hàng hoá hay dịch vụ của những người bánkhác”(Hiệp hội marketing Mỹ) Hay “Thương hiệu (Brand) có thể được hiểunhư là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúngđược dùng để xác nhận sản phẩm của người bán và để phân biệt với sản phẩmcủa đối thủ cạnh tranh”( Philip Kotler)
Dưới góc độ ứng dụng trong đời sống thương mại: Thương hiệu là sựbiểu hiện cụ thể của nhãn hiệu hàng hóa, là cái phản ánh hay biểu tượng về uytín của doanh nghiệp truớc người tiêu dùng
Dưới góc độ về sở hữu trí tuệ: Thương hiệu là thuật ngữ để chỉ chung cácđối tượng sở hữu trí tuệ thường được nhắc đến và được bảo hộ như nhãn hiệuhàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý hoặc tên gọi xuất xứ hàng hóa
Trên khía cạnh về phát triển giá trị sản phẩm thì: “Thương hiệu là tổnghợp tất cả các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm,hoặc một dòng sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi logo, “hìnhảnh” và mọi sự thể hiện hình ảnh, dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràngtrong tâm trí khách hàng nhằm thiết lập một chỗ đứng tại đó.”
Trong khi đó, WIPO (Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới) đã định nghĩa:
“Thương hiệu thường được hiểu và sử dụng theo một nghĩa bao quát hơn để
đề cập đến sự kết hợp của các yếu tố hữu hình và vô hình, như một nhãn hiệu,thiết kế, logo, tên thương mại, khái niệm, hình ảnh và danh tiếng Nó là hìnhảnh tổng thể của thương hiệu, không chỉ đơn thuần là một nhãn hiệu hoặc mộtthiết kế hoặc một yếu tố độc lập, nó phân biệt hàng hóa, dịch vụ với đối thủcạnh tranh, biểu hiện một chất lượng nhất định và trong dài hạn thu hút vànuôi dưỡng lòng trung thành của người tiêu dùng”
Như vậy, Thương hiệu được hiểu là: mối quan hệ giữa sản phẩm vớicông chúng của nó, là tổng hòa của tình cảm, nhận thức, lòng tin và trải
Trang 5nghiệm của công chúng; là một lời hứa của sản phẩm với công chúng Cốt lõicủa thương hiệu: là tổng hợp các ký ức của con người về thương hiệu đó.
2.1.2 Khái niệm thương hiệu quốc gia
Từ khái niệm về thương hiệu phía trên ta có thể hiểu thương hiệu quốcgia là tên, các khẩu hiệu, ký hiệu, biểu tượng hay thiết kế hay tổng hợp nhữngyếu tố trên với mục đích xác định hàng hóa và dịch vụ được tạo ra từ một quốcgia nhằm phân biệt hàng hóa và dịch vụ của quốc gia này với những quốc giakhác Do vậy, xác định và phân biệt là cốt lõi chính để phát triển thương hiệunói chung và thương hiệu quốc gia nói riêng
Thương hiệu quốc gia luôn luôn biểu tượng cho một hình ảnh tiêu biểucủa quốc gia đó như là một cường quốc, một nước thịnh vượng, hay một nướcnghèo khó và vì thế có rất nhiều cơ hội cho các quốc gia để tạo ra những biểutượng như sự sáng tạo, năng động, tin cậy, ngây thơ, thông thái, ưa mạo hiểm,
an toàn và những biểu tượng khác
Dựa trên cách tiếp cận về kinh nghiệm thực tiễn, Simon Anholt cho rằngthương hiệu quốc gia được cấu thành từ hình ảnh của sáu nhóm nhân tố có tácđộng qua lại với nhau Ông gọi đó là sáu chiều kích của thương hiệu quốc gia,bao gồm văn hóa và truyền thống; xuất khẩu; du lịch; đầu tư và di trú; conngười và năng lực điều hành của nhà nước
Chương trình Thương hiệu quốc gia của Việt Nam đã tham vấn cácchuyên gia tư vấn hàng đầu thế giới, các công ty tư vấn và nghiên cứu thịtrường nổi tiếng như WPP, O&M, Interbrand, TNS, GFK, tiếp xúc và làm việcvới các trường đại học, viện nghiên cứu, các hiệp hội kinh doanh và các họcgiả trong và ngoài nước để thống nhất các khái niệm cũng như định danh củachương trình
Trên nền tảng đó, Chương trình Thương hiệu quốc gia hiểu khái niệmthương hiệu quốc gia là “tập hợp các liên tưởng của cộng đồng về bản sắc vàhình ảnh của quốc gia thông qua các đối tượng mà quốc gia đó sở hữu như lịch
sử, sự phát triển về kinh tế - xã hội, con người, điều kiện địa lý đặc thù, điểmđến, môi trường kinh doanh, sự vận động và năng động của quốc gia, các giátrị như thân thiện, chất lượng, sáng tạo Trong đó, hình ảnh quốc gia là nhậnthức của cộng đồng về các dữ liệu quá khứ của quốc gia còn bản sắc quốc gia
là nhận thức của cộng đồng về định hướng hình ảnh mong ước của quốc gia
đó trong tương lai”
Trang 62.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thương hiệu quốc gia
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng thương hiệu quốc gianhưng xét trên góc độ chung nhất thì nó bao gồm:
Sự cạnh tranh về giá
Sự phát triển của đối thủ cạnh tranh
Sự phân tán của thị trường và truyền thông
Sự đa dạng của sản phẩm và thương hiệu trên thị trường
Các áp lực của hoạt động kinh doanh ngắn hạn
Các vấn đề trong tiêu chuẩn hàng hóa
Quá trình xây dựng thương hiệu không chỉ là tạo ra sản phẩm chất lượnghay một logo, hình ảnh đẹp, slogan hay mà đó là việc tạo ra tất cả những ấntượng mang cảm xúc và trí tuệ mà khách hàng có được khi nghĩ về sản phẩm,quốc gia, từ đó hình thành nên lòng trung thành và niềm tin của khách hàngvào các giá trị được cam kết ở thương hiệu
Do đó, trong quá trình xây dựng thương hiệu, việc đánh giá, xác địnhnhững yếu tố ảnh hưởng, chi phối đến thương hiệu là rất quan trọng để xâydựng một thương hiệu ổn định, bền vững và hiệu quả
2.2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Tổng hợp các thông tin, số liệu thứ cấp trên các phương tiện thông tin đạichúng: báo chí, thời báo kinh tế, tổng cục thống kê và các trang web có liênquan
1.4.2 Phương pháp phân tích số liệu
Đối với mục tiêu thứ nhất: Sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô
tả, tức là dựa vào số liệu thu thập được trong những năm 2013-2015 để đưa ranhận xét về tình hình xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam trong thời gian vừaqua
Đối với mục tiêu thứ hai: Dựa trên nghiên cứu ứng dụng, nhân quả.Đối với mục tiêu thứ ba: Sử dụng phương pháp kiểm tra và phân tích từ
đó rút ra nhận định về những khó khăn trong hoạt động xây dựng thương hiệugạo Việt Nam trên thị trường thế giới
Trang 7Đối với mục tiêu thứ tư: Sử dụng phương pháp quy nạp và suy luận đềxuất những biện pháp nhằm nâng cao giá trị và xây dựng thương hiệu gạo ViệtNam trên thị trường thế giới.
Trang 8Chương 3 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU GẠO VIỆT NAM
TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI3.1 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO VIỆT NAM
3.1.1 Sản lượng, năng suất và chất lượng gạo Việt Nam
Lúa đông xuân: Diện tích gieo trồng lúa đông xuân trên cả nước năm
2014 đạt 3,12 triệu ha, năng suất bình quân đạt 66,9 tạ/ha, sản lượng đạt 20,85triệu tấn So với vụ đông xuân năm trước diện tích tăng 10,9 ngàn ha (tươngđương 0,4%); năng suất tăng 2,3 tạ/ha (3,5%) sản lượng tăng 78,1 vạn tấn(3,9%) Tính riêng trên địa bàn các tỉnh, thành phố miền Bắc, diện tích gieotrồng đạt 1,16 triệu ha, năng suất đạt 62,5 tạ/ha, sản lượng đạt 7,26 triệu tấn;diện tích tăng 3,8 ngàn ha, năng suất tăng 0,7 tạ/ha, sản lượng tăng 10,6 vạntấn Các tỉnh miền Nam, diện tích gieo trồng đạt 1,95 triệu ha, năng suất đạt69,5 tạ/ha, sản lượng đạt gần 13,6 triệu tấn; so với vụ trước diện tích tăng 7,1ngàn ha, năng suất tăng 3,2 tạ/ha, sản lượng tăng 67,5 vạn tấn Đối với địa bànmiền Nam đây là một trong những vụ lúa đông xuân được mùa nhất từ trướctới nay
Lúa hè thu: Diện tích gieo trồng trên cả nước đạt 2,11 triệu ha, năng suấtbình quân đạt 53,3 tạ/ha, sản lượng đạt 11,24 triệu tấn; so với vụ trước diệntích giảm 13,24 ngàn ha (tương đương -0,6%); năng suất tăng 1 tạ/ha (1,9%)sản lượng tăng 14,2 vạn tấn (1,3%) Các tỉnh miền Bắc, diện tích gieo trồngđạt 173,9 ngàn ha, năng suất đạt 47,9 tạ/ha, sản lượng đạt 833,1 ngàn tấn, diệntích tăng 1 ngàn ha, năng suất tăng 4,7 tạ/ha, sản lượng tăng 86 ngàn tấn Cáctỉnh miền Nam, diện tích gieo trồng đạt 1,93 triệu ha, năng suất bình quân đạt53,7 tạ/ha, sản lượng đạt 10,4 triệu tấn; so với năm trước diện tích giảm 14,2ngàn ha (-0,7%), năng suất tăng 0,7 tạ/ha, sản lượng tăng 56 ngàn tấn
Lúa thu đông: Tổng diện tích xuống giống đạt 614,6 ngàn ha, năng suấtđạt 51,8 tạ/ha, sản lượng đạt xấp xỉ 3,2 triệu tấn; so với vụ trước diện tíchgiảm 73,4 ngàn ha (-10,7%), năng suất tăng 0,5 tạ/ha, sản lượng giảm 348ngàn tấn (-10%) Đây là vụ lúa tăng vụ mới xuất hiện trong thời gian gần đây.Tuy nhiên, lúa thu đông là vụ lúa kết quả sản xuất khá bấp bênh do nguy cơ bịmất trắng trong mùa lũ ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long vào thời kỳthuhoạch Bộ và ngành khuyến cáo các địa phương chỉ sản xuất trên địa bàn chắc
ăn, làm bờ bao chống lũ và ưu tiên chọn giải pháp luân canh thay vì trồng lúa Lúa mùa: Tổng diện tích gieo trồng cả nước đạt xấp xỉ 1,97 triệu ha, năngsuất bình quân đạt 48,7 tạ/ha, sản lượng đạt 9,57 triệu tấn, so với vụ trước diện
Trang 9tích giảm 21,1 ngàn ha (-1,1%), năng suất tăng 1,7 tạ/ha, sản lượng tăng 228,7ngàn tấn (2,4%) Các tỉnh miền Bắc, diện tích gieo trồng đạt 1,18 triệu ha,năng suất đạt 49,6 tạ/ha, sản lượng đạt 5,85 triệu tấn, so với vụ trước diện tíchgiảm 3,9 ngàn ha, năng suất tăng 2,1 tạ/ha, sản lượng tăng xấp xỉ 230 ngàntấn Các tỉnh miền Nam, diện tích gieo trồng đạt 784 ngàn ha, năng suất bìnhquân đạt 47,5 tạ/ha, sản lượng đạt 3,72 triệu tấn, so với vụ trước diện tích giảm17,2 ngàn ha (-2,1%), năng suất tăng 1 tạ/ha, sản lượng giảm 0,3 ngàn tấn Lúa cả năm: Như vậy, sản xuất lúa cả năm (gộp cả 4 vụ lúa sản xuấttrong năm) của cả nước năm 2014, sơ bộ đạt kết quả như sau: Tổng diện tíchgieo trồng đạt hơn 7,8 triệu ha, năng suất bình quân đạt 57,4 tạ/ha, sản lượngđạt 44,84 triệu tấn, so với kết quả năm trước diện tích lúa cả năm giảm 96,8ngàn ha (-1,2%), năng suất tăng 1,7 tạ/ha (3,1%), sản lượng tăng 80,4 vạn tấn(1,8%) Các tỉnh miền Bắc, diện tích gieo trồng đạt hơn 2,51 triệu ha, năngsuất đạt 55,4 tạ/ha, sản lượng đạt 13,94 triệu tấn; so với vụ trước diện tích tăng0,9 ngàn ha, năng suất tăng 1,7 tạ/ha, sản lượng tăng hơn 420 ngàn tấn; cáctỉnh miền Nam, diện tích gieo trồng đạt 5,29 triệu ha, năng suất bình quân đạt58,4 tạ/ha, sản lượng đạt gần 30,9 triệu tấn; diện tích giảm 97,7 ngàn ha (-1,8%), năng suất tăng 1,8 tạ/ha (3,1%), sản lượng tăng 383 ngàn tấn (1,3%)Xét về cơ cấu và chất lượng giống lúa, hiện nay Việt Nam thiếu các bộgiống hoàn chỉnh cho từng địa bàn, thiếu giống có chất lượng đáp ứng yêu cầuthị trường, chất lượng các lô gạo xuất khẩu không đồng đều Giống lúa phục
vụ xuất khẩu chủ yếu hướng tới các thị trường dễ tính với giá bán thấp Cơ cấu
về giống lúa được thu mua từ các nhà máy tại Đồng Bằng Sông Cửu Long chothấy, có đến 68% là các giống tẻ thường, 27% là giống lúa thơm ngắn ngày,còn lại 5% là các giống địa phương và trung ngày Trong đó, tại các nhà máyđánh bóng, xuất khẩu thì có đến 74% sản lượng là giống tẻ thường, 22% làgiống lúa thơm ngắn ngày Trong khi đó, 70% sản lượng lúa của Đồng BằngSông Cửu Long dùng để xuất khẩu, chỉ có 30% là tiêu dùng nội địa
Nhìn chung, ngành lúa gạo Việt Nam hiện nay đã đạt trần về năng suất,sản lượng và vì thế lợi nhuận không có nhiều cơ hội tăng thêm, vì vậy ViệtNam cần phải tái cơ cấu lại ngành lúa gạo, trong đó định hướng vào phát triểnlúa, gạo chất lượng cao và phát triển thực phẩm chế biến từ gạo
3.1.2 Kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2014 kim ngạch xuấtkhẩu gạo đạt 6,378 triệu tấn, trị giá đạt 2,955 tỷ USD, giảm 3,2% về lượng vàtăng 1,1% về trị giá so với năm 2013 Mặc dù kim ngạch xuất khẩu gạo sangphần lớn các thị trường bị sụt giảm cả về lượng và kim ngạch so với năm
Trang 102013, nhưng xuất khẩu lại tăng rất mạnh Điều này chứng tỏa khả năng pháttriển thương gạo Việt Nam sang các thị trường trên thế giới rất có tiềm năng
và đảm bảo tiêu thụ hết lúa gạo hàng hóa cho nông dân
3.1.3 Giá gạo xuất khẩu
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam công bố giá xuất khẩu tối thiểu đốivới gạo trắng 25% tấm là 350 USD/tấn/FOB cảng Việt Nam, đóng bao 50kg.Chênh lệch giá giữa các loại gạo khác do các thương nhân tính toán và quyếtđịnh
Giá gạo xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm 2014 đạt 462,99USD/tấn, tăng 4,92% so với cùng kỳ năm 2013
Trong tháng 1/2015, giá gạo liên tục giảm do bước vào thu hoạch ĐôngXuân năm 2014-2015, nguồn cung gạo lớn trong khi nhu cầu thu mua yếu, hầuhết các nhà kho ngừng thu mua Tại Kiêng Giang, giá gạo nguyên liệu IR 504/dài ngày 30/1 ở mức 6100-6200/6400-6500 đồng/kg, giảm mạnh từ mức đầutháng là 6700-6750/7100-7200 đồng/kg, giảm từ mức đầu tháng là 7800/7100đồng/kg Giá chào xuất khẩu giảm mạnh do VFA điều chỉnh giá sàn xuất khẩugạo 25% tấn xuống 360 USD/tấn, giá sàn có hiệu lực từ 12/1/2015 So vớicùng kỳ 2014 giá gạo 5% đã giảm 29 USD/tấn (7,13%), gạo 25% giảm 34USD/tấn (8,9%)
Tuy nhiên, lợi thế của Việt Nam là giá thành sản xuất thấp, theo IRRInăm 2014, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có giá thành sản xuất lúa thấpnhất 0.13 USD/kg, so với 0.15 USD/kg của Ấn Độ, Thái lan là 0.2 USD/kg,Trung Quốc 0.24 USD/kg, Indonesia là 0.24 USD/kg và Phillipines là 0.25USD/kg Nhưng lợi nhuận của người sản xuất lúa lại thấp hơn nhiều so với cácnước, lợi nhuận của nông dân Việt Nam chỉ 0.06 USD/kg, trong khi của TháiLan là 0.2 USD/kg, Indonesia là 0.14 USD/kg, Trung Quốc là 0.24 USD/kg và
Ấn Độ là 0.09USD/kg
3.1.4 Chủng loại gạo xuất khẩu
Về chủng loại và chất lượng gạo xuất khẩu, theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo cao cấp chiếm 21,08% (1,331 triệu tấn), gạo cấp trung bình chiếm 31,78% (2,013 triệu tấn), gạo cấp thấp chiếm 11,58% (732 nghìn tấn) Gạo thơm các loại chiếm 20,62%, nếp chiếm 10,09%, tấm chiếm 2,52%, gạo gồ chiếm 1,29%, còn lại là các loại gạo khác
Trang 11Bảng 3.1: Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam theo chủng loại gạo tháng
Gạo thơm Khác TổngChâu Á 125.537 4.526 212.156 5.475 10.224 64.633 46.485 21.669 490.705Châu Phi 28,866 566 100 2,500 42,000 - 37,193 8,950 120.175
Tổng 163,634 5,764 212,908 7,975 52,224 66,183 95,556 32,301 636,545
Nguồn: Theo số liệu thống kê của Hiệp hội lương thực Việt Nam.
3.1.5 Thị trường xuất khẩu gạo
Hiệp hội Lương thực cho biết, thị trường gạo xuất khẩu chủ yếu của Việt
Nam là Châu Á (chiếm 75,75%), tiếp đến là Châu Phi (12,68%) Các thị
trường tiếp theo là Châu Mỹ, Châu Úc, Trung Đông, Châu Âu Thị trường lớn
nhất trong 11 tháng đầu năm 2014 là Trung Quốc với 30,3%
Năm 2014, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập gạo nhiều nhất của Việt
Nam với 2,09 triệu tấn, trị giá 891,19 triệu USD (chiếm 31,64% về lượng và
30,16% tổng kim ngạch)
Bên cạnh đó là một số thị trường lớn cũng đạt kim ngạch trên 100 triệu
USD như: Philippines (đạt 1,35 triệu tấn, tương đương 608,53 triệu USD),
Malaysia (đạt 472.893 tấn, tương đương 216 triệu USD), Indonesia (đạt
327.648 tấn, tương đương 150,62 triệu USD), Gana (đạt 322.131 tấn, tương
đương 177,86 triệu USD), Bờ biển Ngà (đạt 214.204 tấn, tương đương 104,92
triệu USD)
Xuất khẩu gạo cũng tăng mạnh ở thị trường Indonesia (tăng 108,89% về
lượng và tăng 64,93% về kim ngạch) và thị trường Hoa Kỳ (tăng 187,28% về
lượng và tăng 210,26% về kim ngạch)
Bảng 3.2: Tình hình xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trường thế giới
năm 2014
Trang 12Thị trường năm 2013(%)
Lượng (tấn)
Trị giá (USD)
Lượng (tấn)
Trị giá (USD)
Lượng Trị giá
Tổng cộng 6.377.943 2.955.239.625 6.592.439 2.925.222.101 -3,25 +1,03
Trung Quốc 2.018.198 891.185.226 2.152.726 901.861.233 -6,25 -1,18Philippines 1.350.171 608.529.058 504.558 225.435.744 +167,59 +169,93Malaysia 472.893 216.002.921 465.977 231.433.189 +1,48 -6,67Gana 322.131 177.860.875 380.718 182.784.266 -15,39 -2,69Indonesia 327.648 150.617.866 156.853 91.324.867 +108,89 +64,93
Bờ biển Ngà 214.204 104.916.670 561.333 228.534.316 -61,84 -54,09Hoa Kỳ 162.611 95.534.035 56.603 30.792.038 +187,28 +210,26Hồng Kông 162.611 95.534.035 184.763 106.456.056 -11,99 -10,26Singapore 185.808 91.432.208 356.537 162.072.891 -47,89 -43,59Đông Timo 76.790 29.645.936 95.833 36.786.849 -19,87 -19,41Đài Loan 33.331 19.202.152 52.241 26.489.640 -36,20 -27,51Nam Phi 41.148 17.327.655 31.745 14.393.322 +29,62 +20,39Tiểu vương
Quốc Ả Rập
thống nhất
27.381 17.023.462 19.846 12.102.879 +37,97 +40,66
Angieri 36.584 15.810.543 95.494 39.933.942 -61,69 -60,41Senegal 43.356 15.244.278 46.214 17.463.168 -6,18 -12,71Nga 23.649 10.500.592 92.965 41.714.673 -74,56 -74,83Brunei 13.453 7.551.968 12.811 6.985.670 +5,01 +8,11Angola 13.699 7.130.308 116.738 47.783.084 -88,27 -85,08Chi Lê 13.509 5.725.943 27.211 11.157.296 -50,35 -48,68Ucraina 11.775 5.380.195 24.926 10.444.582 -52,76 -48,49Australia 7.431 5.102.247 6.700 4.561.220 +10,91 +11,86
Bỉ 9.787 4.858.499 27.429 10.373.122 -64,32 -53,16
Hà Lan 8.403 4.204.349 18.812 8.377.443 -55,33 -49,81Thổ Nhĩ Kỳ 3.598 1.972.217 7.318 3.360.093 -50,83 -41,30
Ba Lan 2.983 1.511.549 2.990 1.289.280 -0,23 +17,24
Trang 13Tây Ban Nha 2.109 1.328.527 2.887 1.353.144 -26,95 -1,82
Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam.
Theo bảng số liệu trên, xuất khẩu biên mậu thị trường Trung Quốc đạt
khoảng 1 triệu tấn Như vậy, tổng lượng gạo xuất khẩu trong năm 2014 đạt 7,5
triệu tấn Ước tính khối lượng gạo xuất khẩu tháng 1/2015 đạt 312.000 tấn, trị
giá 152 triệu USD, giảm 14,5% về lượng và giảm 12,7% về giá trị so với
tháng 1/2014
Đáng chú ý là trong năm 2014 mặc dù xuất khẩu gạo sang phần lớn các
thị trường bị sụt giảm cả về lượng và kim ngạch so với năm 2013, nhưng xuất
khẩu lại tăng rất mạnh ở thị trường Philippines (chiếm 21,17% về lượng và
chiếm 20,59% về kim ngạch) với mức tăng 168% về lượng và 170% về giá trị
so với năm 2013 Với mức tăng này Philippines vươn lên đứng vị trí thứ hai về
thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam, tiếp đến là Malaysia, Gana và
Indonesia chiếm thị phần lần lượt là 7,32%, 6,02% và 5,1%
Đáng chú ý nhất là thị trường Philippin có sự tăng trưởng đột biến trong
11 tháng đầu năm với mức tăng gấp 3,68 lần về khối lượng và gấp 3,74 lần về
giá trị so với cùng kỳ năm 2013 Với mức tăng trưởng này, Philippin vươn lên
vị trí đứng thứ 2 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm 21,38%,
tiếp đến là Malaysia, Gana và Indonesia, chiếm thị phần lần lượt là 7,38%;
5,90% và 5,13%
Trang 14Tuy nhiên, thị trường cũng đan xen những diễn biến khó lường, không cólợi cho gạo của Việt Nam Đáng lo ngại là chính sách và động thái giải quyếttồn kho của Thái Lan Hơn nữa, gạo Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắtvới các “kho gạo” trên thế giới như Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan, Campuchia.Thêm nữa, do phần lớn các doanh nghiệp phát triển thương hiệu gạo Việt Nam
có năng lực tài chính hạn chế, không đủ vốn và chủ yếu dựa vào vốn vay ngânhàng, nên sức cạnh tranh yếu Do đó, nhà nước cần sớm tháo gỡ nút thắt về tíndụng, có chính sách hỗ trợ lãi suất đầu tư, tăng hạn mức tín dụng cho cácdoanh nghiệp phát triển thương hiệu gạo Việt Nam Với các khoản vay đầu tư,cần có chính sách ưu đãi như chuyển vốn lưu động ngắn hạn thành vốn trung
và dài hạn, có chính sách riêng cho doanh nghiệp có thể thực hiện mô hìnhcánh đồng mẫu lớn
3.1.6 Dự báo nhu cầu gạo thế giới
Thương mại gạo thế giới năm 2014 dự báo ở mức 38,3 triệu tấn, tăng 2%
so với năm 2013 và giảm không nhiều so với kỷ lục năm 2012 Về xuất khẩu,việc chính phủ Thái Lan mở kho hàng dự trữ khiến giá gạo giảm trong vàitháng trở lại đây đã giúp nước này lấy lại được lợi thế cạnh tranh của mình.Sản lượng gạo bội thu cũng đưa kim ngạch xuất khẩu gạo của một số nướcnhư Brazil, Trung Quốc, Ai Cập, Guyana và Paraguay tăng mạnh Tuy nhiên,lợi thế mà Thái Lan đang có, giúp nước này duy trì được vị trí thứ nhất trên thịtrường gạo thế giới, đã ảnh lớn đến kim ngạch xuất khẩu của một số nướctrong đó có Ấn Độ Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu gạo của Argentina,Pakistan, Uruguay Hoa Kỳ dự kiến năm 2014 có xu hướng giảm
Sản lượng lúa gạo dự trữ năm 2014 ước tính khoảng 4,6 triệu tấn, tăng sovới mức dự báo hồi đầu năm của tổ chức FAO Từ đó, nâng tỷ lệ dự trữ dànhcho tiêu dùng thế giới từ 35,6% năm 2012 so với năm 2013 lên mức 35,9%,tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển Trong số các nước xuất khẩu,Thái Lan và Việt Nam được dự báo sẽ kết thúc niên vụ với sản lượng dự trữnhiều hơn so với các quốc gia khác như Ấn Độ, Pakistan và Hoa Kỳ Về phíacác nhà nhập khẩu, Trung Quốc dự kiến sẽ tăng lượng gạo dự trữ Mặt khác,các nhà nhập khẩu truyền thống như Bangladesh, Indonesia, Cộng hòa Iran,Madagascar, Nigeria, Philippines và Nam Phi có thể kết thúc niên vụ với sảnlượng dự trữ thấp hơn các quốc gia còn lại
Giá gạo quốc tế sau khi giữ mức ổn định gần như trong suốt năm 2013 đãgiảm đáng kể trong tháng 12 Chỉ số giá lúa gạo FAO (2002-2004 = 100) giảm5% giá trị xuống còn 226 điểm Chỉ số giảm khoảng 2 điểm trong tháng 10 vàgiảm tiếp 1 điểm vào tháng 11, xấp xỉ ở mức 223 điểm Sự sụt giảm giá lúa
Trang 15gạo rõ rệt nhất ở phân khúc hạt dài, nhỏ, vì việc định giá chịu áp lực bởi tỷ lệmua vào thấp cùng với triển vọng về vụ mùa chính bội thu ở các nước BắcBán Cầu Sự tuột dốc về giá xảy ra mạnh nhất tại Thái Lan đã tạo ra một lànsóng mới trên thị trường lúa gạo thế giới trong vài tháng gần đây, chính là sự
"giao thoa" các mức giá của các nước xuất khẩu gạo chính tại châu Á, tạo ranhững dấu hiệu mới trong thương mại gạo trong vài tháng tới
Dự báo của tổ chức FAO về thương mại gạo thế giới năm 2013 không có
thay đổi đáng kể kể từ tháng 7, duy trì ở mức 37,5 triệu tấn (chủ yếu là gạo đãxay xát), thấp hơn khoảng 2% so với mức kỷ lục năm 2012 Nhu cầu nhậpkhẩu gạo tại một số quốc gia như ở vùng Viễn Đông (Indonesia, Philippines)
và khu vực Tây Phi (Nigeria, Senegal) sụt giảm do hai nguyên nhân sau: thứnhất là do sản lượng bội thu tại hầu hết các nước này; thứ hai là do các chínhsách hạn chế nhập khẩu nằm trong chương trình tự cung tự cấp của một sốnước Tại một số nước trong khu vực Châu Âu, Mỹ Latinh và vùng Caribbê(Brazil, Colombia) và Bắc Mỹ (Hoa Kỳ), nhập khẩu gạo tăng cao do sản lượngtrong nước thiếu hụt không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng nội địa
Trong số các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, Việt Nam là nướcchịu ảnh hưởng nhiều nhất do nhu cầu nhập khẩu gạo thế giới giảm mạnh.Ngoài ra, những khó khăn về nguồn cung và giá cao cũng là những yếu tố gâytác động tiêu cực tới xuất khẩu của Argentina, Brazil, và Uruguay Do sảnlượng lúa gạo không cao nên năm 2013, Thái Lan cũng không đẩy mạnh xuấtkhẩu thêm lúa gạo so với năm 2012 Bên cạnh sự suy giảm về xuất khẩu gạotại một số nước, thì Ấn Độ có thể lập lại mức kỷ lục như năm 2012 các nước
Úc, Campuchia, Trung Quốc, Ai Cập, Pakistan, Paraguay và Hoa Kỳ cũngđược dự báo là kim ngạch sẽ tăng mạnh